Nepal Du Ký – Phần 3: Xưa cũ Bhaktapur

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 21-01-2011

4

Trở lại với bạn đọc trong bài tiếp theo của phần 3, trong buổi sáng sau khi thăm làng Changu Narayan, chúng tôi tiếp tục đến với đô thị cổ Bhaktapur – niềm tự hào của người Nepal – luôn được mệnh danh là Thành phố văn hoá Newari (The City of Culture)

Một đoạn tự trào phỏng thơ bác Bảo Sinh trước khi vô đề:

Đi xem đất nước Nepal
So ra gái đẹp thua xa nước mình
Còn như miếu mạo cung đình
Không xem cũng biết rằng mình kém xa …

Đôi nét lược sử đô thị cổ Bhaktapur: nằm trên con đường buôn bán nối liền Tây Tạng và Ấn Độ, Bhaktapur đã sớm có mặt trên bản đồ thế giới từ thế kỷ 12 dưới triều đại vua Ananda Malla; sau đó gần 500 năm, nơi đây trở nên hùng mạnh trù phú hơn, dấu tích dễ thấy nhất chính là quần thể Quảng trường cung điện (Dubar Square – tiếng Nepal ‘Dubar’ có nghĩa là ‘Palace’, hay ‘cung điện). Trong những lúc cường thịnh nhất của phố thị Bhaktapur, lịch sử đã ghi lại hơn 170 đền thờ miếu mạo cùng vô vàn chạm trổ điêu khắc kỳ thú trong quần thể thành phố và quảng trường. Ngày nay du khách đến Nepal sẽ có dịp chiêm ngưỡng những di sản văn hoá còn bảo tồn được giữa lòng Bhaktapur mà tuổi đời đã hơn vài trăm năm có lẻ.

Khu vực trung tâm của Bhaktapur là Dubar Square. Cụm từ ‘Dubar Square’ sẽ còn trở đi trở lại trong nhiều bài viết sắp tới, bởi xu hướng chung của các triều đại phát triển rực rỡ ở Nepal là xây dựng những quảng trường với nhiều công trình kiến trúc độc đáo, là sự phô diễn về sức mạnh, cũng là tôn vinh văn hoá Hy Mã. Kết quả là chúng ta sẽ có nhiều dịp đi bộ mỏi chân và lạc giữa các đền thờ và tượng tháp

Bác tài xế nhiệt tình đưa chúng tôi vào tận cổng chỉ chỗ mua vé kèm theo lời dặn cứ đi cho mỏi chân rã cẳng đi, 2 tiếng nữa mệt rồi thì quay ra! Lúc đầu tôi tưởng bác tài nói đùa vì không nghĩ Bhaktapur lại rộng đến mức đi bộ 2 tiếng mới xuể, nhưng phải hơn 2 tiếng sau tôi mới có thời gian nghỉ ngơi và kiểm chứng rằng mình đã … sai. Theo Cổng Sư Tử (Lion Gate, theo cách gọi của Lonely Planet – Nepal), chúng tôi rảo bước đi vào Bhaktapur giữa lúc mặt trời đã chói chang cận trưa:

Con đường đi vào có đoạn dốc lên thoai thoải, các bạn Nepal phóng xe máy vèo vèo trên đoạn này

Khung cảnh thanh bình bên ngoài cổng Lion Gate:

Giá vào cửa của Bhaktapur đắt kinh khủng! 750 NPR (~10 USD), là vé thăm quan đắt nhất toàn Nepal, trong khi đó giá cho các nước láng giềng như Trung Quốc, Bhutan, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Srilanka, Maldives thì chỉ có 50 NPR! Thẻ sinh viên quốc tế hay thẻ doanh nhân APEC hay thẻ xanh của Mỹ đều không có tác dụng ở đây …

Sau cổng soát vé Lion Gate là khuôn viên chính của Bhaktapur, nơi du khách sẽ gặp vô số những tượng đá lớn hay chạm trổ điêu khác trên gỗ, trên đá … mà tôi dù rất cố gắng nhưng vẫn bị bỏ sót không kịp ghi lại và tìm hiểu xem chúng tương ứng với vị thần nào hay truyền thuyết nào của đạo Hindu.

Quảng trường Dubar Square của Bhaktapur hiện ra giữa nắng trưa gay gắt nhưng cũng không ngăn được dòng người đổ ra đi bộ, phần vì mải mê chụp ảnh, phần vì ‘tiếc’ giá vé đắt mà phải đi cho bõ

Một vài hình ảnh các đền thờ khi đi bộ vào quảng trường:

Kedarnath Temple (đối chiếu theo bản đồ Lonely Planet – Nepal):

Bên trái quảng trường là Phòng trưng bày Nghệ thuật Nepal (National Art Gallery) – vé vào cửa 100 NPR + vé máy ảnh 50 NPR phải mua thêm:

Cổng vào bảo tàng bên trái là tượng sư tử đực và tượng Hầu vương Hanuman 4 tay có từ thế kỷ 17; bên phải là tượng sư tử cái và bức tượng thần Vishnu trong hoá thân Narasimha nửa người nửa sư tử (đã có dịp đề cập với bạn đọc trong bài viết về Changu Narayan phần trước):

Liền kề Gallery là cánh Cổng Vàng (Golden Gate hay Sun Dhoka) sẽ dẫn du khách vào Cung điện 55 cửa sổ (55 Windows Palace). Cánh cổng được trang trí cực kỳ đẹp với các hoạt tiết bằng đồng mạ vàng của Garuda – con vật cưỡi của thần Vishnu, các stupa cách điệu, sư tử, voi … cùng tượng nhỏ 4 đầu 10 tay của thần Taleju Bhawani – được coi là thần bảo hộ của vương triều Malla. Thoạt trông cánh cổng này ít ai nghĩ rằng nó đã được xây dựng từ thế kỷ thứ 17, đến nay đã hơn 400 tuổi!

Phía trước Golden Gate, ở vị trí trung tâm quảng trường là cột đá lớn, trên đỉnh là tượng thân đồng của vua Bhupatindra Malla, vị vua trị vì Bhaktapur vào thế kỷ 17:

Cột đá vua Bhupatindra Malla dựng ngay trước đền thờ đá Vatsala Durga mang phong cách kiến trúc Ấn Độ với quy mô không lớn nhưng chạm trổ rất cầu kỳ tinh xảo từ tầng đáy lên ngọn tháp:

Phía trên đền thờ là chuông lớn Taleju Bell dựng từ những năm 1737 để đánh những buổi cầu nguyện sáng và tối:

Đứng ở vị trí đền thờ đá Vatsala Durga nhìn sang bên phải du khách sẽ thấy giếng nước đá nằm liền kề với đền Pashupatinath thờ thần Shiva, đây là bản sao của đền thờ lớn Pashupatinath nổi tiếng của Nepal (nằm bên bờ sông Bagmati phía Tây thủ đô):

Nếu nhìn sang trái, du khách sẽ bắt gặp ngay 1 kiến trúc bắt mắt thú vị khác: tháp Chyasilin Mandap 10 mái:

Đi bộ tiếp, chúng tôi bắt gặp ngôi đền Siddhi Lakshmi bằng đá đặc trưng phong cách Bắc Ấn (Shikhara Style):

Xin cùng bạn đọc tản mạn đôi dòng về những kiến trúc thường gặp ở Nepal trước khi tiếp tục khám phá Bhaktapur kẻo mọi người sẽ thấy nhàm chán bởi quanh quanh các đền thờ cung điện đều có vẻ hao hao nhau Nằm gọn dưới chân dãy Hy Mã lại chịu ảnh hưởng đa phương từ những nền văn minh lớn như Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Tạng; Nepal dung nạp trong mình 1 sự đa dạng văn hoá mà thể hiện mạnh mẽ nhất chính là trong kiến trúc. Người ta chia kiến trúc chính ở Nepal ra 3 dạng lớn:

+ Pagoda Style: với mái chồng nhiều tầng, có thể thấy trong các công trình như Changu Narayan, giữa các Dubar Square của Bhaktapur, Patan, hay Kathmandu
+ Stupa Style: với cấu trúc dạng tháp luôn gặp trong Phật giáo Tây Tạng, thể hiện rõ nhất qua kiến trúc của đền Swayambhunath hay tháp Boudhanath của Nepal (sẽ được giới thiệu cụ thể hơn trong các bài viết tới)
+ Shikhara Style: được cho là bắt nguồn từ kiến trúc đền Hindu vùng cao nguyên Bắc Ấn. Đền Siddhi Lakshmi là 1 công trình như vậy; sự cầu kỳ của Shikhara Style thể hiện không chỉ trong kiến trúc ngôi đền mà còn là các bức tượng người và vật bằng đá chia ra xếp theo mỗi bậc thang lên đền:

Đối diện với đền Siddhi Lakshmi là dãy hành lang gỗ dài rất đẹp với cột kèo tinh xảo nhẵn bóng dấu thời gian:

Công cuộc thăm thú và chụp ảnh Bhaktapur của chúng tôi tạm thời gián đoạn thú vị vì những bạn nhỏ Nepal dễ thương đang nô đùa chơi trong khu vực này của quảng trường, gửi đến bạn đọc vài tấm ảnh ngoài lề:

Đi qua Siddhi Lakshmi, du khách sẽ đến 1 khoảng sân rộng khác kém phần hào nhoáng hơn, đánh dấu bằng cặp đôi sư tử đá có phần lạc lõng

Nổi bật nhất trong khu vực này là đền Fasidega Temple thờ thần Shiva có màu trắng toát, toạ lạc trên 6 tầng đế xây gạch nung đỏ, 2 bên bậc thang có đặt tượng voi, sư tử và bò rất oai vệ. Đây cũng là vị trí cao nhất trong quần thể Bhaktapur mà du khách có thể đứng ngắm quanh quảng trường.

Đồng hồ lúc này đã chỉ chính Ngọ, mải mê lang thang và chụp ảnh, chúng tôi đã tiêu tốn hơn 1 giờ đồng hồ. Đuối sức dưới trời nắng gắt, chúng tôi quyết định tránh nắng bằng cách đi xuyên qua các ngõ nhỏ nối khu vực Dubar Square với khu vực nổi tiếng thứ 2 của đô thị Bhaktapur: Taumadhi Tole. Bên trong các ngõ nhỏ này là các cửa hiệu bán đồ lưu niệm Nepal, quán ăn và nhà trọ dày đặc, thích hợp với du khách muốn mua sắm và nghỉ chân:

Quanh quanh bàn cờ, cuối cùng chúng tôi cũng đến được Taumadhi Pole; khác với không khí ở Dubar Square nơi toàn khách du lịch nước ngoài, nơi đây nhộn nhịp và sầm uất với sự hiện diện của người bản xứ đang tấp nập sinh sống bán buôn:

Nằm ở vị trí đắc địa và là quán lớn nhất có thể nhìn thấy giữa Taumadhi Tole là cafe Nyatapola, nhưng chất lượng phục vụ bên trong thì kém xa hình thức bên ngoài, khuyến cáo các bạn có dịp ghé qua Bhaktapur đừng nên phí tiền và thời gian ghé qua quán này

Chỉ vài bước chân từ cafe Nyatapola, du khách sẽ gặp đền Bhairabnath Temple cao 3 tầng, là nơi thờ Bhairab – hiện thân sức mạnh của thần Shiva:

Cái tên thần Shiva – Đấng huỷ diệt đã quá quen thuộc với bạn đọc vì đây là 1 trong 3 vị thần quan trọng nhất của Hindu giáo (Brahma, Vishnu, Shiva). Hiện thân Bhairab của thần Shiva không chỉ được thờ phụng bởi Hindu giáo mà còn xuất hiện trong Phật giáo, cụ thể là Phật giáo Tây Tạng. Tượng thờ Bhairab ở Nepal hoàn toàn tương đồng với bức tượng tôi có dịp chụp bên trong Thập Vạn Phật Tự (Kumbum) khi đi thăm trấn Gyantse, vùng Tsang của Tây Tạng lần trước; xin đăng lại ảnh bức tượng để bạn đọc tham khảo:

Bên cạnh đền Bhairabnath, nổi bật nhất giữa Taumadhi Tole là đền thờ Nyatapola Temple có cấu trúc tháp với 5 mái lớn vươn cao ngạo nghễ trên nền đáy 6 tầng cực kỳ đồ sộ; cũng là ngôi đền cao nhất toàn Nepal:

Đền Nyatapola tuân theo kiến trúc Pagoda Style, cũng là kiến trúc quan trọng nhất trong 3 hình thái lớn của Nepal bởi nó ra đời từ kết tinh của tài năng và sự sáng tạo miệt mài của người Nepal qua nhiều thời kỳ, đã phôi thai ra 1 phong cách độc đáo và biểu trưng cho đất nước họ. Cũng vì thế mà đi khắp Nepal, du khách sẽ thấy các đền thờ xây theo Pagoda Style chiếm số lượng lớn nhất; và bản thân Quốc kỳ Nepal cũng có hình dạng của Pagoda Style!

Người Nepal còn tự hào về sự du nhập của Pagoda Style vào Trung Hoa mà công đầu phải nhắc đến cái tên nghệ nhân Balabahu (hay Araniko) – người sinh vào thế kỷ 13, đã có công đưa 80 nghệ nhân khác vượt qua dãy Hy Mã Lạp Sơn, khi ông mới 17 tuổi, vào Trung Nguyên để xây dựng rất nhiều công trình kiến trúc di sản theo lời mời của hoàng đế Trung Hoa khi đó, không ai khác là Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt (Kublai Khan). Giai đoạn Hốt Tất Liệt tại vị (1260-1294) cũng chính là khi Tây Tạng đang ở kỳ Phật giáo Hậu truyền, thời gian mà tông giáo Tát Ca (Sakya Sect) – 1 trong 4 tông giáo lớn nhất của Phật giáo Tây Tạng – đang cực thịnh do có Nguyên triều bảo hộ (Xem thêm Tổng quan Phật giáo Tây Tạng đã đăng ở loạt bài cũ). Cùng lúc với Araniko vào Trung Nguyên gặp Nguyên Thế Tổ, lịch sử còn ghi nhận cái tên nhà thám hiểm người Italy Marco Polo đã du hành đến Trung Hoa. Phải chăng 2 con người kiệt xuất này đã gặp nhau giữa Bắc Kinh?

Ngày nay ở thủ đô Bắc Kinh vẫn còn tượng thờ Araniko. Tên của ông cũng được đặt cho đường phố ở Kathmandu. Và gần đây nhất, ở hội chợ Shanghai Expo 2010, trong tháp Nepal Pavilion có riêng 1 khu ‘Nepal Araniko Center’ vinh danh người nghệ nhân tài hoa này (Tham khảo thêm American Chronicles)

Trở lại với Taumadhi Tole của Bhaktapur, chúng tôi đi bộ xung quanh khu vực này ngắm nghía những kiến trúc mới cũ đan xen, những khung cửa sổ cầu kỳ tinh xảo, những gallery tranh màu sắc mạnh mẽ sống động mang phong cách cao nguyên độc đáo:

… Nhắm không nên nấn ná thêm nữa vì đã quá giờ hẹn với bác tài xế, chúng tôi rời Taumadhi Tole trở ra theo đường cũ, đi qua Dubar Square và ra khỏi Bhaktapur theo cổng Lion Gate trong tâm trạng vương vấn vì vẫn chưa khảo cứu được hết những di tích văn hoá bên trong đô thị cổ. Riêng tôi còn có 1 điều rất tiếc là không chọn mua một bức tranh bày bán ở đây để đem về làm kỷ niệm bởi biết đến bao giờ mới có dịp thăm lại Bhaktapur xưa cũ này …

Hình ảnh cuối cùng về Bhaktapur mà tôi chụp được trước khi lên xe rời nơi đây:

Tạm biệt thành phố văn hiến của thung lũng Kathmandu nơi lưu giữ niềm tự hào của người Nepal xuyên suốt nhiều thế kỷ, chúng tôi lại lên đường đến với Patan hùng tráng mà chi tiết xin hẹn bạn đọc ở bài viết lần sau ^^

Trên cao gió bạt tiếng eo sèo

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff | Posted on 11-04-2010

1

Nằm trong tuyển tập mới nhất “Hướng nào Hà Nội cũng sông” của nhà văn Hồ Anh Thái, Trên cao gió bạt tiếng eo sèo có thể xem là 1 bài viết nhẹ nhàng, thâm thuý với cái nhìn chân thực của ông về những điều mắt thấy tai nghe trong cuộc sống thường nhật, từ việc cáp treo đi Yên Tử cho đến việc xây dựng con đường gốm sứ sông Hồng; tất cả toát lên những nhận định khách quan đầy gợi mở và không kém phần thẳng thắn khi đánh giá những điều được và chưa được của người Việt Nam. Xin nhường lời cho bạn đọc thưởng ngoạn và phê bình

=====

Trên cao gió bạt tiếng eo sèo

Ngày tôi lên núi Yên Tử lần đầu chưa có cáp treo. Phải trèo. Chín giờ sáng bắt đầu ở chân núi, trèo lên đến Hoa Yên đã hơn một giờ chiều. Đến đấy đã thấm mệt. Tất cả quyết định sẽ nghỉ đêm tại Hoa Yên, sáng mai mới leo tiếp lên chùa Đồng.

Nghe nói đoạn trên này ngắn hơn nhưng dốc hơn đoạn đã qua bên dưới. Nhưng rồi đến bốn giờ chiều, anh em lại quyết định leo tiếp lên chùa Bảo Sái. Đã hồi sức. Vả lại cũng muốn rút ngắn bớt đoạn đường sẽ phải leo tiếp sáng mai. Đoạn từ Hoa Yên lên Bảo Sái quả là có dốc hơn, gian nan hơn đoạn bên dưới. Lên đến chùa Bảo Sái thì núi rừng đã tối sầm không còn nhìn thấy gì nữa. Chùa chật ních người đến ngủ trọ. Chúng tôi may mắn còn có chỗ, được xếp vào trong căn bếp của nhà chùa. Đêm ấy, cả toán nằm thẳng cẳng như xếp cá bên cạnh mấy bà già hành hương, tất cả khoảng hơn chục người, trong căn bếp ám đen bồ hóng.

Sáng hôm sau, tiếp tục hành trình leo núi. Quả thật là cao. Quả thật là dốc. Quả thật là thở phì phò và không thể đeo khoác mang xách gì được nữa. Tất cả trút hết sang người gánh thuê. Có những đoạn gần như dốc đứng, mắt người leo dưới chạm gót chân người trèo bên trên. Bám vào đá mà leo. Bám vào rễ cây mà leo. Xuống thì có lúc phải nằm bò ra, bám vào rễ cây mà thả dần người xuống. Trước đấy tôi đã nhiều lần đi chùa Hương. Không so sánh được. Có lẽ chỉ bằng một phần mười Yên Tử. Đoạn đường núi từ chùa Thiên Trù lên động Hương Tích, người ta đi dần dà khoảng bốn mươi lăm phút, thời ấy tôi đi vùn vụt chỉ ba mươi phút. Còn lên Yên Tử thì phải cắt ra làm hai ngày. Có người chỉ leo một ngày, lên đến chùa Đồng buổi tối cùng ngày, nhưng mà phải dồn sức và kiệt sức. Có người bị tim mạch, không leo tiếp được, phải dừng lại lưng chừng. Có người lên được đến đỉnh, nhưng khi xuống phải thuê người võng. Hai người địa phương gánh cái võng đã được bó chặt, trèo xuống. Những chỗ dốc đứng, cái võng trông như tử thi bó chiếu lủng lẳng chiều thẳng đứng bên bờ vực. Hàng năm vẫn có người trượt chân rơi xuống vực.

Thế mà vẫn hân hoan đi. Tươi cười đi. Người trên xuống động viên người dưới lên: Sắp đến nơi rồi. Những bà già lưng còng, phải trên dưới tám mươi tuổi, chống gậy leo như không, gặp nhau chào A Di Đà Phật. Sức mạnh của tâm linh.

Thanh niên thì thở như kéo bễ, bò lê bò càng. Vẫn đi. Nhìn lại trên người mình, không còn mang vác một cái gì. Nhìn sang người gánh thuê, tất cả tư trang của mình đã chạy sang bên ấy. Túi xách, ba lô… tất tật. Mình đi giày thể thao bó chắc vào chân. Chị gánh thuê chỉ đi dép lê. Quãng đường mình phải chia làm hai ngày để leo, có khi chị ta chỉ leo từ sáng đến trưa. Nếu trên đỉnh không có ai thuê gánh xuống thì tất bật trở ngay xuống chân núi để làm chuyến nữa. Một người buột miệng: Từ giờ đến chết không quay lại Yên Tử nữa, nếu như không có cáp treo. Chị gánh thuê xuýt xoa: Có cáp treo thì chúng em chết, một năm chúng em chỉ nhờ vào mấy tháng gánh thuê này thôi.

Chính trên đỉnh núi Yên Tử hôm ấy, tôi nhớ đến cái cáp treo lên xuống núi Linh Thứu Gridakuta ở Ấn Độ, nơi còn in dấu chân Phật. Đi thăm suốt ngày thành Vương Xá Rajgir, đến chân núi Linh Thứu thì cũng đã khá mệt. Sáng mắt lên khi nhìn thấy hệ thống cáp treo đưa khách lên thiền viện Nhật Bản trên một sườn núi. Ai trèo núi thì cứ trèo. Ai đi cáp treo thì cứ đi. Được lựa chọn là một đời sống dân chủ. Loại cáp treo ở Linh Thứu Sơn là chair lift, tức là mỗi người một cái ghế, không có lớp vỏ bọc xung quanh, cũng không có mái che. Cứ thế du khách trôi trên những mỏm núi, những ngọn cây, trần ra giữa nắng gió. Chỉ có một thanh sắt chắn ngang trước bụng để khách không tuột ra khỏi ghế. Cứ thế mà lên đến thiền viện Nhật Bản, rồi lên đến đỉnh núi còn dấu tích Phật ngồi thiền. Đấy là nơi Người nhìn thấy vua Bimbisara bị con trai tiếm quyền, bắt giam trong một hang núi phía bên kia. Đấy là nơi Devadatta sai một người lính lên ám sát Phật. Anh lính được cảm hóa, việc ác không thành. Sau đó Devadatta còn cho người lăn một tảng đá to xuống nơi Phật ngồi đây, nơi hệ thống cáp treo bây giờ đang đưa du khách lên.

Hôm anh bạn buột một câu trên đỉnh núi Yên Tử về chuyện cáp treo, ai cũng nghĩ mơ tưởng hão huyền vậy thôi. Còn lâu. Thế mà chỉ ít năm sau, báo chí đưa tin về dự án xây dựng hệ thống cáp treo Yên Tử. Thôi thì bao nhiêu lời bàn vào bàn ra. Bao nhiêu tiếng kêu phản đối của nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ, nhà khoa học. Người ta còn viện đến yếu tố tâm linh. Đến với tâm linh là phải đổ mồ hôi nước mắt, là phải mỏi gối chồn chân mới bày tỏ được lòng thành kính và niềm tin. Người ta còn viện đến khả năng báng bổ đất Phật khi cho khách ngồi trên cáp treo mà bay trên đầu trên cổ Phật tích và người hành hương. Rồi lý do làm hỏng cảnh thiên nhiên, làm hỏng môi trường, làm mất mỹ quan…

Sao vậy nhỉ? Những tưởng giới văn nghệ sĩ, giới khoa học phải xử sự ngược lại. Họ đúng ra phải là những người háo hức cái mới, làm ra cái mới, và hân hoan đón chào cái mới. Không mới sao có sáng tạo, có phát minh? Không mới sao có sinh sắc cho đời sống, cho nghệ thuật, cho khoa học? Giá mà có một phản ứng tưng bừng phấn khởi với cáp treo Yên Tử, chùa Hương, Bà Nà, Nha Trang, Đà Lạt… Giá mà có một không khí tưng bừng reo vui với những công trình mới, phát minh mới, tác phẩm mới, sản phẩm mới… Động viên khích lệ nhau làm cái tốt cái hay cái đẹp cái mới. Người sáng tạo thế mà đơn độc lắm, họ rất cần sự cổ vũ, động viên. Người sáng tạo thế mà nhạy cảm lắm, họ rất cần được tránh cho những tổn thương.

Thì cứ coi những tiếng la ó kia là phản biện. Nhưng phản biện là để thận trọng hơn, lật qua lật lại vấn đề nhiều lần hơn, xem xét và đánh giá kỹ hơn, làm cho công trình hoàn chỉnh hơn. Phản biện đâu phải là nhằm mục đích xóa bỏ. Hoàn toàn. Không phải là chữa bệnh mà rạch thêm một nhát cho chết hẳn, chết đứ đừ. Không phải góp ý mà là rủa xả mạt sát. Phê bình cuốn tự truyện của một nghệ sĩ theo cách phát động quần chúng đấu tố, không phân biệt được rằng phê bình tự truyện (nhân vật trung tâm là một người có thật) phải khác với phê bình một tác phẩm hư cấu (với nhân vật hư cấu). Phê bình con đường gốm sứ bên sông Hồng, cũng đi đến mạt sát rằng người ta “đang bôi bẩn những bức tường”.

Vui nhỉ, khi tháp Eiffel vừa mới dựng lên ở thành Paris, cũng bao nhiêu tiếng gào thét phản đối “con quái vật bằng sắt” xấu xí.

Tôi thì lại thấy cuốn tự truyện kia thật đúng là tự truyện. Bởi lẽ hơn nửa thế kỷ qua ở ta hầu như không có tự truyện hoặc hồi ký đúng nghĩa. Hầu hết đều là những chiếc gương nịnh mặt, soi vào đấy, các nhân vật đều mịn màng, đẹp đẽ, không tì vết. Cuốn sách kia trở thành một tác phẩm hiếm hoi vì nó chân thật, từ một nhân vật mà nhìn thấy được thời đại, lại được chuyển tải bằng văn chương đúng nghĩa.

Tôi nhớ con đường gốm sứ ở thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Nơi trước kia có một con suối bùn rác, người ta phủ bê tông lên trên, làm một con đường, rồi xây một cái cầu vượt phía trên con đường ấy. Đấy là cái giá của sự phát triển đô thị thời kỳ đầu. Mấy chục năm sau, khi đã phát triển, người ta lại quyết định phá cái cầu vượt chắn mất tầm nhìn và thiếu mỹ quan, bóc con đường bê tông lên, khơi lại dòng suối. Như một con kênh. Nước chảy róc rách, hai bên kè bằng những tảng đá, trồng cỏ và lau sậy. Nó trở thành con đường đi bộ đẹp và tự nhiên. Hai bên suối là con đường gốm sứ, mới chỉ gần 200 mét. Bức tranh đức vua Jeongio viếng mồ phụ mẫu. 1700 nhân vật và 800 con ngựa. Một lễ rước tưng bừng, những nghi thức hoàng cung, những tập tục bình dân, trang phục của một thời đại được tái hiện. Đi hết bức tranh, dọc theo dòng suối mà đi tiếp, ta sẽ gặp những nghệ sĩ đường phố. Một cây ghi ta, một dàn trống, đôi ba nhạc cụ dân tộc, một người hoặc nhiều người, họ hát lên những bài ca của mình.

Con đường gốm sứ của ta chưa sánh được. Nhưng mà mấy chục cây số ven sông Hồng, thay cho những bức tường xám loang lổ, giờ là những hình ảnh vui mắt. Không cao siêu gì, thậm chí còn những hình ảnh đơn giản, thô sơ, những biểu trưng lồ lộ của nhà tài trợ. Phản biện là đúng, cần lắng nghe phản biện để điều chỉnh, sửa chữa. Nhưng phản biện hung hãn và cay nghiệt như chỉ nhằm mục đích hủy diệt thì có còn là phản biện? Những lúc ấy, lại cứ thầm nhủ trong lòng, như là đang hô to lên động viên những người thực hiện: Chớ dừng tay, chớ ngừng lại, tiếp đi, làm tiếp đi.

Nhìn ra rõ ràng trong những người phản đối, có cả những họa sĩ. Xin hãy phủ định tác phẩm này bằng một tác phẩm khác. Phân tích, bình luận, phê phán, chỉ bằng lời thôi thì dễ dàng quá. Sao nhỉ, sao mấy vị chê bai có chuyên môn ấy không tự nguyện đến nhập cuộc, tham gia vào, mỗi vị nhận lấy mấy mét tường, đây là cơ hội để bày tỏ khả năng sáng tạo và trách nhiệm công dân của họa sĩ? Và bắt tay vào làm cũng là cách phủ định những cái mà mình cho là chưa hay. Chắc là chính quyền và dân chúng sẽ nhìn các vị một cách khác.

Nhưng thực tế đã chứng tỏ người làm việc có nhiều, và người không làm việc nhiều hơn. Ngồi sẵn đâu đấy trong những công sở, những xa lông, những tiệm ăn, quán cà phê, bãi bia, thậm chí giữa đông đúc chợ người. Ai đi qua là bình phẩm. Ai làm ra một cái gì là chê bai. Một tinh thần nhàn rỗi không chịu làm việc. Một tinh thần tự ti ngược, ngược tức là không làm nổi, nhưng lại ra vẻ không có gì đáng làm. Một tinh thần ngoại đạo nhưng tự cho rằng mình có thể góp ý về mọi lĩnh vực. Một tinh thần đồng nghiệp, khi không làm được nữa thì chê những người đang làm. Một thực tế khá phổ biến: trong một cơ quan, ai cũng thao thao những ý tưởng hay ho, cứ như nếu mình thực hiện thì mọi thứ đều đỉnh. Nói nghe thì hay. Nhưng vấn đề là chỉ thiếu người làm. Bây giờ tìm cho ra người thực hiện mới khó. Tìm người nói hay thì không khó.

Vậy thì đứng lên nào, động chân động tay lên nào, hò dô ta. Ta xây nhà làm đường, xây cáp treo, tàu điện ngầm. Ta phát minh sáng chế. Ta làm kinh tế, làm nghệ thuật, làm văn chương. Thêm một cái mới là thêm một cái quý. Vừa phải thôi, khiêm nhường thôi thì cũng quý. Ta phê bình phản biện để cho nó mới hơn, tốt hơn, không phải để tiêu hủy, để đập bỏ, để chắn ngang đường.

Bây giờ Yên Tử đã có cáp treo. Đoạn đường từ chân núi lên lưng chừng Hoa Yên leo bộ mất ba bốn tiếng đồng hồ, giờ đây đi cáp treo chỉ mười lăm phút. Người già cả có cơ hội. Người bệnh khớp bệnh tim có cơ hội. Người tàn tật thiệt thòi có cơ hội. Ở những xứ phát triển, nếu xây cao ốc mà không xây đường dành riêng cho người ngồi xe lăn thì sẽ bị phạt. Từ Hoa Yên, sắp tới cũng sẽ có cáp treo lên đến tận đỉnh. Loại chair car hay cable car, ngồi trong cái lồng kính bao bọc, không ngại mưa gió. Cái cáp treo lên đất Phật là cơ hội cho mọi người.

Tôi thì vẫn trèo chín trăm mét còn lại lên đến chùa Đồng. Đi qua rừng trúc ướt đẫm sương, mù mịt sương. Gió lộng bạt cả tiếng người. Sương và mây đều bay. Không khí nghìn năm còn nguyên đấy. Không khí tâm linh còn nguyên đấy.

=====

Dục vọng trong tiểu thuyết chiến tranh VN

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff | Posted on 16-03-2010

4

Thập kỷ văn học Việt Nam thời hậu chiến 1986 – 1996 ngoài những mảng sáng tối về chiến tranh khốc liệt máu lửa, những phút giây bi tráng của mỗi cá nhân trong bức tranh chung của dân tộc vẫn còn có một góc nhỏ nhạy cảm nhưng không kém phần quan trọng – cái tôi dục vọng đầy bản năng, hiện thực, và cấp thiết. Bài viết này xin được đăng bài báo của tác giả Nguyễn Thị Xuân Dung (nguồn: eVan) viết về chủ đề này với cái nhìn sâu rộng khoáng đạt hơn, cũng là điểm qua một vài tác phẩm thuộc loại “nóng” của một thời ^^ (Các hình ảnh được thêm vào để minh hoạ bởi YILKA, tác giả gốc giữ bản quyền nội dung).

=====

Dục vọng trong tiểu thuyết VN về chiến tranh từ 1986 đến 1996

(Nguyễn Thị Xuân Dung)

Tình yêu là vấn đề muôn thuở của văn học nghệ thuật. Nhưng đằng sau lớp vỏ ngôn từ, tình yêu thường không chỉ hiện ra trong vẻ đẹp thanh khiết, linh diệu của trái tim, của tâm hồn mà bao giờ cũng được gắn liền với tình dục, với những yếu tố thuộc về bản năng và ham muốn đời thường. Điều này cũng tương đối dễ hiểu, vì theo triết lý nhà Phật, dục tính chính là nhân tính. Con người bao giờ cũng muốn phóng khoáng, tự thỏa mãn nhưng ít khi dám nhìn thẳng vào bản thân và đối diện với chính mình. Họ ngượng ngập tìm cách che giấu dục vọng, kìm nén nó để vững tin bước qua ranh giới của luân lý xã hội. Nhưng chính lúc gạt bỏ luân lý để sống cho bản năng, cho dục vọng của mình, con người mới thực sự là con người theo đúng nghĩa. Trong văn học nói chung, có những tác phẩm từng bị xem là “dâm thư” nhưng lại có giá trị và sức sông vĩnh hằng, chứa đựng cả vấn đề văn hóa xã hội, cả triết lý sống và hệ giá trị chuẩn mực của con người như: Nghìn lẻ một đêm, Hồng lâu mộng, Kim Bình Mai, Truyện Kiều

Trước 1975, do hoàn cảnh đặc biệt của chiến tranh, chúng ta đã tiếp thu tư tưởng Nho giáo trước đây về mẫu hình người quân tử “sát thân thành nhân”, “xả sinh thủ nghĩa” để đưa ra khẩu hiệu mới “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của người chiến sĩ cách mạng toàn tâm hướng vào mục tiêu phục vụ tổ quốc. Theo đó, văn học thời chiến bao giờ cũng miêu tả người lính trong thái độ khắc kỷ, không suy nghĩ cho riêng bản thân mà bao giờ cũng sống cho cộng đồng, chết cho Tổ quốc. Tình cảm của họ gắn liền và đại diện cho những tình cảm lớn lao, vĩ đại của toàn dân. Vì vậy, với hình dáng của một thánh nhân, người lính trong tiểu thuyết viết về chiến tranh trước năm 1975 thường bị gạt bỏ đi những gì thuộc về đời sống riêng tư, tình cảm cá nhân, những vấn đề thuộc về bản năng lại càng bị cấm kỵ.

Sau 1975, chiến tranh đã kết thúc và trong sự nhìn nhận, đánh giá, chiêm nghiệm về “những ngày tháng đau thương nhưng huy hoàng” đó, tiểu thuyết về chiến tranh đã chạm đến những vấn đề thuộc về đời tư, bản nhiên của con người. Đặc biệt là từ sau 1986, trong tinh thần đổi mới, cùng với sự thay đổi quan niệm về hiện thực chiến tranh cũng như quan niệm nghệ thuật về con người, những yếu tố của đời sống cá nhân ngày càng được đào sâu hơn và trở thành một đề tài nóng bỏng thu hút sự quan tâm của các nhà văn.

Chiến tranh là sự cô đặc của cuộc sống và tất cả những biểu hiện của cuộc sống đời thường đều có thể tìm thấy trong chiến tranh. Ở đó con người sống mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, gấp gáp hơn. Họ ít có thời gian để cân nhắc, lựa chọn kỹ càng cho một hành động, nhất là ở những thời khắc giao thời, ở ranh giới giữa sự sống và cái chết, sự bộc lộ và hướng về cái bản năng, cái tự nhiên là một điều dễ hiểu.

Trong Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), bên cạnh phẩm chất anh hùng, người lính còn có những khao khát rất đời thường. Cái thiêng liêng, hào hùng và cái dục vọng, tầm thường cứ đan xen, trộn lẫn vào nhau trong mỗi con người. Tám Tính đánh giặc kiên cường là thế nhưng cứ “đến giờ mụ mị. Không biết nói, không biết đẩy đưa, tán tỉnh, chỉ biết thèm, biết ào ào bươn tới. Cứ thấy hơi hướng đàn bà, bất kể già trẻ lớn bé, miễn là có da có thịt là tâm thần bấn loạn, mắt nhìn như lồi ra, toàn thân cứng ngắc như bị thôi miên, như bị hóa thạch, như cái dáng ngồi lì lợm kia. Ngồi rất lâu, ngồi im lìm, chẳng ho hắng, chẳng ngọ nguậy, chỉ thở, chỉ như rên. Rồi vào một thời điểm nào đó lý trí mất hoàn toàn khả năng kiểm soát, không đắn đo, không nghĩ ngợi, không cần biết đối tượng là ai, hậu quả gì sẽ xảy đến …”. Cái tật mê gái, “vồ” gái tưởng như rất tầm thường và thô tục ấy lại chính là cội nguồn sinh lực, làm sống dậy và bùng lên khát vọng sống, khát vọng làm người của nhân vật này. Mặc dù bị thương rất nặng, tưởng như không thể qua khỏi sau một trận đánh, nhưng nhờ sức quyến rũ của màu trắng và mùi thơm từ bộ ngực cô y sĩ mà Tám Tính đã có được một sức sống kỳ lạ, để suy nghĩ và vượt qua cái chết: “Cuộc đời còn đang đẹp thế, đàn bà con gái còn đang nhiều quá trời, thơm tho thế, chết uổng lắm, ráng mà sống, sống què quặt cũng được …”.

Và cũng rất bình thường khi nhà văn miêu tả nỗi khao khát tình dục đau đớn và nghiệt ngã của Khiển, một chàng ngư dân hai mươi mốt tuổi đầy nhiệt huyết, phải xa người vợ mới cưới để vào chiến trường, lầm lũi, cô đơn cất giấu và mở ra cho riêng mình những kỷ niệm đặc biệt của những giây phút vợ chồng. Vì thế, “những vật thể lỏng màu trắng đục từ mép võng tia nhẹ xuống thảm lá rừng khô cũng như bàn tay thẫn thờ của Khiển nhặt mấy chiếc lá khô khác đậy điệm kỹ càng lên cái vật thể đó như thể chôn cất rồi vật mình nằm ngửa ra, mặt nhìn xuyên qua vòm lá vào bầu trời chan hòa ánh nắng, buồn rười rượi …” không phải là hình ảnh của cái xấu mà chính là một ham muốn rất bình thường thấm đẫm nước mắt, thấm đẫm nỗi đau của con người. Cái vô lý, cái tàn bạo của chiến tranh đã làm hợp lý hơn những khao khát trần trụi của họ.

Chiến tranh tàn phá về vật chất, gây nên những mất mát đau thương trên thân thể, trong tâm hồn, nhưng trước hết và trên hết, nó đã làm ức chế, tước đoạt những nhu cầu tự nhiên nhất của bản năng con người. Thèm khát để thỏa mãn nhu cầu trong hoàn cảnh khó khăn và thiếu thốn đến kinh khủng ở ranh giới mỏng manh giữa sự sống và cái chết thì không bao giờ đáng trách.

Chuyện tình ngắn ngủi của Tuấn và Thu vội vàng, nông nổi nhưng vô cùng mãnh liệt và dữ dội. Nếu theo tư duy nhìn con người dưới góc độ thánh nhân như trong tiểu thuyết trước năm 1975, mấy ai chấp nhận được lời thú nhận vô tư, chân thành mà… tội lỗi của Tuấn: “Em đã phải dùng cả hai tay nắm chặt đầu dây võng đu rướn người lên. Mỗi lần rướn là mỗi lần đưa cả thân hình Thu lên theo tới nửa mét. Rồi lại buông xuống. Cứ thế rướn rồi buông, buông rồi lại rướn, hai đứa miết vào nhau, quay cuồng đảo lộn, thây kệ cho vải võng kêu như pháo rít. Mà pháo có rít thật lúc ấy cũng mặc, thậm chí nếu anh có đứng bên cạnh và quát: “Đồng chí Tuấn! Tôi sẽ khai trừ Đảng đồng chí!” thì em cũng đành để bị khai trừ quá!”.

Sự bùng dậy của bản năng đã làm sống thêm một tình yêu, đẹp hơn một tình người, cao quý hơn lòng hy sinh và đau hơn nữa những nỗi mất mát. Mặc cho kẻ địch truy lùng, mặc cho cái chết đang đe dọa, mặc chiến tranh, mặc súng đạn, tình yêu giữa Hai Hùng và Ba Sương vẫn ngọt ngào và thắm thiết; trong căn hầm bí mật, nơi sự sống mong manh và cái chết gần kề, họ đã trao cho nhau giây phút dịu ngọt và tuyệt vời nhất: “Buổi sáng hôm đó, với tất cả sức lực của tuổi trẻ, của mười năm dồn nén, của hết thảy những khổ đau, mất mát và dịu ngọt đã trải qua, sắp trải qua hay không bao giờ còn dịp được trải qua nữa, chúng tôi, hai sinh vật của thời loạn đi vào nhau trọn vẹn, đam mê tột cùng và ngậm ngùi tột độ …”.

Khi đã yêu thực sự, trong tâm tưởng ai chẳng có khao khát được hiến dâng cho nhau trọn vẹn, ai chẳng muốn dành cho nhau thời khắc tột cùng của hạnh phúc? Họ đã đi vào nhau chính lúc cái chết đang treo lơ lửng trên đầu, chính khi con người không thể tự tin vào sự sống của ngày mai, họ trao cho nhau tất cả để mà vực dậy và động viên nhau vượt qua nguy hiểm, chính bản năng đã khơi dậy sự sống và làm cho tình yêu nở hoa.

Đọc Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), mấy ai có thể quên chuyện yêu đương kỳ lạ của phân đội trinh sát với ba cô gái Mây, HBia, Thơm thuộc khu trại tăng gia huyện đội 67 bị bỏ quên bên kia núi truông Gọi Hồn. Họ tìm đến với nhau, cùng nhau thỏa mãn nhu cầu dục vọng nhưng cũng là để gieo cho nhau sức mạnh và niềm tin trong cõi chết, trong thẳm sâu bất tận của “cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới bạt sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người”. Chuyện của họ lạ lùng đến bất ngờ, bản năng nhiều hơn tình yêu: “không phải là cả phân đội, cả mười ba người, song cũng không phải chỉ có ba cái bóng nhất định nào đấy trong bấy nhiêu đêm” nhưng vì thời buổi chiến tranh là thời buổi ngược đời nên những chuyện khủng khiếp nhất vẫn có thể xảy ra và con người phải chấp nhận nó một cách bình thường để tiếp tục sống và tiếp tục chiến đấu.

Câu chuyện tình “bi thảm và mông muội” của họ đã làm cho Kiên “đau đớn, vừa xót thương, vừa giận, tủi, ngờ vực và lo sợ”, để rồi nó lại thôi thúc ở mỗi người đọc phải nhìn nhận lại cho kỹ càng hơn sự khốc liệt và nghiệt ngã mà mỗi con người trong chiến tranh phải gánh chịu. Cái đói, cái rét, cái chết, sự thiếu thốn về vật chất, về tình yêu… đã khiến những người lính thèm khát biết bao những giây phút ngọt ngào của kỷ niệm, dù chỉ là giấc mơ, dù chỉ là giả dối nhưng họ vẫn khao khát được đắm chìm, đê mê trong những thời khắc tuyệt đẹp ấy.

Kiên và đồng đội sấy bông hoa hồng ma kỳ bí trộn với thuốc rê để hút, để được nhập thân hoàn toàn, ngụp lặn trong những giấc mơ bí ẩn và tráng lệ mà lúc bình thường tâm hồn chẳng thể với tới. Trong những ảo giác mà khói hồng ma đem lại, họ có thể “quên mọi nông nổi đời lính, quên đói khổ, chết chóc, quên béng ngày mai” và họ được trở về với những ước mơ của chính họ, được chiếm hữu những gì còn thiếu thốn và luôn hau háu chờ đợi. Bản thân Kiên được trở về với Hà Nội cổ kính và tráng lệ, với những kỷ niệm về Phương – mối tình đầu trong sáng và tươi đẹp. Còn đồng đội của anh thì “mỗi người mỗi kiểu say sưa mơ màng trong khói hồng ma. Mỗi người mỗi lối đi lạc khỏi thực cảnh chung. Như Cừ thì rượu sắn hay hồng ma đều chỉ khuấy lên độc một cảnh tượng ủy mị, khó tin của ngày trở về với những sum họp đoàn tụ dễ chịu đến nỗi nghe Cừ kể lại ai cũng rớt nước mắt với hắn. Còn Vĩnh thì chỉ rặt mơ thấy đàn bà, và hắn thường xuyên khoái trá tả thực cho anh em nghe về những cuộc làm tình tưởng tượng vô cùng tham lam, phức tạp rất ngóc ngách, đầy kỳ thú và sống sượng với chị em huyền thoại của hắn. Còn Tạo “voi” lại đặc biệt hay mơ sự ăn uống. Không chỉ mơ được ăn no, Tạo còn vẽ ra trong đầu những mâm cỗ ăm ắp những món ăn béo bở do tâm thần mộng mị của hắn bịa tạc nên”.


Giấc mơ – tranh sơn dầu của Nguyễn Quang Thiều

Người ta thường mơ về những điều xa vời không có thực trong cuộc sống, giấc mơ của những người lính đã khắc họa rõ nét sự thiếu thốn đến kinh hồn, sự thèm khát đến cháy bỏng những nhu cầu bình thường nhất trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy. Vì thế, đến với hoa hồng ma là một bản năng nhưng thông qua đó để con người ta hướng về những khao khát của tính người và tình người. Họ đã nghiện hút – một hành động không lành mạnh để truy lùng một đời sống lành mạnh, vui vẻ và hạnh phúc. Ngay chính Kiên, người lính may mắn được sống sót trở về trong ngày hòa bình thì trên chuyến tàu xuyên Việt năm 1976, trong sự sống dậy và điều khiển của dục vọng anh đã tìm thấy những giây phút hạnh phúc cuối cùng của đời lính bên cô thương binh Hiền như một sự bù đắp, khi con người ta choáng váng và có cảm giác chưa thoát ra khỏi sự khắc nghiệt của chiến tranh: “Suốt đêm, trong nhịp tàu dồn dập lắc lư, mặc kệ rằng xung quanh lính tráng đùa cợt trêu chọc, hai người thoải mái ôm xiết lấy nhau mà ngủ, cùng nhau nói mê, thỉnh thoảng thức dậy càng ôm chặt nhau, thỏa sức hôn hít nhau, sống gấp lên với nhau những cây số cuối cùng còn vương lại của tuổi thanh xuân chiến hào”. Những con người như thế, những hành động như thế cần ở chúng ta sự thông cảm hơn là chê cười và trách móc.

Trong Những mảnh đời đen trắng (Nguyễn Quang Lập), những câu chuyện “rối rít đực cái muôn đời” được tác giả miêu tả rất nhiều nhưng bao giờ gắn liền với nó cũng là vấn đề đạo đức, vấn đề tình người. Chẳng hạn như nói về mối tình của Hoàng và Thùy Linh, Đại úy Thìn đã vô cùng sửng sốt, “mắt trợn ngược lên” nhìn vào cái cảnh mà ông không thể tin nổi: “Hai đứa trẻ hỷ chưa sạch mũi đang trần truồng trước mắt ông. Cái gì thế? Cái gì thế? Vú và đùi, mông và mông trắng đầy trên cái giường cưới của vợ chồng ông. Môi đứa này áp vào má đứa kia, bốn cánh tay trần cuốn lấy nhau chặt khư“.

Nhưng cuộc giao hoan điên dại của Hoàng và Thùy Linh chính là một cách để họ chống trả lại nỗi cô đơn khủng khiếp đang phủ kín lên tâm hồn mỗi người. Chiến tranh và sự tham gia của con người vào chiến tranh đã để lại những khoảng trống tình thương quá lớn, cái tai họa sau lưng chiến tranh gieo vào con người nỗi cô độc đến lạnh lùng, sẽ đau đớn như thế nào nếu nỗi buồn và sự cô đơn lạc lõng của con người đã đi đến tột cùng nhưng không thể tìm kiếm sự chia sẻ, cảm thông của bất cứ ai khác. Khi đó, sự chống đỡ duy nhất con người ta có thể làm, không phải là cách tốt nhất nhưng là cách đơn giản nhất và cũng dễ được thông cảm, là trở về sống với cái bản năng của chính mình, ở đó vừa có sự thiêng liêng vừa có sự hèn hạ, nhưng nó cho con người cảm giác được thỏa mãn, được hạnh phúc, được sẻ chia.

Hay trong Bến không chồng (Dương Hướng), sự kết tụ và ngưng đọng đến mức dày đặc, không thể giải tỏa của nỗi buồn, nỗi cô đơn khi một người đàn bà trẻ đẹp, đang ở tuổi xuân xanh căng tràn nhựa sống phải sống xa chồng, lầm lũi trong cảnh bặt vô âm tín do sự chia cắt của chiến tranh, đã giày vò Hạnh, xé nát trái tim cô. Cảnh nổi loạn của Hạnh ở “Bến không chồng” là sự thấm thía, xót xa cho cuộc đời thụ động chỉ biết chờ đợi và hy vọng vào cuộc chiến tranh tàn bạo và vô lý ấy. Hạnh ngâm mình dưới “Bến không chồng”, để mặc cho thân xác cô cuồng loạn trong nỗi khát thèm nhục dục: “Cơ thể lâu ngày khô héo bỗng rạo rực, ngập tràn hưng phấn. Hạnh vùng vẫy, quẫy đạp trong ham muốn làm tình với nước”. Đó là giây phút của bản năng, còn sau đó Hạnh vẫn là một người phụ nữ thủy chung thủ tiết chờ chồng. Ở đây, chiến tranh không hủy diệt được sự son sắt và vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.

Với Nguyễn Vạn, con người muốn làm mực thước, làm thánh nhân để xứng đáng với sự ngưỡng mộ của dân làng và đã hy sinh một đời cho ảo tưởng đó trong cuộc sống khắc kỷ đến ngốc ngếch, cũng không thể thoát khỏi sức cuốn mạnh mẽ của bản năng: “Nguyễn Vạn bàng hoàng cả người không hiểu mình đang mơ hay tỉnh. Men rượu vẫn nung nấu trái tim làm tâm trí Nguyễn Vạn quay cuồng. Da thịt đàn bà nần nẫn trong vòng tay và hơi thở đầy dục vọng phả vào mặt Vạn. Sự ham muốn của Nguyễn Vạn lần này còn mãnh liệt hơn lần Vạn chạm vào ngực mụ Hơn. Vạn buông thả cho thân xác tự do gây tội lỗi, tự do rên xiết trên thân thể rừng rực của người đàn bà. Lần đầu tiên trong Vạn thấy sung sướng cực độ và quên hẳn mình. Mưa gió vẫn ràn rạt ngoài cửa …”.

Phần người, phần bản năng đã chiến thắng phần thánh nhân của Vạn – con người ta không thể mãi mãi ép xác theo lý tưởng và ảo tưởng của mình. Phút giây bản năng trỗi dậy là khi Nguyễn Vạn sống bằng dục vọng, sống cho dục vọng nhưng không phải là lúc Nguyễn Vạn bị trụy lạc mà đó chính là thời khắc anh được làm người – một con người đúng nghĩa.

Tình yêu muôn đời không có tội, chỉ có những thế lực cản trở tình yêu mới là tội lỗi. Bản năng của con người cũng đáng được thông cảm khi họ bị đặt vào một hoàn cảnh quá nghiệt ngã và tàn khốc, khi con người không thể dự đoán và tự định đoạt cho số phận của mình.

Trong tiểu thuyết viết về chiến tranh từ 1986 – 1996 ta thấy hầu như tác phẩm nào cũng có đề cập đến chuyện bản năng, tình yêu – tình dục của con người và thể hiện nó một cách tự nhiên, chân thực. Điều đó càng phản ánh rõ hơn bộ mặt trần trụi của chiến tranh và số phận khốc liệt của con người trong hiện thực tàn bạo ấy, qua đó hợp lý hóa đời sống bản năng của con người, đề cao nó trong một tinh thần nhân văn cao đẹp; lên án, phê phán chiến tranh là một thế lực phi nhân tính đã tước đoạt, cướp mất của con người quyền được sống với chính những nhu cầu bình thường và thiết yếu của họ.

So với giai đoạn trước đây, đó là một biểu hiện mới, một cách tân mới của tiểu thuyết về mặt quan điểm khi viết về cuộc chiến tranh đã qua. Dục vọng và bản năng của con người được miêu tả đầy rẫy trong chiến tranh nhưng không phải để phê phán con người mà là để tố cáo chiến tranh với sức tàn phá, hủy diệt ghê gớm của nó, không cho con người có quyền được sống như chính họ mong muốn và khao khát. Vì thế đó là một biểu hiện của tư tưởng nhân văn cao đẹp, một tiếng nói cho khát vọng con người

======

An Nam lý học hữu Trình Tuyền

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff | Posted on 04-03-2010

4

Nếu được hỏi danh nhân văn hoá nào trong lịch sử Việt Nam vừa nổi tiếng về thơ văn, tài lương đống đức chuyên cần, lại tinh thông thuật số thì có lẽ câu trả lời chỉ có một mà thôi, người đó ắt hẳn là Tuyết Giang phu tử Bạch Vân cư sĩ Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông (1491) tại làng Trung Am huyện Vĩnh Lại, Hải Dương; nay là làng Trung Am xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Ông mất năm Đinh Dậu thời nhà Mạc (1585), hưởng thọ 94 tuổi. Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh trưởng trong một danh gia vọng tộc, thân phụ ông là Thái bảo Nghiêm Quận công Nguyễn Văn Định và thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục.

1. Tuổi thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trạng Trình tên lúc nhỏ là Nguyễn Văn Đạt. Mẹ ông bà Nhữ Thị Thục là người làng An Tử Hạ, huyện Tiên Minh, xứ Hải Dương (nay thuộc xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng). Người đời cho rằng bà là người có ảnh hưởng lớn lao đến sự trưởng thành của Văn Đạt – người mà sau này là danh nhân đất Việt: Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sinh thời bà có dòng dõi khoa bảng, tự bản thân lại thông minh học rộng, giỏi văn chương, thông kinh sử, tường lý số, biết thiên văn, đảm lược và có ý chí của bậc trượng phu. Cố giáo sư sử học Trần Quốc Vượng nhận xét: Bà Nhữ Thị Thục là một trong ba người phụ nữ nổi tiếng, tài trí hơn người của Việt Nam ở thế kỷ XVI (Trạng nguyên Linh phi Nguyễn Thị Duệ – nữ Tiến sĩ đầu tiên của nước ta, Quận công Nhữ Thị Thuận, và phu nhân Nhữ Thị Thục). Dân gian kể bà còn là bậc nữ lưu phong vận tài hoa vào bậc nhất chốn kinh kỳ thời bấy giờ, khi trẻ tuổi thì ngao du sơn thuỷ, thờ ơ với ông nghè ông tổng, bởi chí bà cho rằng những người đó cũng chỉ thi đỗ rồi làm công hầu mà thôi.

Thế rồi chỉ một lần gặp gỡ với ông đồ Nguyễn Văn Định, bà đã tự nguyện gá nghĩa. Bà đến với ông Định chỉ vì nhận thấy ở ông có tướng sinh quý tử, chồng bà nếu không phải là vua thì sinh con ra cũng phải làm vua! Bà cũng đoán trước ngay từ thời nhà Lê còn cực thịnh rằng bước đường suy vong của triều Lê chẳng còn bao xa. Nhưng rồi thực tế không như bà mong muốn, con bà sau này chỉ là trạng nguyên, vì thế mà vợ chồng cũng thường xích mích.

Chuyện kể có lần bà Nhữ Thị Thục đi chợ, ông Văn Định ở nhà trông con. Ông buộc dây vào cành tre, kéo lên, kéo xuống cho con chơi và nói:
- Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung!

Tưởng con không biết gì, chẳng ngờ Đạt nói:
- Vịn tay tiên, nhè nhẹ rung.

Khi bà Thục về, Văn Định khoe chuyện ấy bảo là con trai họ thông minh. Không dè, bà Thục nói:
- Nguyệt tượng trưng cho bầy tôi! Nuôi con mong thành vua thành chúa, chứ thành bầy tôi thì nói làm gì.

Lần khác khi vợ đi vắng, Văn Định lấy sách của vợ tìm một câu để dạy con, thấy câu:
- Bống bống, bang bang, ngày sau con lớn, con tựa ngai vàng

Văn Định hoảng sợ, cho là ý kiến phản nghịch, có thể bị tội chém đầu, bèn chữa chữ “tựa” thành “vịn”. Bà Thục về đến, biết chuyện này bực lắm.
- Sinh con ra, mong con làm vua thiên hạ. Nay thầy nó dạy con làm tôi, chán quá! Rất tiếc thân này là phận gái.

Vì nhiều quan niệm bất đồng nên bà Thục đã bỏ nhà ra đi. Tương truyền khi còn sống với Văn Định, có lần bà Thục ra Đồ Sơn, gặp một người dân chài oai vệ, cao to, sắc sảo, vừa thi trúng võ cử, sắp đi làm lính túc vệ thì giật mình than rằng: “Người này mới thật là người mà ta mong ước. Lúc trẻ chẳng gặp, ngày nay tới đây làm gì!” Người ấy sau này cướp ngôi nhà Lê, lên làm vua lập ra nhà Mạc (1527), chính là Thái tổ nhà Mạc – Mạc Đăng Dung.

Lại có truyền thuyết kể rằng bà Thục sau này đã đi thêm bước nữa, hạ sinh thêm 1 trạng nguyên cho đời, đó là Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Về sau Phùng Khắc Khoan theo học Nguyễn Bỉnh Khiêm, được ông coi như em ruột. Có thể thấy bà Thục tuy là nữ lưu nhưng chí lớn, lại luôn cất công mài giũa, bà có hai người con đều đỗ đạt và nổi tiếng, đáng là chuyện vinh danh ngàn xưa hiếm gặp vậy

Còn về Nguyễn Văn Đạt thuở nhỏ đã thông minh lạ thường. Đầy thôi nôi đã biết nói, lên bốn được mẹ dạy cho học thuộc lòng kinh truyện cùng với thơ Nôm. Tương truyền một hôm, bà Thục đưa Nguyễn Bỉnh Khiêm về quê ngoại thăm gia đình, dọc đường gặp một thầy tướng số Trung Hoa. Thấy Khiêm có tướng mạo lạ thường, ông bèn nói:
- Đứa trẻ này về sau có thể làm tới ngôi vương.

Nhưng rồi sau khi xem kỹ lại, ông than:
- Da khô quá, thật là đáng tiếc! Cùng lắm chỉ là trạng nguyên mà thôi.

Đường công danh của ông sau này đúng là chỉ ở mức Trạng Nguyên Khi mất ông được vua Mạc truy phong tước Thái phó Trình Quốc công, do đó mà đời sau gọi ông là là Trạng Trình.

2. Năm tháng luyện rèn và nghiệp quan trường

Cha mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm cho con theo học quan Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, cũng là 1 danh nhân văn hoá nước ta. Ông người làng Hội Trào, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hoá; đã từng đỗ đạt làm quan công thần nhà Lê. Ông cũng là người thảo “Trị bình thập tứ sách” gồm 14 đề mục cho việc trị nước an dân nhưng không được dùng nên đã cáo quan về quê dạy học. Khiêm sau này là học trò mà ông yêu quý nhất.

Đến khi Lương Đắc Bằng ốm nặng, biết rằng mình không sống lâu được nữa bèn gọi Khiêm lại, đưa cho ông 1 cuốn sách mà dặn rằng:

- Khi xưa thầy đi sứ qua Tàu, lúc trở về nước, có một cụ khách già trao cho thầy quyển sách. Thầy tưởng cho thầy nhưng sau đó, cụ ấy nói: “Ta không cho ngươi, ta chỉ nhờ người đem về giao lại cho một người An Nam”. Thầy rất ngạc nhiên khi không nghe cụ già ấy nói đến tên họ người mà cụ muốn gửi gắm. Cụ già liền xua tay: “Không cần. Chừng nào trong tâm linh nhà ngươi muốn cho ai thì người ấy sẽ được phần”. Nói xong, ông cụ ấy bỏ đi mất, chừng đó thầy mới hiểu ông ấy là một dị nhân. Nay thầy giao quyển sách này lại cho con, ấy là con có phần.

Bộ sách ấy chính là bộ Thái Ất Thần Kinh mà thầy Bằng để lại cho người học trò cừ khôi của mình. Nhờ quyển sách này mà về sau Nguyễn Bỉnh Khiêm tinh thông lý số, hiểu quá khứ vị lai, đoán biết tương lai, lại biết được sự xoay vần của thế cuộc. Chẳng thế mà vua Hiến Tông Mạc Phúc Hải đã phong cho ông tước Trình Tuyền hầu vào năm Giáp Thìn (1544), ngụ ý đề cao ông có công khơi nguồn ngành lý học nước nhà – công như Trình Y Xuyên, Trình Minh Đạo bên Trung Hoa vậy. Sau đó được thăng chức Thượng thư bộ Lại tước hiệu Trình Quốc Công.

Ông không hữu duyên với nghiệp quan trường lại ra đời vào thời loạn lạc. Mãi đến năm 45 tuổi ông mới đỗ Trạng nguyên thời Thái Tông Mạc Đăng Doanh. Làm quan được bảy năm, ông dâng sớ xin trảm 18 lộng thần nhưng không được vua nghe nên xin cáo quan năm 1542. Từ đây Nguyễn Bỉnh Khiêm xa rời cửa quan, lánh về điền viên, nhưng cuộc đời của ông thì chưa bao giờ nguôi nỗi niềm đau đáu về vận nước nghiệp nhà.

3. Sấm Trạng Trình

Nói đến ông có lẽ dân gian xưa nay tôn thờ ông về khả năng tiên tri và cái nhìn vượt thời gian. Những điều ông dự đoán đều được người ta chép lại mà chiêm nghiệm, có phần sùng bái, coi đó như những lời sấm truyền – sấm Trạng Trình. Như La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp sống vào thời Tây Sơn, khi qua thăm đền thờ của Trạng Trình cũng phải cúi đầu chắp tay thán phục ông là bậc “huyền cơ tham tạo hóa” (góp cùng tạo hóa điều khiển máy huyền vi). Xin được điểm qua đôi giai thoại sưu tầm từ nhiều nguồn để cùng bạn đọc ngâm ngợi ^^

Sắt ngắn gỗ dài:
Tối 30 Tết, Cụ Trạng Trình đang ngồi luận lý số cùng một học trò ở xa đến thăm và biếu cụ lễ vật. Bỗng ở ngoài cổng có tiếng người gọi mở cửa. Cụ sai gia nhân ra bảo hãy chờ cụ một chút. Rồi Cụ bảo học trò bấm quẻ đoán xem người kêu cổng ấy gọi mở cửa để làm gì.

Cả hai thầy trò đều bấm ra quẻ “Thiết đoản mộc trường” dịch ra là: Sắt ngắn gỗ dài. Cụ hỏi học trò:
- Vậy anh đoán nó vào đây có việc gì?

Anh học trò đáp:
- Thưa Cụ, theo ý con thì sắt ngắn gỗ dài, ắt hẳn người ấy vào đây mượn cái xuổng hay cái cuốc.

Cụ cười đáp:
- Khác với anh, tôi đoán nó vào đây mượn cái búa.

Nói xong, Cụ cho gia nhân ra mở cửa và mời người gọi cửa vào, thì đó là người láng giềng đi vào yêu cầu cho mượn cái búa, đúng như lời Cụ đoán.

Cụ giải thích cho anh học trò:
- Anh bấm quẻ giỏi, nhưng đoán còn thấp. Ngày 30 Tết thì ai đi mượn cái xuổng hay cái cuốc làm gì, cho nên tôi đoán nó mượn cái búa để chẻ củi nấu bánh cúng Tết mà thôi.

Bấm quẻ trúng nhưng khi đoán phải có ý thức cơ biến mới tránh khỏi sai lầm

Quạt giấy và cái gối:
Cụ Trạng Trình muốn thử xem lý số mà cụ học được có hiệu nghiệm không. Cụ làm hai thí nghiệm sau đây:

* Cụ làm một chiếc quạt giấy. Làm xong, Cụ bói số mệnh của cây quạt giấy nầy thì được quẻ: “Nữ nhân phá hủy”. Cụ viết 4 chữ nầy lên quạt và treo quạt ở đầu giường. Đến gần tới ngày giờ quẻ ứng, Cụ ngồi trên giường luôn luôn để mắt theo dõi quẻ ứng hiện như thế nào?

Chợt bên hàng xóm có người đến mời Cụ qua dự đám giỗ, nhưng Cụ bận theo dõi chiếc quạt nên chưa thể qua ngay được. Người hàng xóm đến mời nữa, và nói với Cụ Bà giục Cụ đi qua để trễ tiệc. Cụ Bà vào phòng hối Cụ đi mấy lần, nhưng Cụ vẫn lo theo dõi cái quạt nên chưa thể đi được. Cụ Bà bực tức thấy ông ngồi không mà chưa chịu đi, mắt lại nhìn cái quạt không rời. Cụ Bà liền giựt phăng cái quạt, xé đi rồi nói:
- Quí báu gì cái quạt giấy nầy mà ông cứ nhìn nó hoài như mất thần, để người ta qua đây ba bốn phen mời mọc.

Cụ cười xòa vui vẻ và liền đi ngay qua đám giỗ. Cụ nhận thấy lẽ nhiệm mầu trong khoa lý số đã thể hiện rất chính xác. Nhưng Cụ vẫn còn chút hồ nghi sự việc xảy ra có phải do ngẫu nhiên chăng?

Do đó, Cụ làm thêm thí nghiệm thứ nhì:

* Cụ làm một chiếc gối bằng gỗ để ở đầu giường. Cụ bói số mệnh chiếc gối thì được quẻ: “Thử đầu nhi phá”. Cụ rất ngạc nhiên vì gối kê ở đầu giường luôn luôn thì làm sao chuột phá hỏng được. Cụ ghi lên gối 4 chữ ấy rồi chờ thời gian xem kết quả.

Tới ngày tháng đúng như trong quẻ đã định, có một ông bạn thân đến thăm Cụ và ngồi nói chuyện với Cụ trong phòng. Chợt có một con chuột thập thò ở gầm ghế, ông bạn quơ tay xua đuổi, con chuột không chạy đi, mà cứ ở đó nhìn ông lau láu như có ý chọc tức. Ông bạn nổi giận, thuận tay lấy ngay cái gối gỗ ném vào con chuột. Con chuột lanh chân chạy thoát, còn chiếc gối gỗ thì va vào gạch gãy ra làm nhiều mảnh.

Thánh nhân mắt mù:
Khi sắp mất, Cụ Trạng Trình có ghi vào gia phả và dặn con cháu rằng: “Bình sinh ta có một tấm bia đá để sẵn và đã sơn kia. Khi ta nhắm mắt rồi, các con phải nhớ, hễ hạ quan tài xuống, phải để tấm bia ấy lên nắp rồi mới lấp đất lại. Sau 50 năm, hễ khi nào có một người lạ đến viếng mộ ta mà nói rằng: Thánh nhân mắt mù, thì phải lập tức mời người ấy về nhà, yêu cầu họ đặt hướng lại ngôi mộ cho ta. Chúng bây phải nhớ kỹ và canh chừng, chớ không được cải cát. Nếu trái lời ta, dòng dõi về sau sẽ suy đồi lụn bại.”

Con cháu nghe lời và làm y theo lời Cụ dặn. Đúng 50 năm sau, một hôm có một người Tàu đến viếng mộ, nhìn ngôi mộ của cụ một lúc thì cất tiếng than rằng:
- Cái huyệt ở đàng chân sờ sờ thế kia mà không biết, lại tự đem để mả thế nầy? Vậy là Thánh nhân cái gì đâu? hay là Thánh nhân mắt mù đó!

Người nhà nghe câu đó liền chạy về báo cho Tộc trưởng hay, ông nầy vội vàng ra rước người Tàu đó vào nhà, thết đãi tử tế, rồi nhờ đặt giùm ngôi mộ lại. Khi nói chuyện mới hay người Tàu đó là một nhà địa lý nổi tiếng ở bên Tàu mới sang nước ta. Ông ta đến đây là để xem di tích của Cụ Trạng thế nào mà tiếng đồn qua tới bên Tàu rằng: An Nam lý học hữu Trình Tuyền

Khi nghe ông Trưởng tộc yêu cầu đặt hướng lại cho ngôi mộ thì người Tàu tỏ ý sẵn sàng giúp, để chứng tỏ Trạng Trình còn thua ông ta một bực. Do đó ông ta cảm thấy rất thích chí, hiu hiu tự đắc và thầm nghĩ rằng: Với Cụ Trạng, thực ra chỉ nghe đồn chớ thực mục sở thị thì có gì giỏi đâu?

Ông ta bảo:
- Không cần phải đem đi đâu xa cả, chỉ đào lên rồi táng lại tại chỗ, nhích ra sau một chút và quay đầu lại là được.

Ông Trưởng tộc cả mừng, vội tụ họp con cháu lại, đưa thầy địa lý người Tàu ra mộ rồi đào lên. Khi đào xuống sắp tới quan tài thì gặp một tấm bia đá, ông thầy Tàu lấy làm lạ, sẵn tính hiếu kỳ, ông bảo đem rửa sạch bia đá, để xem trên đó khắc chữ gì, thì thấy trên bia ấy có khắc bài thi:
Ngũ thập niên tiền mạch tại đầu,
Ngũ thập niên hậu mạch tại túc.
Hậu sinh nhĩ bối ná năng tri,
Hà vị Thánh nhân vô nhĩ mục?

Nghĩa là:
Năm chục năm trước mạch tại đầu,
Năm chục năm sau mạch tại chân.
Biết gì những kẻ sinh sau,
Thánh nhân mắt có mù đâu bao giờ?

Khi xem xong bài thơ trên, ông thầy Tàu mới bật ngửa ra, phục Cụ Trạng Trình sát đất. Quả thật, mình chỉ đáng là học trò của Cụ thôi.

Thằng Khả làm ngã bia tao:
Trước ngày Cụ Trạng qui Tiên, Cụ tạc một bia đá và dặn chôn ở rìa mộ của Cụ, trên đó có ba câu:
Cha con thằng Khả,
đánh ngã bia tao,
làng biết được bắt thường tam quán
.”

Lúc đó người coi bia chẳng hiểu ra sao, cứ làm đúng lời Cụ dặn. Cho tới một thời gian rất lâu về sau, đến một hôm có hai cha con người đó tên là Khả, đi đào chuột. Khi hai cha con đến gần nơi mộ của Cụ Trạng thì thấy có hang chuột, liền đào xuống để bắt chuột. Hang chuột chạy lòn xuống đáy bia đá, chỉ lo đào hang mà quên để ý đến tấm bia đá, đào một hồi thì tấm bia đá ngã kềnh ra mà chưa bắt được con chuột nào. Bọn trẻ mục đồng thấy bia ngã, chúng tri hô lên, rồi làng biết, kêu cha con ông Khả lên làng, bắt nộp tiền phạt và phải dựng bia lại như cũ.

Cha con anh Khả đành chịu nộp phạt, nhưng nhà nghèo, trong nhà chỉ có một quan tiền tám, nên xin làng cho nộp phạt bao nhiêu đó mà thôi. Làng cũng đành chịu. Thế mới biết Cụ Trạng Trình rất tài giỏi về khoa lý số, biết được tên người làm ngã bia của Cụ, và lại biết số tiền nộp phạt là tam quán, nói lái là quan tám

Nguyễn Công Trứ phá Đền:
Năm Minh Mạng thứ 14, vua Minh Mạng bắt khai con sông Hải Dương. Lúc ấy, ông Nguyễn Công Trứ đang làm Tri Huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, lãnh chiếu chỉ của vua thi hành việc khai con sông đó, địa chính theo lệnh vua phải cắm cho thẳng, nhưng khổ thay lại trúng thẳng vào Đền thờ của Cụ Trạng Trình mà ngôi Đền nầy nổi tiếng linh thiêng.

Ông Trứ truyền cho dân phải phá Đền khai sông. Dân chúng không ai dám phá, Ông Trứ cũng phân vân, vì trên là lệnh vua, dưới là ý dân, nếu không tuân thì sợ vua bắt tội, mà tuân thì trái lòng dân. Ông Trứ sắm nhang đèn vào Đền vái Cụ Trạng Trình xin Cụ cho phép phá Đền, xin Cụ hiểu lòng của ông. Rồi ông Trứ xin chịu hết trách nhiệm cho công việc phá Đền, lúc đó dân quân mới dám phá.

Khi đào phá tới cái bệ thờ, thấy hiện ra một tấm bia đá chôn dưới bệ, có chạm khắc bốn câu sau đây:
Minh Mạng thập tứ,
Thằng Trứ phá đền.
Phá đền thì phải lập đền,
Nào ai lấn đất tranh quyền của ai.

Ông Nguyễn Công Trứ thấy Cụ Trạng Trình nói đúng tên của mình thì sợ quá, truyền cho dân chúng ngưng việc phá Đền, và lo việc cất Đền trở lại như trước. Khi đó, lại tìm thấy trên đầu cột cái có đề 4 hàng chữ:
Hỏng đền thì lại làm đền,
Rồi sau tìm thấy bạc tiền của ta.
Của ông, ông để còn xa,
Ai mà tìm được ắt là thưởng công.

Lúc đó Nguyễn Công Trứ đọc 4 câu thơ xong thì nghĩ mãi, chợt nẩy ra ý nói lái: còn xa nói lái lại là xà con. Ông liền quan sát các cây xà con đã tháo xuống, thấy có một cây khá nặng, nặng hơn các cây khác, khi cho bửa cây nầy ra thì có bạc nén văng ra. Nguyễn Công Trứ liền dùng số bạc này đi mua các thứ vật liệu, cất Đền trở lại cho Cụ Trạng mà lòng đầy kính phục. Số bạc còn dư, ông Trứ giao cho dân làng Vĩnh Lại để dành tu bổ các đền chùa đình miểu trong làng.

Cây xà nhà đổ:
Khi Cụ Trạng Trình sắp mất, Cụ kêu con cháu lại giao cho một cái ống tre sơn son thếp vàng, gắn bít hai đầu lại và dặn đúng ngày giờ ấy, tháng ấy, năm ấy, phải để cái ống lên kiệu, rước lên dinh quan Tổng Đốc Hải Dương, thì sẽ cứu được tình thế quá nghèo khổ của gia đình, nhưng tuyệt đối không được mở ra xem, chỉ có quan Tổng Đốc được mở mà thôi.

Cái ống tre ấy truyền đến cháu 7 đời của Cụ Trạng thì mới đúng ngày giờ đã định. Người cháu ấy mới đưa lên quan Tổng Đốc Hải Dương đúng theo lời Tổ tiên đã dặn ghi trong gia phả. Quan Tổng Đốc cầm cái ống, mở ra xem, thấy có hai câu thơ như vầy:
Ngã cứu nhĩ thượng lương chi ách,
Nhĩ cứu ngã thất đại chi bần.

Nghĩa là:
Ta cứu mầy khỏi cây xà nhà đổ,
Mầy cứu cháu ta bảy đời nghèo.

Quan Tổng Đốc đang lúc làm việc quan, thấy hai câu thơ nói xấc xược, gọi quan là mày thì cả giận, sẵn cầm cây quạt, ông bước tới định đánh người vừa dâng cái ống tre có hai câu thơ ấy. Khi vừa bước ra khỏi chỗ ngồi thì bỗng nhiên cây xà nhà to lớn trên nóc nhà đổ rầm xuống ngay cái ghế mà quan vừa ngồi làm cho cái ghế gãy nát

Quan Tổng Đốc lúc này mới toát mồ hôi nhớ lại hai câu thơ vừa rồi tỉnh ngộ. Quan hỏi đến người dâng cái ống tre, mới rõ là cháu 7 đời của Cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và hai câu thơ trên là Cụ Trạng viết ra để cứu ông thoát nạn, thế nên tâm phục khẩu phục mà giúp nhà cụ Trạng món tiền lớn.

Ngựa đá qua sông:
Đất Vĩnh Lại là quê hương của Trạng, một vùng đất hiếu học và trọng khoa cử. Nhưng học thì rất nhiều mà đỗ đạt thì lại ít, chẳng mấy ai làm nên những sự nghiệp lớn lao. Dân miền Vĩnh Lại ấm ức vô cùng, họ tìm đến hỏi Cụ Trạng cho ra nhẽ, song Cụ Trạng không trả lời gì khác hơn ngoài câu:
- Thiên cơ bất khả lậu!

Dân chúng thầm bất mãn, cho rằng Cụ thâm hiểm, nhỏ mọn, biết mà không nói để bản thân riêng hưởng. Nghe tin ấy, Cụ Trạng rất phiền lòng nhưng rồi thông cảm cho sự nôn nóng, sốt ruột của dân làng bèn làm một con ngựa đá và cho khắc 2 câu thơ:
Hà thời thạch mã độ giang
Thử thời Vĩnh Lại nghinh ngang công hầu

Nghĩa là:
Bao giờ ngựa đá sang sông
Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng.

Ngựa vừa dựng lên, dân làng rủ nhau đến xem rất đông, bán tin bán nghi về việc ngựa đá mà đòi qua sông. Thời gian trôi qua, dòng sông bên lở bên bồi, đến cuối đời Hậu Lê thì con ngựa đá đã sang sông thật. Người thì vui mừng, người thì hối tiếc vì đã trách nhầm Cụ Trạng, song ai nấy đều hy vọng một cuộc đời hiển hách. Tiếng lành đồn xa, người ta càng đổ xô đến làng.

Giữa lúc ấy, trong Nam lại xảy ra cuộc chiến giữa Tây Sơn và nhà Nguyễn. Tây Sơn sau khi thắng trận đem binh ra diệt luôn chúa Trịnh ở Bắc, trả quyền cho nhà Lê. Vua Lê đến thời Chiêu Thống lên ngôi thì lung lay, phải triệu Nguyễn Hữu Chỉnh ở Nghệ An ra giúp. Chỉnh đem binh ra đánh đuổi và dẹp tan đám con cháu của chúa Trịnh còn sót lại. Nhưng Chỉnh lại chuyên quyền ra mặt chống đối Tây Sơn, Nguyễn Huệ thấy vậy mới sai Nhậm ra Bắc đánh Chỉnh. Chỉnh đem vua Lê chạy trốn. Nửa đường Chỉnh bị bắt, vua thì thoát nhưng phải giả dạng thường dân mang theo ân tín mà chạy. Nhà Tây Sơn đuổi theo, nhà vua phải qua sông Vĩnh Lại và ở lại làng này. Việc vua đến lưu trú, lại thêm chuyện “ngựa đá qua sông” dân làng cho rằng đây là ý trời để làng Vĩnh Lại được oai danh hiển hách, mới rước vua về đình rồi thảo hịch chiêu mộ quân sĩ để chống Tây Sơn, sẵn có ấn tín của vua, hết người này đến người khác bức vua phong tước. Thế cùng lực kiệt, nhà vua đành nghe theo; vậy là chỉ trong mấy ngày dân Vĩnh Lại đều thành quan này quan nọ cả

Phong tước xong, nhà vua từ giã để chạy sang làng khác. Hay tin dân làng Vĩnh Lại phò Lê chống Tây Sơn, Vũ Văn Nhậm đem quân vây đánh, rút lại kết cục thảm thương cho làng.

Hoành Sơn nhất đái:
Nước ta khi đó bị chia đôi: từ Sơn Nam trở ra thuộc nhà Mạc, gọi là Bắc Triều. Từ Thanh Hoá trở vào là khu vực của nhà Lê hay gọi là Nam Triều. Năm Quý Tỵ (1532) Nguyễn Kim lập con út vua Lê Chiêu Tông lên làm vua, gọi là Lê Trang Tông. Để mưu đồ đại sự, Nguyễn Kim thu nạp một kiện tướng ở tỉnh Thanh Hoá tên là Trịnh Kiểm, sau lại gả con gái cho Trịnh Kiểm. Sau khi Nguyễn Kim chết vì ngộ độc (1545), mọi bình quyền về tay con rể Trịnh Kiểm.

Nguyễn Kim có hai người con trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng, cả hai tuy còn ít tuổi nhưng đã bộc lộ tài năng xuất sắc hơn người. Trịnh Kiểm không khỏi lo sợ cả hai em vợ sau này có thể tranh giành địa vị với mình, nên đã ngấm ngầm giết hại Nguyễn Uông. Nguyễn Hoàng thấy anh bị hại, sợ đến lượt mình, liền cử người kín đáo lên hỏi Trạng Trình. Trạng không trả lời cụ thể, chỉ đứng ngắm đàn kiến bò trên hòn non bộ trước sân nhà và thốt lên một câu: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân

Nghĩa là: Đèo Ngang một dải, dung thân ngàn đời.

Từ câu nói đó, Nguyễn Hoàng nghiệm ra rằng trạng Trình đã bày cho kế đi vào phương Nam lập nghiệp. Nguyễn Hoàng vội vàng đến nói riêng với chị ruột Ngọc Bảo, lựa lời xin cho ông vào trấn đất Thuận Hoá, phía Nam dãy Đèo Ngang. Năm Mậu Ngọ nghe theo lời vợ, Trịnh Kiểm xin vua Lê Anh Tông cho Nguyễn Hoàng được vào giữ đất Thuận Hóa. Dụng ý của Trịnh Kiểm, trước là đuổi Nguyễn Hoàng đi xa cho khuất mắt, sau là dùng Nguyễn Hoàng để chận giặc Chiêm Thành.

Không dè nhân dịp này Nguyễn Hoàng đem theo người nhà và quân lính cùng vợ con của họ vào Nam. Nguyễn Hoàng là người khôn ngoan lại nhân đức nên những kẻ tài giỏi ở khắp mọi nơi theo về rất đông. Do đó mà thế lực mỗi ngày một mạnh. Nhờ thế mà lập nên cơ nghiệp của họ Nguyễn ở Đàng Trong, truyền nối lâu dài.

Khi cơ đồ của nhà Nguyễn trở nên vững vàng, Nguyễn Hoàng có cho người mang lễ vật đến tạ Trạng Trình, nhưng Trạng đã cương quyết khước từ. Khi Nguyễn Hoàng sắp mất, ông gọi con trai là Nguyễn Phúc Nguyên đến dặn: Thuận Hóa là nơi có thể gây dựng cơ nghiệp lâu dài, vậy con phải thương yêu quân lính và giúp đỡ dân chúng, mới chống nổi họ Trịnh ở ngoài Bắc. Nguyễn Phúc Nguyên tức chúa Sãi chính là người sau đó ra sức mở mang bờ cõi, có kỳ công trong việc khai phá xây dựng miền Nam nước ta thuở trước.

Lê tồn, Trịnh tại – Lê bại, Trịnh vong:
Nhà Lê Trung Hưng dùng căn cứ ở Thanh Hoá tiến mạnh ra kinh đô. Tuy nhiên các phe phái Lê – Mạc, Trịnh – Nguyễn vẫn hằm hè, đấu trí đấu sức nhau, mưu sự thịnh vượng cho mình. Nhiều danh sĩ lại phân vân, cân nhắc chẳng biết nên phò Lê hay ở lại với Mạc. Trong số ấy có Phùng Khắc Khoan mãi không chọn được hướng đi nên đã tìm đến Am Bạch Vân để xin thầy mình vấn kế.

Chuyện kể rằng, khi nghe Phùng Khắc Khoan hỏi han đến sự thể, Trạng Trình không hề bảo cho Phùng Khắc Khoan là nên định hướng thế nào. Khoan không khỏi băn khoăn, trằn trọc mãi đến gần sáng mới chợp mắt được, vừa lúc ấy Trạng Trình đến đập cửa và nói vọng vào:
- Gà đã gáy rồi, sao không dậy, còn ngủ gì nữa?

Ông Khoan giật mình thức giấc, ông ngầm hiểu ý của Trạng Trình là đã đến lúc phải vào Thanh Hoá với nhà Lê. Phùng Khắc Khoan vội vàng bật dậy, sắp đặt hành lý rồi đến chào từ biệt Trạng Trình. Trạng vẫn không nói gì, chờ tới lúc Phùng Khắc Khoan quay gót, Trạng liền cuốn một chiếu ngắn ném theo. Nghe tiếng chiếu rơi phịch cạnh chân mình, Phùng Khắc Khoan càng thêm hiểu ý của Trạng: “Phải hành động nhanh như cuốn chiếu, chứ đừng chần chờ gì nữa”.

Quả nhiên vào Thanh Hoá, Phùng Khắc Khoan nhanh chóng được trọng dụng và được Thái sư Trịnh Kiểm tin tưởng, việc gì quan trọng cũng hỏi ý kiến.

Khi Lê Trung Tông mất, nhà Trịnh muốn nhân dịp này để phế luôn nhà Lê. Trịnh Kiểm hỏi ý, Phùng Khắc Khoan lúng túng không biết trả lời thế nào, liền bí mật phái sứ giả ra Hải Dương hỏi ý kiến thầy lần nữa.

Sứ giả đi rổi về kể:
- Quan Trạng không bảo ban gì cả. Ngài cũng không có thư hồi đáp.

Phùng Khắc Khoan gặng:
- Thế ông được quan Trạng tiếp đãi ra sao? Và những câu quan Trạng nói ông còn nhớ kỹ không?

Sứ giả chỉ biết lắc đầu:
- Dạ, ngài Trạng tiếp đãi rất chu đáo. Nhưng ngoài những câu giao tế bình thường, ngài chẳng nói gì hết. Chỉ trong lúc nhấp chén trà với tôi, quan Trạng có bảo người nhà một câu: “Năm nay thóc giống không tốt, chúng bay nên tìm thóc cũ mà gieo mạ”.

Phùng Khắc Khoan mừng rỡ bảo:
- Đó chính là lời Trạng nói với chúng ta đấy. Ông cố nhớ lại ngài Trạng còn nói gì thêm không?

- Dạ nếu thế thì có chuyện này. Vừa cạn tuần trà xong, Cụ Trạng đứng lên xin ra chùa thắp hương. Tôi giữ lễ, xin phép đi theo, đến cửa chùa khi nhà sư ra đón. Trạng bảo nhà sư: “Giữ chùa, thờ Phật thì được ăn oản”.

Phùng Khắc Khoan gật đầu ngầm hiểu rồi vội vàng vào gặp Trịnh Kiểm, thuật lại từng lời nói cử chỉ của Trạng Trình. Kiểm hiểu ngay ý dặn: Phải phò nhà Lê thì mới hưởng phúc lâu dài. Sau đó Kiểm cho tìm người cháu của Lê Trừ – anh ruột vua Lê Thái Tổ – là Lê Duy Bang ở làng Bố Vệ, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá đem về phò lên ngôi, tức là Lê Anh Tông sau này.

Về sau, con cháu chúa Trịnh cũng đã nhiều lần muốn tiếm ngôi nhà Lê, nhưng Cụ Trạng Trình đều khuyên khéo: “Lê tồn, Trịnh tại – Lê bại, Trịnh vong“. Tuy nhà Lê suy nhược, nhưng Lê còn thì Trịnh mới đứng vững được. Lời sấm của Trạng Trình không sai, khi vua Lê Chiêu Thống để mất ngai vàng thì dòng Trịnh cũng chẳng còn ai xưng chúa nữa.

Cao Bằng khả duyên:
Thời Mạc Mậu Hợp, năm Diên Thành thứ 8 (1585), tức năm Ất Dậu tháng 11 thì Trạng Trình lâm bệnh. Mậu Hợp sai sứ đến vấn an và hỏi về quốc sự. Ông chỉ trả lời rằng: “Tha nhựt quốc hữu sự cố, Cao Bằng tuy tiểu khả duyên sổ thế“. Nghĩa là: Sau nầy quốc gia hữu sự thì đất Cao Bằng tuy nhỏ cũng giữ thêm được mấy đời.

Quả nhiên, sau đó 7 năm sau thì họ Mạc mất, rồi các chúa nhà Mạc như Càn Thống, Long Thái, Thuận Đức, Vĩnh Xương, rút lui lên giữ Cao Bằng được gần 80 năm, truyền thêm được vài đời nữa, cũng nhờ Cụ Trạng năm xưa mách nước cho.

Đại chiến thế giới II:
Có những câu sấm của Trạng Trình viết từ thế kỉ XVI, đến thế kỉ XX đã được lịch sử chứng minh với độ xác thực kì diệu như những câu sau đây:
Long vĩ, xà đầu khởi chiến tranh
Đông Tây Nam Bắc khởi đao binh
Mã đề, dương cước anh hùng tận
Thân Dậu niên lai kiến thái bình

Nghĩa là: cuối năm Thìn (1940), đầu năm Tị (1941) nổ ra chiến tranh, Đông – Tây – Nam – Bắc (của thế giới) bắt đầu xảy ra việc binh đao. Từ năm Ngọ ( 1942) đến cuối năm Mùi (1943) anh hùng chết nhiều. Đến năm Thân (1944) năm Dậu (1945) lại thấy có thái bình. Người ta đem ra so thì chính nhằm vào Đại chiến thế giới lần thứ hai (1939 – 1945) đã diễn ra đúng như lời sấm đã mô tả!

Nam Đàn sinh thánh:
Từ thế kỷ 16, Cụ Trạng đã viết:
Đụn Sơn phân giải,
Bò Đái thất thanh,
Nam Đàn sinh Thánh

Nghĩa là :
Núi Đụn Sơn tự phân chia ra, khe Bò Đái mất tiếng kêu đi thì đất Nam Đàn sẽ có thánh ra đời.

Sự thực thì Núi Đụn chính là núi Hùng Sơn ở phía tây huyện Nam Đàn. Năm 722, Mai Thúc Loan (tức là vua Mai Hắc Đế) xây dựng kho quân lương ở trên núi để chống giặc Đường nên gọi là Núi Đụn. Khe Bò Đái (tên gọi trong dân gian) chảy từ vách đá dựng đứng ở Rú Kia (còn gọi là Cơ Sơn), nước chảy ồ ồ và tung bọt trắng xóa. Trong một trận động đất, núi Đụn bị phân đôi, khe Bò Đái cũng bị rạn nứt, nước chảy nhưng bị thẩm thấu lan toả nhiều vào lòng đất đá nên không phát ra tiếng ồ ồ như trước. Thời điểm đó trùng vào thế kỷ 19, người ta cho rằng đó là nhà chí sĩ Phan Bội Châu thuộc Nam Đàn Tứ Hổ lúc đó. Nhưng chính Phan Bội Châu khi trao đổi với nhà sử học Đào Duy Anh đã khẳng định câu sấm truyền đó ứng vào người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc lúc đó còn đang hoạt động cách mạng ở Pháp những năm 1920. Và lịch sử 1 thập kỷ sau đã minh chứng tính đúng đắn của lời sấm cách đó 500 năm

Giai thoại về những lời sấm Trạng Trình còn rất nhiều, lịch sử vì thế suy tôn ông là nhà tiên tri số một Việt Nam quả không ngoa ^^

4. Sự nghiệp văn chương

Nếu nhắc đến Nguyễn Bỉnh Khiêm mà chỉ nói đến những lời sấm truyền của ông thì quả là có lỗi với Bạch Vân Cư Sĩ bởi sự nghiệp văn chương của ông cũng có nhiều điểm đáng nói. Khi cáo quan về quê vào năm Quảng Hòa thứ 2 (1542), ông dựng Am Bạch Vân ở phía tả trong làng và lấy hiệu là Bạch Vân Cư Sĩ. Ông lại cho bắc hai chiếc cầu Nghinh Phong và Tràng Xuân để hóng mát, dựng một ngôi quán gọi là Trung Tân Quán ở bến Tuyết giang, học trò ông do đó mà xưng tụng thầy là Tuyết Giang Phu Tử.

Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại cho đời Bạch Vân Thi Tập (chữ Hán) và Bạch Vân Quốc ngữ Thi Tập (chữ Nôm), nội dung thắm đượm tình cảm với quê hương, lo cho nước cho dân, đồng thời cũng nêu bật 1 chữ nhàn, coi thường danh lợi, đứng ngoài nghiệp quan trường, chỉ mong làm 1 ẩn sĩ giữa đời thái bình.

Vốn trọng nghĩa khinh tài, ông viết về xã hội phong kiến tha hóa:
Thế gian biến đổi vũng nên đồi,
Mặn lạt chua cay lẫn ngọt bùi.
Còn tiền còn bạc còn đệ tử,
Hết cơm hết gạo hết ông tôi.

Xưa nay vẫn trọng người chân thực,
Ai nấy nào ưa kẻ đãi bôi.
Ở thế mới hay người thế bạc,
Giàu thì tìm đến, khó tìm lui.

Bởi thế ông chỉ mong tìm cái nhàn tản ẩn cư nơi thôn dã như đã viết trong Thú thôn cư:
Một mai một cuốc một cần câu,
Thơ thẩn mặc ai vui thú nào.
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn người đến chốn lao xao.

Thu ăn măng trúc, Đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, Hạ tắm ao.
Rượu đến gốc cây ta sẽ nhấp,
Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.

Câu thơ thoáng chút mỉa mai với đời tranh đoạt, lại pha chút kiêu hãnh của bậc trí giả đầy trải nghiệm, chỉ mong không còn phải lo nghĩ việc đời, thích ngao sơn ngoạn thủy, xem danh lợi như phù vân. Nhưng như thế không có nghĩa là Trạng Trình nhắm mắt trước khát vọng cứu dân giúp nước:
Lúc nhàn ngẫm việc xưa nay
Không gì hiểm bằng đường đời
(Trung Tân ngụ hứng)

Trong bối cảnh nồi da nấu thịt, trước là Lê-Mạc tranh quyền đoạt lợi, sau là Trịnh-Nguyễn hai Đàng phân tranh, Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy không dự vào thế sự nhưng cũng không thể ngồi yên! Tấm lòng yêu nước thương dân của ông thể hiện qua bài Hữu cảm khi thấy cảnh loạn lạc cuối đời Mạc Phúc Nguyên:
Giặc dã ngông cuồng lấn đế kinh
Vua lo, tôi nhục, thật thương tình
Mong vua, khắc khoải lòng dân vọng
Trừ bạo ai người dấy nghĩa binh?
Bốn bể theo về mưa móc cũ
Trời cao sáng lại sắc thanh bình

Ông cũng nghiệm ra cho đời sau rằng:
Xưa nay nhân giả là vô địch
Lọ phải ôm hoài mộng chiến tranh

Cứ ngỡ lòng vô sự, trăng in nước nhưng xem ra tâm Trạng Trình vẫn còn nặng gánh. Không chỉ tự trào trong thơ, ông còn mở Quán Trung Tân để kết giao hiền sĩ, lại đem cái tài học của mình ra hết lòng truyền dạy cho môn sinh, những mong sẽ có những tài lương đống phò tá sơn hà. Quả danh sư xuất cao đồ, học trò của ông sau này nhiều người trở thành danh thần thời Trung hưng như Nguyễn Dữ – tác giả Truyền kỳ mạn lục, Thượng thư Bộ Lễ Lương Hữu Khánh, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, Quốc công Nguyễn Quyện, Thượng thư Bộ Hộ Trạng nguyên Giáp Hải, Tiến sĩ Trương Thời Cử, Tiến sĩ Đinh Thời Trung, Hàn Giang Phu tử Nguyễn Văn Chính

Trình Quốc công mất đến nay đã 425 năm. Trước ông trăm năm có một danh nhân văn hóa khác – Ức Trai Nguyễn Trãi (1380–1442) – mà người đời tìm thấy ở hai ông những điểm tương đồng; cũng là tâm hồn nhà Nho trong sáng cao thượng, cùng một niềm tin vào ngòi bút văn dĩ tải đạo, suốt đời vì nghĩa lớn yêu nước thương dân. Nhà sử học Phan Huy Chú đã viết về Trạng Trình trong Lịch triều hiến chương lọai chí: “Một bậc kỳ tài, hiền danh muôn thuở”. Trọng tài nhớ ơn ông, dân chúng dựng đền thờ ông trên quê hương, cho đến nay vẫn tổ chức lễ hội Trạng Trình mỗi năm để vinh danh sự nghiệp và thân thế Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài viết này nhân dịp xuân mới cũng chỉ mong có đôi dòng tôn xưng cho một nhà văn hóa kì danh kì tài thời Lê – Mạc ^^

Căn nhà số 11 – Nguyên Minh

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff | Posted on 09-02-2010

1

Trong văn học Việt Nam, có những cuốn sách nếu đã cầm lên, người đọc sẽ bị cuốn hút vào từng trang viết, để khi đọc xong gấp sách đặt xuống rồi vẫn thấy miên man xúc động bởi những hồi tưởng sâu lắng, những câu chuyện cô đọng và giản đơn nhưng có lẽ cần thời gian của cả đời người để trải nghiệm và đúc kết. Bạn đọc chắc đã quen thuộc những cái tên như Vang bóng một thời (Nguyễn Tuân), Gặp gỡ cuối năm (Nguyễn Khải), Tôi đã không quên (Lê Minh Khuê), Thời xa vắng (Lê Lựu), hay Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh); bài viết này nhằm giới thiệu một tác phẩm khác như thế: Ngôi nhà số 11 của Nguyên Minh.


(Tranh phố của cố hoạ sĩ Bùi Xuân Phái)

Nhà văn Nguyên Minh sinh năm 1941, viết văn từ năm ông 17 tuổi. Trước năm 1975, ông chủ trương tạp chí Ý Thức và làm việc trong NXB Ý Thức (1970-1975). Sau năm 1975, ông gác bút đến năm 2000 mới viết lại. Một số tác phẩm đã in: Căn Nhà Hoang (2000), Tưởng chừng đã quên <2008>, và sắp xuất bản cuốn Tiếng rống biệt ly.

Căn nhà số 11 là cuốn tiểu thuyết mà Nguyên Minh viết sau giải phóng và mới được xuất bản cuối năm 2009. Thoạt nhìn cuốn truyện không có gì bắt mắt, chỉ như 1 cuốn tiểu thuyết trung tầm bày bán nhan nhản trên các kệ sách và lề đường thời đại đa thư này, nếu không muốn nói là nó hoàn toàn mờ nhạt giữa chồng sách của các cây bút trẻ và các truyện dịch thời thượng bìa đầy hào nhoáng nhưng nội dung rỗng tuyếch. Rất tình cờ người viết ‘nhặt’ được Căn nhà số 11 trong một ngày như thế giữa Sài Gòn sôi động và lập tức bị thu hút bởi bối cảnh ly kỳ cùng với thiên truyện độc đáo ^^

Câu chuyện xoay quanh cuộc sống của nhân vật “tôi” những năm đất nước còn chia cắt và cho đến sau này khi đã thống nhất 2 miền, những quan hệ ruột thịt cha anh, những người quen biết, những câu chuyện về bạn đời, bạn tình và bạn hữu và cả những người lạ mặt chỉ gặp đôi lần. Lấy bối cảnh từ căn nhà số 11, Nguyên Minh lần lượt dành từng chương truyện để kể về mỗi nhân vật của ông: Ông Bầu, Thủ Môn, Hậu Vệ, Tiền Vệ, Trung Phong … mỗi người trong số họ lại có những kỷ niệm riêng với nhân vật ‘tôi’, mỗi người lại có những cuộc sống riêng, tính cách riêng, và cả những tình yêu và bi kịch riêng; để đến vài chục năm sau này khi đã qua bên kia con dốc cuộc đời, ‘tôi’ lại mường tượng ra mồn một số phận của mỗi người, lại đôi lần khắc khoải bởi quãng thời gian tươi đẹp nhưng cũng không thiếu phần cơ cực đã qua. Đan xen trong mỗi trang viết là dòng ký ức bất tận về hình ảnh người cha, người mẹ, người anh trai và 3 người phụ nữ trong cuộc đời nhân vật ‘tôi’ …

Đã 25 năm tôi gác bút, tưởng chừng không còn gì nữa để phải viết lên trang giấy, trải lòng mình vào chữ nghĩa văn chương, dù đời tôi có bao nhiêu đau khổ ê chề sau mộ cơn biến động lịch sử kinh hồn đã quăng tôi và bạn bè ra tứ phía.

Những nhân vật trong truyện của tôi sau này đều là những người thân yêu. Người yêu cũ. Người vợ hiền. Cô bạn láng giềng ngây thơ ngày thơ ấu. Người Mẹ bao dung. Người cha khắc nghiệt. Những người bạn cùng say mê văn chương. Thời thanh xuân chúng tôi cùng nhau làm một tạp chí văn học nghệ thuật mang tên Ý Thức. Tất cả những người thân yêu đó, bấy lâu tưởng đã hóa đá trong tâm hồn tôi, sau bao nhiêu năm tháng, một hôm bỗng rủ nhau trở lại thành người, đánh thức tôi, gợi lại những xúc cảm mới. Tôi nghĩ về họ. Tôi nghiệm ra rằng, từ thưở ấu thời đến tuổi xế chiều, họ đã cho tôi biết bao nhiêu điều muốn nói. Tất cả những người thân yêu đó đã quyện vào tôi như nhập thành một. Tại sao tôi phải im lặng.

Bằng giọng kể ấm áp, văn phong chắc gọn sâu lắng, Nguyên Minh đưa người đọc đi qua quãng đường dài 15-20 năm, đánh dấu bằng những thăng trầm trong cuộc sống mỗi nhân vật giữa những biến chuyển của lịch sử lớn lao của dân tộc, gợi mở từ từ từng ký ức ngày ấy – bây giờ, những gì một thời vang bóng và tưởng chừng đã quên … Không quá cao trào, không nhiều kịch tích, phong cách của Nguyên Minh khiến bạn đọc thấy sự thân thuộc và đồng điệu giữa Căn nhà số 11Gặp gỡ cuối năm, Người của một thời của Nguyễn Khải, cũng thấy trân trọng hơn sự lao động nghiêm túc miệt mài đôi khi khắc nghiệt trong từng chương truyện của ông.

Thông tin về Nguyên Minh cũng như các tác phẩm của ông không nhiều, có thể tạm coi ông như cây bút thể loại ký/tự sự, đã bắt đầu nghiệp văn từ trước năm 75 nhưng sáng tác có phần đứt đoạn do bối cảnh lịch sử; người viết bài này muốn dành đôi dòng ngắn ngủi trong blog này để vinh danh ông qua tác phẩm Căn nhà số 11 nhất là trong lúc việc giới thiệu kho tàng văn học miền Nam trước 1975 vẫn còn hạn chế và cầm chừng.