Tây Tạng Du Ký – Khúc vĩ thanh

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 25-08-2010

18

Quả thật khó cho tôi khi muốn viết lại Khúc vĩ thanh Tây Tạng, bao nhiêu hình ảnh chuyến hành trình 11 ngày cứ đầy ăm ắp, ấn tượng với Tây Tạng vô cùng sâu đậm, những thắc mắc năm xưa nay đã tìm được lời giải đáp trên vùng đất Phật nhưng kéo theo đó là muôn vàn điều mới mẻ và lòng càng băn khoăn hơn … Xin trích đôi dòng từ cuốn Mùi hương trầm (tác giả Nguyễn Tường Bách): “Cảnh quan thiên nhiên tuyệt đỉnh của Tây Tạng không chỉ làm hứng khởi tầm nghe nhìn của chúng ta vốn thường bị mây mù, khói đục và tiếng ồn che phủ, mà còn tích cực hơn, nó dẫn đường mở lối cho nhận thức và ý niệm về cái miên viễn đang hiện hình trước mắt ta. Tâm ta biết rằng cái miên viễn không phải đi tìm đâu xa, nó nằm ngay trước mắt, nó hiện diện ngay trong lòng, chỉ mắt vướng bụi nên không nhìn thấy nó, chỉ lòng chưa tỉnh nên không nhận ra nó. Nhưng cái miên viễn cũng không phải trần trụi sờ sờ ra đó để ai cũng có thể ngắm nghía mà muốn tới với nó phải đi hết đoạn đường phi hữu phi không, phải tự tay mở cánh cửa vô môn, phải nghe được thứ tiếng không lời, phải vào chốn ẩn mật chỉ dành cho những người dâng hết tâm ý, biết buông rơi chính mình. Cảnh quan Tây Tạng là bước khởi đầu, không phải là đoạn kết thúc.” Phải rồi! chỉ là bước khởi đầu, chưa phải là đoạn kết thúc, tôi đang viết cho bước khởi đầu của chính mình

1. Đô Thành mù sương

Tôi có duyên nhiều với Thành Đô (Chengdu) và cũng rất yêu thích thành phố này bởi nó có cái trong mát yên bình của đô thị quanh năm bao phủ bởi sương mù, kèm theo bề dày lịch sử văn hoá của cố đô Thục Hán đến nay đã vài mươi thế kỷ, cũng lại mang dáng dấp tân kỳ đô hội phát triển không thua kém bất cứ nơi đâu. Cũng vì thế tôi chọn Thành Đô, Tứ Xuyên làm điểm xuất phát của cuộc hành trình. Tuy chỉ lưu lại Thành Đô 1 ngày nhưng tôi đã may mắn cảm nhận được phần nào cuộc sống nơi Thiên Phủ Chi Quốc với những ghế kiệu, phòng trà, bạch viên, thi quyển:

Những vẻ đẹp làm mê lòng khách đến Thành Đô: này là Vọng Giang Lầu êm đềm trong sương sớm, này là Văn Thù Miếu giấu trong lòng nó những gì tinh hoa của vùng Tứ Xuyên. Bước chân vào Đệ nhất danh trà quán, người ta thấy một nốt trầm trong đời sống phồn hoa của nơi đây, không líu lo điện thoại, không tíu tít bán hàng, người dân Thành Đô vào đây độc ẩm, đối ẩm, quần ẩm bên những ly trà luôn bóc khói nóng; đáng yêu và thú vị như tiết trời sương khói mát mẻ bao đời của mảnh đất này vậy. Không chỉ có thế, Văn Thù Miếu còn có riêng 1 thư viện Phật học cực lớn bên trong khuôn viên bởi với những ai nghiên cứu Phật giáo thì đều biết rằng hình tượng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là tượng trưng cho trí huệ mênh mông, điều mà sau này tôi được chứng ngộ khi đặt chân vào Tây Tạng.

Thành Đô tiễn tôi bằng 1 cơn mưa nhẹ và màn Xuyên kịch đặc sản khi trời chiều lảng bảng. Phố đẹp, đường đẹp, lầu gác đẹp và người cũng đẹp; Thành Đô trong mưa là 1 ấn tượng khó phai với khách phương xa. Ngồi trong rạp dựng ngoài trời ngay dưới cơn mưa xem hý kịch Trung Hoa lại càng thú vị hơn nữa. Tôi sẽ không lạ nếu mai này bên sông Cẩm Giang người ta chơi thêm hồ cầm đàn địch, để nếu có dịp ghé thăm tôi lại được thả hồn mơ mộng, hỏi rằng có phải đang tấu khúc Hồ trường Dạ Vũ Tiêu Tương?

Xin hẹn Thành Đô không xa lần tiếp theo du ký Trung Hoa sẽ gặp lại cố nhân

2. Tuyết Quốc trong mây

Có rất nhiều cái tên đẹp để dành riêng gọi cho mảnh đất của những độ cao này: Tây Tạng, Tibet, Land of the Snows, Nóc nhà thế giới, hay chỉ đơn giản là Tuyết Quốc. Một sớm mùa hè như mọi ngày nhưng có ý nghĩa đặc biệt với tôi, hôm nay tôi sẽ bay trên rặng Tuyết Sơn để đặt chân vào thánh địa Phật giáo, học theo dấu chân minh triết của người xưa lần tìm về xứ sở huyền thoại.

Rời Thành Đô, tôi đến với cửa ngõ màu xanh của Tây Tạng: Nyingchi (thuộc địa giới vùng Kham cũ). Nhấc từ đồng bằng lên cao nguyên trung bình 3000m so với mực nước biển sau vài tiếng bay, tôi choáng váng bởi không khí loãng và càng choáng váng hơn bởi những hình ảnh đầu tiên về Tây Tạng hiện ra xanh đến thế ^^ Chẳng thế mà những khách du lịch khi khám phá vùng Kham đã đặt cho nơi đây cái tên ‘Wild Wild East’ bởi sự khác biệt cực kỹ rõ nét về cảnh quan tự nhiên và điều kiện thời tiết: này là rừng cây thác nước, kia là núi tuyết thảo nguyên; thiên đường xanh Tây Tạng kỳ thú lắm!

Đường nay mây trắng gió ngàn:

Nếu như đỉnh Phan Xi Păng cao 3143m, trèo lên đến nơi là chạm vào nóc nhà Đông Dương thì ở Nyingchi cũng độ cao tương tự, tôi được chạm vào lá vào hoa của Khả Đình Câu, chạm vào thân cây Đại Bách 2600 năm tuổi, được dừng trên đỉnh Sejila cao 4702m để chạm vào sương gió ngay giữa trưa nắng hè, được hít thở cái mát rượi của rừng Lulang từ vọng lâu nhìn ra đỉnh Namche Barwa cao 7786m, đặc biệt là được chạm vào nét sơ khai của cổ giáo Ninh Mã do đại sư Liên Hoa Sinh sáng lập mà dấu tích còn lưu lại trên tu viện Tsozong giữa hồ Basum-tso:

Tạm biệt tiểu Thuỵ Sĩ vùng Kham, tôi lên đường đến với thành phố của chư thiên, trái tim của Tây Tạng: thủ phủ Lhasa. Hỏi rằng chư Phật nơi đâu? có phải là bức tượng Đức Thích Ca Thập Nhị Tuế Đẳng bên trong đền Jokhang tuổi đời chục thiên niên kỷ hay ngay trước mắt tôi kia dòng người mộ đạo bước đi giữa cái huyên náo của khu chợ Barkhor tay xoay kinh luân còn trong lòng tịnh không, hướng Phật:

Thiên kinh vạn quyển đọc bao nhiêu cho đủ? chỉ một lần lặng im đứng giữa Bát Giác Nhai sẽ dấy lên niềm kính phục nghi lễ tôn giáo khổ hạnh tràn đầy niềm tin của người Tạng dưới mái chùa Đại Chiêu buổi bình minh đầu ngày. Phải chăng người xưa có câu Nhất tu thị, nhị tu sơn để dành cho những con người này? Đời trong đục nào có hề chi, bởi họ đã đem đạo về đây giữa phố phường Lạp Tát hơn nghìn năm có lẻ, kể từ cuộc hôn phối giữa công chúa Văn Thành và Tạng Vương Tùng Tán Cương Bố thế kỷ thứ 7.

Đặt chân đến Lhasa chắc chắn ai cũng phải đến chiêm ngưỡng kiến trúc đồ sộ mang phong cách Tạng của hành cung Potala và tôi không phải ngoại lệ. Chưa bao giờ tôi tưởng tượng được trong đời mình sẽ có dịp leo mấy trăm bậc đá trắng trên độ cao 3600m để bước vào nơi thâm nghiêm cao quý nhất của cộng đồng chính-giáo Tây Tạng; và cứ như thế, tôi hăm hở thở và leo.

13 bức tượng của các Đạt Lai Lạt Ma đời trước, căn phòng của Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 sử dụng khi ngài còn tại vị, những stupa sơn son thếp vàng nạm đầy ngọc quý, những hành lang phô phang màu sắc, những cánh cổng đỏ sậm đầy quyền uy, những cầu thang lên xuống như ma trận, những bức tường được mural nhuộm thắm, những chiếc cột đen nhánh mỡ bò yak treo thangka khổng lồ, mùi nến mùi người mùi gỗ mùi ẩm mốc và mùi tiền … tất cả làm đầu óc của kẻ người trần mắt thịt như tôi rối bời!

Hiếm ai ra khỏi cung điện Potala mà lòng không hụt hẫng, lý do thì muôn vẻ nhưng tựu chung lại là cảm giác xa lạ, mất mát. Đã hơn 50 năm rồi hành cung Bố Đạt La vắng bóng chủ nhân thực sự của nó. Người Tạng cũng không còn lui tới đây thường xuyên, có chăng chỉ đi vòng kora khổng lồ dưới chân điện. Có sinh có diệt, vạn vật vô thường, Đức Thích Ca cũng từng truyền dạy điều đó áp dụng cho cả Phật pháp; mới nghe sao thấy dễ dàng nhưng đến Lhasa đối diện với thực tại đang diễn ra từng ngày thì lòng cay đắng lắm! Nhưng nếu ai hỏi tôi ấn tượng nhất với Lhasa là gì, tôi vẫn sẽ trả lời: “Potala!”. Nếu bạn một lần đến Lhasa, xin hãy bỏ sức leo lên cung, cũng như bạn đã từng không ngần ngại leo Yên Tử, leo chùa Hương, leo Côn Sơn Kiếp Bạc; bởi tôi xin cam đoan với bạn một điều rằng trên cao gió bạt tiếng eo sèo.

Potala kể từ ngày đầu được vua Tùng Tán Cương Bố đặt nền móng năm 637 cho đến lúc Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 mở rộng năm 1645 đã kinh qua bao biến thiên đổi dời; ngày nay trở thành bảo tàng độc đáo cho kiến trúc và văn hoá Phật giáo của người Tạng trên cao nguyên. Và khi đêm về trăng lên là lúc phô bày vẻ đẹp lưỡng tông Hồng-Bạch huyền ảo bí ẩn đó:

Trong cái nắng hè oi ả của kinh đô ánh sáng lúc nào cũng ngập tràn ánh mặt trời, tôi đến thăm tu viện Sera, 1 trong 3 ngôi đạo tràng quan trọng bậc nhất của thủ phủ Lhasa. Ấn tượng của tôi về ngôi đại tùng lâm này là hàng cây rợp bóng trong khuôn viên tu viện và nét mặt hứng khởi của những Tăng sĩ tuổi còn rất trẻ đang sôi nổi truy bài trong vườn Biện Kinh:

Nội dung của những cuộc tranh luận khẩu chiến này tôi không được biết, nôm na người đời bảo đó là cách để đào sâu hiểu biết về Phật điển, nâng cao tri thức trong quá trình tu học, và cũng là cách tinh tiến để đạt cảnh giới cao hơn. Tổng cộng có 6 cấp bậc trong giới Tăng sĩ Tây Tạng và việc vấn đáp sát hạch là bắt buộc để đạt được tới cấp thứ 4! Hoá ra có cách ngồi tập trung thiền định thu mình vào trong để tự giác ngộ, cũng lại có cách biện giải huyên náo để lĩnh hội giới luật như thế. Hoàng Mạo Giáo là tông giáo chú trọng nhất vào việc học đạo đúng cách, đề cao sự rèn luyện của Tăng chúng; hôm nay tôi đã được thấy phần nào điều đó:

Rời Lhasa tôi lại rong ruổi trên con đường thiên lý đến thăm thành phố lớn thứ 2 của Tây Tạng: Shigatse. Ngày đi Shigatse cũng là ngày nhiều sự kiện với tôi khi được tận mắt ngắm những kỳ quan thiên tạo và nhân tạo tuyệt diệu của Tây Tạng. Có ai không nín thở khi đứng trên đèo Karola cao hơn 5000m để ngắm màu xanh ngọc kỳ lạ của hồ San hô Yamdrok-tso đẹp ngỡ ngàng đang uốn lượn dưới chân đỉnh băng vĩnh cửu Nojin Kangtsang sừng sững ở độ cao 7191m:

Vị nữ thần nào năm xưa đã hoá thân vào hồ Yamdrok kỳ ảo này để ngày hôm nay tôi đứng đây chôn chân trong nắng gió ngắm nhìn cảnh quan mà lòng cảm khái trào dâng, thêm giận mình bất tài không tả được cái đẹp siêu nhiên chốn này!

Con đường xuống đèo chạy song song với bờ hồ mang lại góc nhìn khác về Yamdrok-tso, một góc nhìn tâm linh. Ai đến hồ cũng sẽ để ý thấy hàng ngàn ụ đá nhỏ có theo hình dạng stupa rải rác gần mép nước mà người Tạng hàng năm đi hành hương qua đây đều cung kính xếp lại như để lưu dấu trong cõi trần ai này, họ đã đến đảnh lễ chốn hồ thiêng vinh danh Phật pháp.

Khi xe chạy qua lên đỉnh đèo Karola (4960m) là lúc tôi được nhìn gần Nojin Kangtsang hơn, ngắm nhìn cái chói chang của đỉnh băng trong nắng trưa và rùng mình trong cái lạnh không cắt nghĩa được, cũng là dịp khẳng định một điều tôi đã tâm niệm từ lâu về Tây Tạng: Tuyết nơi đây trắng sạch nhất thế gian!

Dấu ấn thiên tạo của Tsang là thế, còn dấu ấn nhân tạo thì sao? tôi dừng chân bên trấn anh hùng Gyantse nghe lại câu chuyện pháo đài Gyantse Dzong nơi bao người Tạng ngã xuống đền nợ nước trong buổi đầu xâm lược của thực dân Anh năm 1904. Một thế kỷ đã qua rồi, pháo đài Dzong ngày nay vẫn sừng sững giữa thị trấn, tiếng súng gươm đã lùi vào quá khứ nhưng cuộc tranh đấu âm thầm lặng lẽ liệu đã thôi âm ỉ?

Gyantse là thị trấn nhỏ và nghèo, đường đi vắng lắm, những ngôi nhà lầm lũi như khô cháy dưới nắng cao nguyên, bóng người Tạng thấp thoáng dưới mái hiên, con đường giữa trấn như hoàn toàn tách biệt bởi dòng xe du lịch cứ chạy rầm rập, ngồi trên xe là khách thập phương tứ xứ như chúng tôi đây, chắc không có ai dừng lâu nơi này để nói được lời chào đúng nghĩa. Chạnh lòng nghĩ đến câu của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: “người vô tâm nhiều như gió bụi trên đường”

Cách pháo đài Dzong không xa là quần thể tu viện Pelkhor Chode – nơi hoà quyện tâm linh và dung dưỡng của 2 tông giáo Tát Ca và Cách Lỗ của Tây Tạng, một hình thức tổng hoà độc đáo mà tôi bấy giờ mới có dịp diện kiến. Chưa chạy đến cổng tu viện đã thấy thấp thoáng phía xa công trình kiến trúc “dị thường” nhất của toàn vùng Tsang nói riêng và cả Tây Tạng nói chung: tháp Thập Vạn Phật

Đếm sao cho đủ chi tiết mười vạn tranh tường, bích hoạ, tượng Phật, khám thờ … bên trong tháp; chỉ biết rằng ai đến đây cũng giật mình bởi kiến trúc Stupa Muôn cửa khổng lồ đã được người Tạng nghiêm cẩn dựng lên thành kỳ quan giữa cao nguyên! Kia là 4 tầng đáy của Tứ diệu đế và 4 đôi mắt hiền từ của đức Thế Tôn đang nhìn ra bốn phương; trên nữa là 13 nấc thang phấn đấu của đời người dẫn lên cõi Niết bàn; trên thượng tầng tháp là sự minh triết, là vòm trời xanh với trăng sao mây trắng nắng vàng. Kiến thức bản thân còn hạn hẹp mà biển trí huệ thì bao la, tôi chỉ biết gửi gắm những điều mình thấy qua vài bức ảnh.

Màu sắc của Kumbum – Thập Vạn Phật tự bên trong và cả bên ngoài phải dùng tính từ dữ dội để diễn tả! Nếu sắc bao quát trắng-đỏ-tím bên ngoài tháp chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiến trúc Nepal thì bên trong mỗi khám thờ tôi bắt gặp cách phối màu rực rỡ và có phần siêu thực của người Tạng. Mỗi gian điện lần lượt là các bức tượng thờ Quán Thế Âm, Thanh Đa La, Bạch Đa La, Tu di, Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền Bồ Tát thì trên tường và trần là sẽ là vô vàn hoạ hình tương ứng. Tôi còn nhớ mãi khi đó trong lúc mắt quáng tay run chân mỏi, tôi bước vào 1 khám thờ rất tối và khi ngước lên bắt gặp tượng thân của Đức Phật Thích Ca toàn một màu đỏ sậm khoác y vàng đang nhìn xuống. Lòng tôi vừa kính sợ vừa thích thú, lễ tạ Ngài xong tôi đi lùi ra cửa mà không dám nâng máy lên chụp. Đây có lẽ là gian điện duy nhất tôi không dám chụp ảnh dù được phép.

Trên đường leo lên tháp, tôi gặp nhiều gia đình người Tạng 2-3 thế hệ cũng đang đi tham bái Kumbum, chúng tôi cùng lần từng bước lên những bậc thang nhỏ hẹp quanh co để khi lên đến đỉnh thì trao nhau nụ cười và cái gật đầu thay lời chào giữa những người không cùng ngôn ngữ. Tôi leo Kumbum mà cứ thắc mắc mãi, người Tạng vốn khá cao to mà sao những cầu thang họ làm nhỏ thế để vừa leo vừa lo đụng đầu? thế rồi tôi tự tìm cho mình lời giải đáp: Có phải chăng từ lúc sinh thời họ đã gắn bó với Phật giáo, khi còn nhỏ họ đã đến thăm viếng nơi đây và khi đã tuổi già xế bóng thì con cháu lại đưa họ tìm về chốn cũ? Nếu xa xưa lúc còn thơ bé đã có dịp vào nơi này thì chẳng phải thế giới quan hoá ra rất rộng lớn hay sao!

Đứng trên Kumbum lúc này chính ngọ, tôi nhìn bao quát toàn trấn Gyantse đang được mặt trời dát vàng ở cao độ xấp xỉ 4000m mà thầm cảm phục câu nói đầy tính triết lý của thi hào Goethe: “Über allen Gipfeln ist Ruh” – Trên tất cả những đỉnh cao là bình yên.

Rời Kumbum, con đường xuyên vùng Tsang đưa tôi đến điểm dừng cuối: tu viện Tashilhunpo ở trung tâm thành phố Shigatse, là nơi tiếp diễn sự truyền thừa của dòng Ban Thiền Lạt Ma. Những tranh chấp phức tạp nhiều thế hệ hiển hiện trong lòng xã hội chính trị-tôn giáo Tây Tạng và cả sự ganh đua giữa 2 đô thị Nhật Khách Tắc và Lạp Tát sẽ là đề tài thu hút bất cứ ai đặt chân đến đây.

Trát Thập Luân Bố ngày nay là nơi tu học của Tăng sĩ vùng Tsang, cũng là điểm du lịch không thể bỏ qua. Câu chuyện dòng Đạt Lai Lạt Ma và Ban Thiền Lạt Ma; người là học trò, người là thầy dạy; cả 2 dòng đều là những đệ tử lỗi lạc của Hoàng Mạo Giáo thờ chung thầy là đại sư Tông Khách Ba; cả 2 dòng đều có tái sinh; mỗi dòng vừa có nhiệm vụ tiếp tục truyền thừa vừa thụ ấn người tái sinh của dòng kia. Mới nghe sao mà rắc rối và biết bao điều cơ mật đi kèm, kẻ hậu sinh như tôi quả không dám lạm bàn!

Bước đi trong Tashilhunpo, tôi bị thu hút bởi tông màu đỏ rực đầy uy quyền của 4 toà điện lớn nhất trong khuôn viên viện cùng những mái vàng ròng phô bày xa hoa minh chứng cho tài nghệ xuất chúng của người Tạng.

Hình ảnh bức tượng Phật tương lai Di Lặc cao 27m với đôi mắt xanh hiền hoà trong điện Jamkhang Chenmo cùng với sân Kelsang rộng lớn bao bọc 4 phía bởi nhưng bức tường đầy màu sắc hoạ hình đức Phật trong muôn ngàn ấn thủ chắc sẽ còn đeo đuổi tôi mãi …

Thiên nhân đồng điệu ^^ tạm biệt những công trình nhân tạo đượm màu tôn giáo vùng Tsang, tôi đi dọc theo dòng Nhã Lung trở lại vùng U để ngắm những nét thiên tạo khốc liệt khác mang bản sắc cao nguyên. Đứng trên triền dốc nhìn ra con sông Yarlung Tsangpo đang chảy giữa lòng U-Tsang, tôi mừng gặp lại người bạn cũ. Mới vài ngày trước tôi lần đầu gặp Nhã Lung khi sông uốn lượn hiền hoà dưới chân đỉnh Namche Barwa đoạn chảy qua rừng xanh Lulang; còn ngày hôm nay sông như xanh hơn in bóng trời trong vắt chảy xuyên qua những vùng đất trống núi trọc cực kỳ hiểm trở, hai bên là lạo xạo sỏi đá. Tôi nhặt vài viên đá và ném mạnh ra xa, dù đã thử nhiều lần và dùng hết sức, hòn nào hòn nấy chỉ rơi xuống lạch cạch và dừng lại bên bờ mép nước. Quá xa, quá rộng, quá hùng tráng! còn con người thì quá nhỏ bé! Ngay cả con đường 318 mệnh danh là Quốc lộ Trung Hoa cũng chỉ như đường kẻ vạch trên tấm màn mênh mông bao bọc bởi trời nước núi non.

Năm xưa vương triều Nhã Lung hùng mạnh rời đô từ thung lũng Yarlung vùng Kham về Lhasa chắc chắn đã qua đây. Bao nhiêu người đã đến và bao nhiêu người sau này sẽ tới, liệu họ có như tôi cũng đứng trước sông và ngâm ngợi về quá khứ vị lai của mảnh đất này? Lý Nhuệ dành trăm trang sách Ngàn dặm không mây để viết về thôn Ngũ Nhân Bình “hai năm không mưa, nắng như thiêu đốt”; có ai đã viết cho nơi đây những lời công bằng? Mà nào có hề chi với dòng Nhã Lung hùng tráng, “Chảy đi sông ơi – Băn khoăn làm gì? – Rồi sông đãi hết – Anh hùng còn chi?”

Trở về vùng U, tôi đi thăm một nơi linh thiêng nằm trong Tứ đại hồ thiêng của người Tạng: thánh hồ Nam-tso. Nằm ở độ cao hơn 4700m, lại bao bọc bởi rặng Nyenchen Tanglha với đỉnh cao chạm trời 7162m, hồ Nam-tso rộng đến 1920 cây số vuông, gần gấp 3 lần quốc đảo Singapore! “Nhỏ” như Singapore tôi còn chưa có dịp đi hết, đứng trước hồ mà tôi tâm phục khẩu phục. Phải gọi nơi đây là biển! biển trời, biển nước, biển gió, biển mây, và may sao không phải biển người ^^

Phong vô tướng, vân vô thường, muốn cảm nhận hết vẻ đẹp và sự linh thiêng của Nam-tso đã là khó rồi, nói chi đến việc nắm bắt dáng hình đang trải dài trước mắt. Khuôn hình tôi có hạn, cảm nhận còn thô vụng, xin tặng lại Nam-tso vài phút giây ngày nắng đẹp tôi đến – một trong muôn ngàn vẻ đẹp khôn tả của chốn biển hồ trên núi, dằng dặc một khúc ca giữa bao la mây trời.

Kỷ niệm với Nam-tso trong tôi còn là buổi trưa rất vui giữa lều 1 gia đình người Tạng sát mép hồ, nơi tôi được thư thả cạn chén trà sữa bò Yak và ăn món sữa chua gia đình làm. Nồng lắm, đậm lắm, béo lắm, khó ăn lắm nhưng hãy ăn đi bởi biết đến bao giờ mới có dịp lên Tây Tạng chỉ để ngồi uống với nhau chén trà như thế?

Tôi rời Nam-tso khi ánh nắng vẫn chưa tắt trên mặt hồ. Cảnh hồ đẹp vô song nhưng tôi cầm lòng không bước xuống để chạm vào mặt nước. Có lẽ mai sau tôi sẽ luyến tiếc vì bỏ mất cơ hội đó, cũng có thể lắm bởi tôi vẫn tham-sân-si

Sang ngày thứ 9 của cuộc hành trình, tôi tạm biệt vùng U để trải nghiệm một điều thú vị khác: đi trên tuyến đường sắt độc đáo nối liền Tây Tạng và người anh em thuở trước: cao nguyên Thanh Hải. Có 2 điều tôi thích thú với đường sắt này, không phải ở những cái “nhất” đã được nghe liệt kê: một là tôi có dịp được ngắm phong cảnh giao thoa giữa ‘Tạng’ và ‘Thanh’ hay chính là vùng U với Amdo thuở trước; hai là tôi có thời gian ngồi chép lại đọc lại những điều dồn dập tôi đã thấy trong vài ngày trước mà cho dù chuẩn bị kỹ càng trước khi đi nhưng tôi không thể ngờ bức màn phía Tây lại che phủ quá nhiều điều lạ lẫm phải tai nghe mắt thấy mới thoả lòng.

Tàu hoả thì vẫn là tàu hoả, nhưng nếu nói thế mà bỏ qua cung đường này thì quả là đáng tiếc. Hãy thử tưởng tượng khi bạn đang yên vị trên tàu chạy băng băng giữa cao nguyên thì nhác thấy 1 đàn cừu con trắng con đen đang bê tha gặm cỏ, bạn vừa nâng máy lên chưa kịp chỉnh ống kính thì tàu chạy qua mất, tiếc lắm, giận lắm, lại chong mắt lên chờ đợi và mai phục, cứ thế bạn luôn tay bấm máy, thu hết những gì đẹp và không đẹp lộ qua khung cửa. Tôi dám cá rằng có những lộ trình đẹp mà trong đời bạn chỉ đi với số lần cực kỳ hữu hạn, đường sắt Thanh-Tạng là một trong số đó!

Trong một phút vô tình của những lúc chong mắt chờ đợi và mai phục đó, dãy Khả Khả Tây Lý chào tôi từ phía rất xa. Sẽ có ngày tôi tạ lỗi với Kekexili bằng những hình ảnh đầy đủ và sống động hơn thay lời chào vội vàng tối nay:

Hành trình càng thú vị thì thời gian như càng trôi nhanh hơn! Khi bóng tối đã buông, tôi cảm tưởng con tàu rất đơn độc, phóng băng băng một mình qua thảo nguyên lúc này đã rơi vào tĩnh mịch. Nhìn đồng hồ tôi giật mình khi thấy đã sang ngày mới, đây là lần duy nhất trong 11 ngày xuôi ngược mà tôi thức khuya đến thế. Một ngày đi qua, tôi đã ở trong địa phận Thanh Hải, và phía xa mặt trời cao nguyên đang lên dần với sắc đỏ dịu mắt khác với cái chói chang thường gặp ở Tây Tạng. Tôi không nhớ lần cuối tôi được nhìn thẳng vào mặt trời như thế này là dịp nào:

Ra đến Tây Ninh, Thanh Hải, tôi tưởng rằng những gì ấn tượng nhất đã qua và ngày cuối là lúc nghỉ ngơi thư giãn nhưng tôi đã nhầm! Một vùng đất tiếp giáp với Tân Cương, Tây Tạng, Cam Túc, Tứ Xuyên; là mái nhà chung của người Tạng, Hán, Hồi, Mông Cổ; là quê hương của những con sông lớn tầm thế giới như Hoàng Hà, Trường Giang, Mekong; cũng là nơi hơn 650 năm trước sinh ra tổ sư Hoàng Mạo Giáo và sau đó gần 600 năm lại đản sinh vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 Tenzin Gyatso. Nơi đây kỳ lạ và thâm nghiêm vượt xa tầm với của bất cứ ai!

Điểm đầu chúng tôi ghé thăm là hồ Thanh Hải rộng mênh mông, xếp hạng là hồ nước mặn lớn nhất trên đất liền của Trung Hoa. Tôi dám cược rằng sớm thôi người Tạng cũng sẽ mất tiền để vào khu vực này vì quanh hồ người ta đang hối hả xây dựng khu resort mang phong cách Tạng! chắc sẽ là khu resort đầu tiên trên thế giới mang phong cách này cũng nên! Điểm dừng thứ hai là tu viện Tháp Nhĩ nằm ở vùng Hoàng Trung, ngôi đạo tràng lớn nhất và quan trọng nhất của phái Cách Lỗ ở Thanh Hải và được mệnh danh là tiểu Potala của Tây Tạng.

Bóng cũ dáng xưa có phần mai một, tu viện Taer nay đã mấy trăm năm tuổi. Nền cũ nơi mẹ Tông Khách Ba dựng stupa cho Ngài gửi gắm vào đây bao nhiêu tình mẫu tử giờ được tôn tạo lớn hơn, đẹp hơn; câu chuyện xung quanh tuổi thơ và sự đản sinh khác thường của Ngài cũng được thêu dệt bóng bẩy hơn. Niềm tin tôn giáo vừa khiến tâm hồn người ta thảnh thơi hướng thiện nhưng cũng là cách sinh lợi cho nhiều người; âu là thuận thời thế thế thời phải thế.

Taer có đến 4 học viện với nội dung học thuật rộng lớn nhưng có vẻ việc Biện kinh tranh luận không được đề cao như trong Lhasa. Tăng sĩ trẻ có, già có, nhìn vừa gần gũi với đời, vừa xa rời lạc lõng. Nếu đem thước đo tiêu chuẩn của giới luật ngày xưa mà xét thì chắc là ngày nay chắc đã xé rào nhiều. Đúng là sự đời vần vũ như mây gió, đổi thời gian đổi cả không gian

Chỉ ở được Thanh Hải 1 ngày tôi đã phải nói lời chia tay và cũng là lúc tạm biệt Tây Tạng, mảnh đất rộng lớn linh thiêng. Thiên Lý Nhãn nhìn xa muôn dặm, liệu có thấy hết những núi cao vực sâu chốn này? Thuận Phong Nhĩ nghe ngoài nghìn trượng, liệu có rõ câu chú ngân nga trong nắng trong mưa và trong tim mỗi người dân Tạng? Gió mây sẽ lại đi về trên nóc nhà thế giới như tự ngàn năm nay vẫn chẳng đổi thay, sẽ tiếp tục thổi tung bay triệu triệu lá cờ ngũ sắc in kinh Phật giăng khắp cao nguyên. Trong lòng tôi tràn đầy xúc động và hạnh phúc bởi cũng có ngày tôi bắt kịp chính mình trong giấc mơ khi trước, bắt kịp mây gió để được một lần trong đời đặt chân đến nơi đây.

3. Ngày về

Tôi rời cao nguyên Thanh-Tạng trong đêm, sáng mai tôi sẽ trở lại với cuộc sống thường nhật ồn ào bận rộn. Sau này có dịp trở lại không biết cảm giác của tôi sẽ ra sao? Mừng vì lại được rong ruổi trên đường thiên lý thăm viếng cố nhân? Lo vì khi đó sức khoẻ và nhiệt tâm liệu còn mạnh mẽ? Buồn vì thời gian tuy trôi nhanh nhưng chưa bằng những biến thiên đa cực cuồn cuộn trong lòng Tuyết Quốc? hay tôi sẽ sợ vì không dám đối mặt với một Tây Tạng quá mới mẻ? Tôi vừa thu được và vừa đánh mất mười một ngày! Có hề gì đâu? Thời gian và mảnh đất này thật là hào phóng. Tây Tạng của ngày hôm qua, hôm nay, và mai sau sẽ luôn hào phóng như thế, dang tay chào đón những ai muốn đến đây để chiêm bái sự hùng vĩ của thiên nhiên hoà quyện với cái đẹp tâm linh của nền Phật giáo Đại thừa Mật tông thâm hậu, dẫu biết rằng vạn vật trên đời không ra khỏi vòng sinh-diệt-tái sinh. Với cuộc đời này, với sự hào phóng ấy, phải sống nhanh lên, có ích hơn, và không chờ gì cả. Có lẽ ngày xưa chính là các Ngài sống thế!

Khi tôi chia sẻ câu chuyện của mình về Tuyết Quốc, người trẻ thì háo hức, người già thì trầm ngâm. Có người hỏi vì sao tôi có nhiều đam mê với mảnh đất Tây Tạng và văn hoá nơi đây đến thế? Tôi đồ rằng kẻ ngoại đạo như tôi giống tấm vải trắng dễ ăn thuốc nhuộm, hiểu biết hạn hẹp của tôi giống cốc nước vơi rất dễ đong đầy; nên khi vén mây bước vào thế giới siêu thực này, tôi đã được thoả lòng mong đợi ^^

Giữa bầu trời lịch sử, ấy muôn triệu ánh sao
Trong dân gian vạn thưở, ấy muôn triệu đoá hoa!

Hôm tôi ở Singapore trời cũng nắng, nhưng là cái nắng “điều hoà”, một thứ nắng xoàng.

Câu chuyện tôi kể các bạn nghe đến đây là hết.

Tây Tạng Du Ký – Ngày 2: đi Nyingchi

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 28-06-2010

3

Trước khi tiếp tục bài viết ngày 2 trong hành trình về phía Tây, xin cùng bạn đọc điểm qua những nét chính về vị trí địa lý, địa hình và thổ nhưỡng vùng đất Tây Tạng, từ đó liên hệ các phương thức di chuyển thông dụng mà du khách khắp nơi trên thế giới sử dụng để hàng năm lũ lượt đổ về đây

1. Tổng quan về địa lý Tây Tạng

Khu tự trị Tây Tạng (Tibet Autonomous Region – TAR) là 1 trong 5 khu tự trị lớn (KTT) của Trung Quốc (bên cạnh KTT Nội Mông – Inner Mongolia, KTT Ninh Hạ – Ninhxia, KTT Tân Cương – Xinjiang, KTT Quảng Tây – Guangxi), trải rộng trên diện tích hơn 1,23 triệu km2 thuộc cao nguyên Thanh Hải – Tây Tạng (Qinghai – Tibet plateau) ở độ cao trung bình 4000m so với mực nước biển. Với hơn 50 đỉnh núi cao trên 7000m, trong đó có 11 đỉnh cao hơn 8000m, và 4 trong số đó nằm trong danh sách 10 đỉnh núi cao nhất thế giới; Tây Tạng được xưng tụng là nóc nhà của thế giới. Bên ngoài có đường biên giới với các nước Ấn Độ, Nepal, Myanmar, Bhutan; bên trong giáp với các vùng Tân Cương (Xinjiang), Thanh Hải (Qinghai), Tứ Xuyên (Sichuan) và Vân Nam (Yunnan) của Trung Quốc nên Tây Tạng (Xi Zang) giữ vai trò cực kỳ quan trọng về mọi mặt địa lý, chính trị, văn hoá, xã hội.

Địa giới cũ của vùng Tây Tạng được chia làm 5 vùng lớn: U (ở trung tâm), Tsang (thường được nhập chung lại gọi là vùng U-Tsang), Kham (ở phía Đông), Ngari (ở phía Tây), và Amdo (ở phía Bắc).

Vì những lý do nhạy cảm và yếu tố lịch sử, KTT Tây Tạng theo bản đồ Trung Quốc ngày nay được chia ra gồm 6 địa khu (prefectures) và 1 địa cấp thị là (5) Lhasa (còn gọi là thành phố cấp địa khu, prefecture-city level) – nằm giữa tỉnhhuyện (ở Việt Nam không có cấp này).

6 địa khu kia gồm:
- (1) Ngari: trung tâm hành chính là huyện Gar (Gar county)
- (2) Nagqu: trung tâm hành chính là huyện Nagqu (Nagqu county)
- (3) Qamdo: trung tâm hành chính là huyện Qamdo (Qamdo county)
- (4) Shigatse (hay Xigaze): trung tâm hành chính là thành phố Shigatse
- (6) Shannan (hay Lhoka): trung tâm hành chính là huyện Nedong (Nedong county)
- (7) Nyingchi: trung tâm hành chính là huyện Nyingchi County (Nyingchi county)

Mỗi phân vùng khu vực của Tây Tạng lại có những đặc thù riêng kèm theo là các địa điểm du lịch khác nhau, tất cả tập hợp thành 1 quần thể văn hoá mang đầy đủ biểu trưng tôn giáo, tín ngưỡng kỳ lạ và độc đáo nhất thế giới! (chi tiết về Lịch sử Tây Tạng và Tổng quan Phật giáo Tây Tạng sẽ được gửi đến bạn đọc lần lượt trong các bài sau)

2. Cửa ngõ chính vào Tây Tạng

2.1. Đường không: các chuyến bay đến Tây Tạng xuất phá từ thủ đô Kathmandu của Nepal hay từ các thành phố lớn của Trung Quốc bao gồm: Bắc Kinh (Beijing), Thành Đô (Chengdu), Trùng Khánh (Chongqing), Quảng Châu (Guangzhou), Côn Minh (Kunming), Thượng Hải (Shanghai), Hongkong, Tây An (Xi’an), Tây Ninh (Xining), và Trung Điện (Zhongdian, hay Shangri-La). Nếu du khách bay nội địa Trung Quốc thì có thể đặt vé điện tử thuận tiện ở các trang như Ctrip hay eLong

Điểm đến chủ yếu là sân bay Gonggar ở Lhasa hoặc sân bay Linzhi ở Nyingchi. Ngoài 2 sân bay này, Tây Tạng còn 1 sân bay thứ 3 là Bangda nằm ở Qamdo nhưng do đặc điểm xa xôi nên bị hạn chế về tuyến bay.

2.2. Đường bộ: các tuyến xe buýt vào Tây Tạng thường có đặc điểm chung là giá đắt và mất nhiều thời gian, kèm theo những khó khăn về việc ăn uống ngủ nghỉ đường trường. Ví dụ từ Golmud, Thanh Hải vào Lhasa mất 20 tiếng; từ Tây Ninh, Thanh Hải vào Lhasa mất 2.5 ngày; từ Thành Đô, Tứ Xuyên vào Lhasa mất 3 ngày 4 đêm! Thuận lợi lớn nhất là khách du lịch có nhiều thời gian để thích nghi với độ cao tăng dần của vùng Tây Tạng và ngắm cảnh giữa đường đi

2.3. Đường sắt: tuyến đường sắt Thanh-Tạng (Qingzang) là tuyến đường sắt duy nhất nối liến Lhasa trong Tây Tạng đến các thành phố lớn của Trung Quốc như Golmud (14 tiếng), Tây Ninh (24 tiếng), Lan Châu (28 tiếng), Thành Đô (48 tiếng), Trùng Khánh (49 tiếng), Bắc Kinh (48 tiếng), Thượng Hải (51 tiếng), Quảng Châu (60 tiếng). Từ khi xây dựng và đi vào hoạt động năm 2006, tuyến đường sắt này mỗi ngày đưa hàng nghìn người vào Lhasa, nổi danh với cung đường đẹp độc đáo và cao nhất trên thế giới!

Chú ý: tại thời điểm viết bài này, để có thể vào được Tây Tạng, tất cả các du khách không có hộ chiếu Trung Quốc đều phải xin giấy thông hành (Tibet Entry Permit), đồng thời khi đi tham quan các vùng lân cận Lhasa sẽ đòi hỏi có thêm giấy phép (Alien’s Travel Permit). Nên cách thuận tiện nhất và gần như duy nhất là tham gia vào các tour du lịch được tổ chức cho Tây Tạng để có thể dễ dàng vào ra nơi đây. Các tour du lịch đi Tây Tạng có thể tìm thấy ở các địa chỉ đáng tin cậy trong các thành phố lớn như: Sim’s Cozy Travel hay Mix Hostel ở Thành Đô.

Với người viết, sau khi cân nhắc thời gian, lộ trình cũng như kinh phí, đã quyết định chọn tour du lịch của CS Travel từ Singapore có đối tác là Grand Himalaya ở Thượng Hải. Đặc điểm riêng của tour này là sẽ vào Nyingchi để khám phá Tây Tạng từ phía Đông (vùng Kham), từ đó di chuyển bằng bus đi Lhasa và Shigatse cùng các địa điểm lân cận (vùng U-Tsang), sau đó theo tuyến đường sắt Thanh-Tạng vượt qua vùng Amdo để đến được Tây Ninh, Thanh Hải ^^

3. Đôi nét về Nyingchi

Nhắc đến Tây Tạng, người ta như nghe âm vang câu chuyện núi đồi và thảo nguyên, hình dung ra trong cái nắng vàng cháy da cháy thịt hay gió lạnh mênh mông là sừng sững những cao độ ghê người và khắc nghiệt. Nhưng Tây Tạng – the Land of Snows thực ra rộng lớn hơn thế, bên cạnh cái trắng loá của núi tuyết, cái cao thẳm xanh vời vợi của trời mây, cái tận cùng chập chùng của núi non còn có màu xanh khắc khoải mê lòng của cửa ngõ phía Đông Tây Tạng mà người dân nơi đây tự hào phong tặng cái tên Thiên đường xanh (The Green Paradise).

Kham với cái tên Tạng cổ là Chushi Gangdruk nghĩa là “Bốn con sông và Sáu dãy núi” có trữ lượng nước dồi dào nhờ sự bồi đắp của sông Mekong, Dương Tử (Yangtze), Nhã Lung (Yarlung Tsangpo) và Nộ Giang (Salween) nên khí hậu ôn hoà với nhiều rừng cây thác nước, khắc hẳn với các vùng còn lại của Tây Tạng, mùa mưa ở đây kéo dài từ tháng 6 đến tháng 9. Điểm dừng chân quen thuộc bên trong vùng Kham là quận Nyingchi có thủ phủ là thị trấn Bayi.

Nhắc đến Nyingchi – cửa ngõ cách Lhasa 400km – là nhắc đến Switzerland của Tây Tạng với những địa danh như:
- Sông Nyang và hẻm núi Yarlung Tsangpo Grand Canyon
- Tu viện Lamaling – tu viện Phật giáo của trường phái Nyingma (Nyingma sect) – sẽ được nói kỹ hơn trong phần Tổng quan về Phật giáo Tây Tạng
- Thung lũng Kading (Kadinggou)
- Rừng nguyên sinh Lulang (Lulang forest)
- Hồ Basum-tso (hay Basumco)
- Cây Bách 2500 tuổi (King Cypress)

Tạm biệt Thành Đô, người viết đón chuyến bay đi Nyingchi vào sáng ngày thứ 2, chuẩn bị tinh thần “sốc” độ cao từ mức trung bình 500m của Thành Đô lên khoảng 3000m ở Nyingchi. Thuốc độ cao cũng đã được chuẩn bị sẵn (giá 80RMB/hộp 10 lọ) nhưng rất may là cũng không cần dùng đến

Đường bay Shuangliu – Linzhi mất 2 tiếng qua những nóc nhà thế giới ^^ Vài hình ảnh phấn khích của con đường mây trắng nhìn từ cửa sổ trên trời:

Đặt chân xuống sân bay Linzhi, ấn tượng đầu tiên là không khí quang đãng mát mẻ cực kỳ, đường băng rộng rãi chạy giữa hẻm núi xanh. Linzhi để lại ấn tượng tốt đẹp hơn nhiều so với sân bay Cửu Trại Hoàng Long ở Cửu Trại Câu Lúc này nhiệt độ ngoài trời khoảng 13 độ C, trời nhiều mây không mưa gió nhẹ, hành khách ai cũng thấy dễ chịu thoải mái chứ không bị mệt mỏi nhức đầu ^^

Sân bay Linzhi không lớn, mỗi ngày chỉ có vài chuyến của AirChina đáp nên sân bay không ồn ào lộn xộn. Phía ngoài sân bay đậu toàn xe buýt tour và xe SUV sẵn sàng đưa du khách vào Nyingchi (khoảng 70km).

Vừa ra khỏi sân bay được 5′ đường đi là trạm gác đầu tiên kiểm tra giấy thông hành Hành khách tuy không cần xuống xe nhưng đều phải đưa hộ chiếu để kiểm tra, xem ra việc đi “chui” qua những chỗ này là không thể (Vì các trạm gác đều cấm chụp ảnh nên người viết không có hình ảnh nào làm tư liệu, chỉ có thể nói ngắn gọn là rất nhiều các trạm gác như vậy tại những điểm quan trọng như cửa ngõ sân bay, trước khi qua cầu, hay cửa ngõ thành phố; xe nào đến cũng phải dừng để tài xế hay hướng dẫn viên du lịch cầm hộ chiếu + giấy tờ xuống kiểm tra)

Vượt qua trạm gác đầu, xe bon bon lao trên đường cao tốc nhắm hướng Nyingchi thẳng tiến, trên đường dừng lại 1 lần bên bờ sông Nyang (1 nhánh sông lớn của sông Yarlung Tsangpo) và người viết đã có những hình ảnh đơn sơ đầu tiên về Tây Tạng:

Vào đến thị trấn Bayi trời đã sang trưa, vì để luyện tập thích nghi với độ cao, cả đoàn ăn trưa nhẹ và về khách sạn nghỉ ngơi. Đường vào Bayi:

Khách sạn: Nyingchi Business Hotel (địa chỉ: No. 16 GuangZhou Road, Bayi Town, Nyingchi, Tibet) toạ lạc ngay trung tâm thị trấn, tuy là khách sạn 3 sao nhưng chất lượng chỉ ở mức vừa, giá phòng theo biển đề thì khoảng 600 RMB/đêm (có ăn sáng) nhưng thuê theo tour sẽ luôn có giảm giá:

‘Hàng xóm’ là khách sạn quân đội Fujian Hotel, trong sân la liệt xe Land Cruise với Prado

Bữa trưa đầu tiên kiểu Tạng, và là bữa ăn phổ biến ở vùng này mà du khách đến Tây Tạng chắc chắn sẽ thử qua vài lần:

Bayi trong tiếng Trung có nghĩa là “Bát Nhất”, được đặt theo ngày 1 tháng 8 ngày khởi nghĩa Nam Xương, cũng là ngày thành lập lực lượng Giải phóng quân Trung Quốc (People’s Liberation Army – PLA), tiền thân của Quân đội nhân dân Trung Hoa; còn người Tạng thì hay trêu đùa 8-1 là tỉ lệ người Hán-Tạng trong vùng này (cứ 8 người Hán có 1 người Tạng) Tuy nhỏ nhưng Bayi giữ vai trò huyết mạch trong địa khu Nyingchi nói riêng cũng như phía Đông Tây Tạng nói chung. Cũng với lý do đó, Bayi tập trung rất nhiều trụ sở quân đội cỡ nhỏ và vừa, đi đâu cũng thấy huy hiệu quân đội và lính gác, tất nhiên như thường lệ là cấm chụp ảnh Vì thế mà LonelyPlanet – Tibet luôn khuyến cáo khách du lịch đơn lẻ nên ‘tránh xa’ khu vực Nyingchi để khỏi phiền hà.

Dạo quanh Bayi, người viết không có cảm nhận gì đặc biệt, nó có nét gì đó nhạt nhoà hao hao với phố mới Lệ Giang, nên coi là điểm dừng chân tạm ở vùng Kham mà thôi bởi nét Tạng nơi đây thật khó nhận biết qua những mái nhà hay góc phố, có chăng phải gặp gỡ người dân thì mới nhận ra những nét riêng còn phảng phất trên gương mặt họ … Ngoài người Hán và người Tạng, vùng này còn là nơi sinh sống của các tộc Hồi, Mãn, Mông Cổ.

Theo đồng hồ Bắc Kinh thì trời đã xế chiều, nhưng Bayi (và cả các vùng khác của Tây Tạng) vẫn còn rất sáng, phải đến sau 8pm thì mới thực sự tối. Theo lời khuyên nên hạn chế tắm nhiều và tắm lâu khi ở Tây Tạng đề phòng cảm lạnh, người viết đã có 1 buổi tối thư giãn thú vị sau khi dạo qua siêu thị Bayi mua đồ ăn đêm thì vào tiệm gội đầu gần khách sạn giá khá rẻ (25RMB) cho gội sấy và matxa bấm huyệt ^^ Xong xuôi về phòng nằm dưỡng sức, lúc này không khí về đêm loãng đi nhiều, trời trở rét và cảm giác thấm mệt bắt đầu xuất hiện qua triệu chứng đau đầu nhẹ và khan họng, nước uống bao nhiêu cũng không đỡ mệt, chỉ có cách duy nhất là nằm một chỗ và cố gắng ngủ để cơ thể tự điều chỉnh cho thích nghi hơn. Đây có thể coi là phản xạ đầu tiên khi thử sức ở Tây Tạng, tuy chưa thấm vào đâu so với trải nghiệm ở những ngày sau này khi đã vào vùng U-Tsang!


(Một bé gái đi cùng mẹ đến tiệm gội đầu)

Ngày 2 kết thúc trong giấc ngủ mê man nhức đầu … Xin hẹn trở lại với bạn đọc trong bài viết ngày 3 đi thăm thú các đia điểm du lịch của Nyingchi

Tây Tạng Du Ký – Ngày 1: Thành Đô

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 25-06-2010

14

Chuyến bay của AirChina chặng Singapore – Chengdu (Thành Đô) khởi hành 2h sáng đưa người viết đến với Thiên phủ chi quốc lần thứ hai ♥ Nếu như lần đầu “Bắc tiến” đã có dịp thưởng ngoạn Thành Đô trong ngày đông tháng giá thì lần này là trải nghiệm hoàn toàn mới giữa kinh đô đất Thục Hán mùa hè ^^

Changi Airport, trong lúc chờ bay:

Đúng như dự đoán khi đặt chân xuống sân bay Song Lưu (Shuangliu Airport), ngay cả giữa tháng hè nóng nực Thành Đô vẫn có bầu không khí dịu mát dễ chịu, trời nhiều sương và hiếm nắng, nhiệt độ trung bình ngoài trời ở khoảng 13-17 độ! Vì chỉ có 1 ngày ở Thành Đô trước khi bay đi Nyingchi (cực Đông của Tây Tạng) ngày hôm sau, người viết dành thời gian sáng đi thăm Vọng Giang Lầu (Wangjianglou), ăn trưa nhẹ với ẩm thực Tứ Xuyên (Sichuan), chiều ghé thăm Miếu Văn Thù (Wenshu temple) để ngoạn cảnh và uống trà, tối đi xem Xuyên kịch (Sichuan Opera)

1. Vọng Giang Lầu:

Xây dựng từ năm 1889 trên diện tích rộng hơn 120,000 m2 bên cạnh bờ sông Cẩm Giang (Jinjiang River) phía Tây kinh thành, Vọng Giang Lầu (Wangjianglou) nổi tiếng là nơi quy tụ nhiều loại tre trúc nhất của Thành Đô (bamboo park), cũng là nơi tưởng nhớ nữ sĩ Tiết Đào (Xue Tao) thời Đường. Cũng giống như Vũ Hầu Tự (Wuhou Temple) và Thảo đường Đỗ Phủ (Du Fu Thatched Cottage), Vọng Giang Lầu thường là điểm đến của khách phương xa muốn tìm hiểu thêm về lịch sử Thành Đô.

Đường vào Vọng Giang Lầu lúc sáng sớm tinh mơ:

Nhớ câu thơ Đỗ Phủ viết trong bài Đăng Lâu (Lên lầu) khi mới về Thành Đô:
Cẩm giang xuân sắc lai thiên địa
Ngọc Lũy phù vân biến cổ kim

(Sông Cẩm đang xuân giữa trời đất
Ðĩnh Ngọc mây vờn nối trước sau)
Tuy không nhằm vào tiết xuân nhưng không khí ban mai trong Vọng Giang Lầu rất sảng khoái trong trẻo, cây cối đường đi dọc bờ sông tươi tốt xanh um:

Uống trà, ngắm sông:

Rất dễ nhận ra người dân Thành Đô ở các góc nhỏ trong công viên đang tập thể dục buổi sáng:

Công viên Vọng Giang Lầu quy tụ hơn 150 loại tre trúc đa dạng, cũng là nguồn thức ăn tốt cho Gấu trúc Thành Đô (trung bình mỗi con hàng ngày ăn từ 20-30kg lá và cành tre trúc non)

Như đã nhắc đến ở trên, Vọng Giang Lầu còn được xây để tưởng nhớ nữ danh kĩ thời Đường Tiết Đào (Xue Tao) (768-831); bà không những xinh đẹp mà còn rất giỏi thi từ ca phú, từng là bạn xướng hoạ với nhiều thi nhân nổi tiếng như Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn. Giai thoại kể Nguyên Chẩn vì mến mộ tài năng thi phú và nhan sắc của bà đã làm thơ rằng:
Cẩm Giang hoạt nhị Nga My tú,
Sinh xuất Văn Quân dữ Tiết Đào.

(Núi sông đất Thục trời cho đẹp,
Sinh được Văn Quân với Tiết Đào) — “Văn Quân” ở đây chỉ Trác Văn Quân – vợ của Tư Mã Tương Như.

Bức tượng trắng của Tiết Đào có thể nhìn thấy bên trong Vọng Giang Lầu:

Ra về khỏi công viên Wangjianglou, trời đã sang trưa nhưng mặt trời vẫn chưa “mọc”, Thành Đô chìm trong sương nhẹ và mát mẻ, người viết ăn trưa bằng các món ẩm thực địa phương phong cách Tứ Xuyên (ít nhất phải 12 đĩa cho mỗi người, phần lớn là vị cay)

2. Miếu Văn Thù:

Sau bữa trưa ‘đạm bạc’, người viết tản bộ nhắm hướng miếu Văn Thù Bồ Tát (Wenshu Temple), mục đích là vừa ngắm cảnh, vừa thưởng thức thú nhàn tản uống trà của người xứ này – vốn đã nổi danh khắp chốn ^^ Giá vào cổng chỉ có 5 RMB/người nhưng không gian bên trong Văn Thù Viện thì cực kỳ khoáng đạt, kiến trúc mang màu sắc hoành tráng thời Đường, xứng là viện Phật giáo đẹp nhất của Thành Đô

Đoạn đường trước khi đến Miếu Văn Thù:

Bên trong Miếu Văn Thù, khu Chính điện:

Vạn Phật Lạc Tự (Peace Pagoda of A Thousand Buddhas) là công trình mới xây bên trong miếu Văn Thù. Chùa ở dạng hình tháp cao 11 tầng (tổng cộng 22m) với mái lục giác, mỗi đầu cong của mái đều có treo chuông vàng đón gió:

Phía sau miếu là 3 phân khu: nhà hàng ăn chay Wenshu, quán trà (tea house) và thư viện Phật giáo. Đường đi bên trong rợp bóng cây xanh, không khí rất trong lành làm du khách có cảm giác nhàn tản lười biếng

Đệ nhất danh trà – quán trà nổi tiếng của Thành Đô nằm ngay bên cạnh nhà hàng chay bên trong miếu Văn Thù

^^

Đặt chân vào đây, người ta khó có thể hình dung được Thành Đô lại là 1 trong những trung tâm thương mại sầm uất bậc nhất Trung Hoa với dân số 4 triệu người (gần bằng dân số toàn Singapore); lý do thật đơn giản bởi bên trong quán là không khí thưởng trà tao nhã, thảnh thơi, ai cũng như thu mình lại trong ốc đảo mù sương để chậm rãi nhâm nhi ly trà nóng.

- Người Thành Đô làm gì trong quán trà?
- Ngủ, nghỉ, đợi, đọc, chuyện trò, chơi, ngoáy tai, chụp ảnh … và tất nhiên là uống trà ^^

Người viết cũng chọn 1 góc nhỏ ngồi vừa uống trà vừa “bắn tỉa”. Mối chén trà có giá 15 RMB, sau khi khách tự chọn loại trà và ngồi vào bàn, sẽ có người của quán đến châm nước nóng và sẽ liên tục đi qua đi lại để châm trừ khi khách uống no bụng nước và đậy nắp chén trà!

Trà Thành Đô vừa thơm mùi vừa ngọt miệng, nước nóng bốc hơi nghi ngút, cánh trà đều tăm nổi bồng bềnh … uống xong ngẩng lên thì trời đã về chiều, phong cách “Starbucks” Thành Đô này quả là làm người ta nhất thời quên đi không-thời gian; một khoảng lặng dễ chịu trước ngày lên đường đi về phía Tây hứa hẹn không phút nào ngơi nghỉ ^^

Ra khỏi Đệ nhất danh trà quán, khách tham quan sẽ gặp tiếp thư viện Phật giáo rất lớn và đẹp của miếu Văn Thù:

Rời bước khỏi miếu Văn Thù, người viết men theo các con phố nhỏ của Thành Đô để về khách sạn. Nơi đây vẫn vậy, hè cũng như đông, phố phường sạch đẹp, ngăn nắp, và đấy màu sắc Vài hình ảnh sinh hoạt lúc sắp lên đèn:

3. Xuyên kịch:

Sau bữa tối thịnh soạn, người viết quyết định dành ra buổi tối để đi xem Xuyên kịch (Sichuan Opera) – hình thức ca vũ diễn tuồng sân khấu cổ lâu đời nổi tiếng của vùng Tứ Xuyên. Điểm đến: hý phường Shufeng Yayun, nằm ở Culture Park (gần Vũ Hầu Tự và Thảo đường Đỗ Phủ). Giá vé: 180 RMB/người.

Lúc này phố phường Thành Đô đã lên đèn:

Ca vũ kịch (hí kịch) Trung Hoa có nguồn gốc lâu đời, bắt nguồn trong dân gian với các màn nhào lộn, xiếc, hoạt kê, trào lộng. Sau này hí kịch được ưa thích ở các nơi cung đình, được phát triển và nâng lên tầm cao mới vào các đời nhà Đường, Tống, Nguyên, Thanh. Hí kịch Trung Hoa không chỉ phản ánh cái nhìn vào đời sống thực tại mà còn dựng lại các câu chuyện xưa, tích dã sử, truyện chính sử. Phục trang của mỗi vùng miền kết hợp với giọng ca điệu vũ càng làm phong phú thêm hình thức sân khấu cổ này. Ở Bắc Kinh, người ta gọi nó là Kinh Kịch, rồi lần lượt ra đời Xuyên Kịch vùng Tứ Xuyên, Tương Kịch vùng Tương Dương, Huy Kịch vùng An Huy …

Người viết vì đến hý phường sớm nên tiện dịp dạo qua hậu trường xem các diễn viên trang điểm. Bên trong hý phường cũng có gian hàng bán đồ lưu niệm nhưng giá cả không rẻ chút nào


Khu vực sân khấu khá rộng rãi, khách xem kịch có thể vừa thưởng thức các màn trình diễn, vừa nhâm nhi trà nóng và lạc rang

Xuyên kịch bao gồm rất nhiều màn diễn, mở đầu là màn cổ nhạc Naotai dùng các nhạc cụ dân tộc, sau là trích đoạn Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài. Phục trang và diễn xuất các diễn viên rất trơn tru điêu luyện, âm thanh và đạo cụ cũng được chuẩn bị công phu, duy có điều là lời thoại tiếng Trung


Tiết mục thứ 3 là múa rối que (stick puppet show), điểm độc đáo là con rối sẽ được đổi mặt (puppet face changing) và thổi ra lửa (spitting fire):

Tiết mục thứ 4 là tích Bao Công xử án:

Tiết mục thứ 5 là màn múa bóng (hand-shadow show) khá độc đáo, người nghệ sĩ sử dụng cả hai tay kết hợp với đầu để tạo hình sinh động các con thú như chó, thỏ, ngựa, thiên nga, bồ câu, cú … được khán giả tán thưởng nhiệt liệt

Tiết mục thứ 6 là độc tấu kèn Suona (Suona solo) – 1 loại kèn dân tộc của Trung Quốc dùng để giả tiếng các loài chim rừng. Màn trình diễn mới trông đơn giản nhưng rất nhọc sức, bác nghệ sĩ thổi và giả tiếng chim xong mồ hôi toát đầm đìa

Tiết mục thứ 7 kể chuyện hài nhà kia vợ dạy chồng (Rolling Light) cũng tương tự như chuyện chàng Đậu nước Việt vậy, ông chồng bị phạt phải đội ngọn đèn dầu vừa múa vừa chui gầm ghế mà không được đánh đổ hay lằm tắt lửa:

Tiết mục thứ 8 là đổi trang phục (Costumes Changing): sau mỗi lần phất cờ hoặc xoay người trong tích tắc, không chỉ mặt nạ và cả phục trang của người diễn cũng được thay đổi, người xem không ai kịp nhận ra tiểu xảo này được thực hiện ra sao nên chỉ biết vỗ tay thích thú ^^


Tiết mục cuối cùng cũng là tiết mục được trông đợi nhất – múa đổi mặt và thổi lửa (faces changing and spitting fire), lúc này cả đoàn diễn viên tiến ra sân khấu và thể hiện tuyệt kỹ đổi mặt nạ theo từng nhịp múa. Cho đến nay vẫn ít người biết rõ về xảo thuật này của vùng Tứ Xuyên, nhờ thế múa đổi mặt trong các vở tuồng Tứ Xuyên được coi là độc đáo duy nhất không có nơi nào khác làm được



Tiết mục hoành tráng cuối cùng kết thúc đêm diễn sôi động kéo dài 90 phút của Xuyên kịch, du khách ra về còn được tặng 1 bộ bookmark lưu niệm nhỏ đẹp của hý phường có tạo hình các nhân vật nổi tiếng thời Tam Quốc như Tào Tháo, Quan Vũ, Trương Phi, Gia Cát Lượng … Tuy giá cả không rẻ nhưng màn diễn sân khấu cổ nhạc Tứ Xuyên quả là đáng để thử 1 lần cho khách phương xa khi đến Thành Đô

Thiên phủ chi quốc lúc này đã tối hẳn và mưa lâm thâm (khác xa so với các vùng ở Tây Tạng – sẽ được nói rõ ở các bài tiếp theo). Người viết trở về khách sạn gói ghém đồ đạc và ngủ sớm lấy sức cho ngày 2 thực sự tiến vào các vùng đất phía Tây. Tạm biệt cố đô Thục Hán, nhất định sẽ còn dịp ghé lại ốc đảo sương mù này trong những lần đáo Trung Hoa tới đây

Trung Hoa Du Ký – Ngày 7: đáo Tứ Xuyên

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 31-12-2009

15

Ngày 7: về lại Thành Đô, kết thúc hành trình

IMG_8313

Sáng ngày thứ 7 gió lạnh trời trong, sau khi thức dậy và ăn sáng, người viết theo đoàn du lịch Trung Quốc lên xe rời Cửu Trại, lúc này mới có dịp ngắm con đường từ Cửu Trại Câu ra sân bay Cửu Trại Hoàng Long (Jiuzhai Huanglong Airport). Vùng phụ cận Cửu Trại cũng gọn gàng và sạch sẽ y hệt bên trong thung lũng vậy, trên đường đi nhìn thấy rất nhiều các khu nhà nghỉ đang được xây dựng, Trung Quốc đúng là đã bỏ rất nhiều tiền vào việc quy hoạch và cải tạo nơi đây, ý chừng chắc định mở rộng Cửu Trại Câu trong tương lai Xe dừng tổng cộng 3 lần, hóa ra là để đưa khách vào các khu buôn bán, đúng là phong cách của tour Lần dừng thứ nhất là chỗ bán đủ các loại đồ trang sức bằng ngọc, đá, hổ phách … giá từ vài trăm RMB đến vài trăm nghìn RMB, đẹp và đa dạng thì đúng, nhưng mà đắt kinh người Lần dừng thứ hai là nơi bán dược thảo vốn được trồng trực tiếp trong vùng núi Cửu Trại, vị loại phong phú; khách du lịch Trung Quốc xem ra đã có kinh nghiệm nên mua khá nhiều. Lần dừng cuối là để du khách mua đặc sản thịt bò cao nguyên, chỗ này có vẻ giá rẻ nên ai cũng mua làm quà ^^

Đến trưa thì xe buýt đến nơi, sân bay Cửu Trại Hoàng Long nằm giữa lòng núi biệt lập, phong quang vắng vẻ quạnh quẽ chẳng kém gì lúc nửa đêm:
IMG_6466
IMG_6469
IMG_6471

Chuyến bay của China Southern Airlines khởi hành sớm, chưa kịp ngồi nóng ghế đã hạ cánh xuống Thành Đô. Từ sân bay về, người viết đi taxi đến thăm Vũ Hầu Tự (Wuhou Temple). Đền Gia Cát Vũ Hầu (Zhuge Liang) nằm ở rìa ngoài trung tâm thành phố, khoảng 30 phút chạy xe từ sân bay. Nơi đây thờ Khổng Minh, vị quân sư lỗi lạc của nhà Thục thời Tam Quốc. Đền được xây vào năm 223 sau Công nguyên, là một trong những đền thờ lâu đời nhất của Thành Đô, giá vé vào cửa: 50 RMB/người
IMG_8241

Cấu trúc đền chia làm 3 gian: gian ngoài thờ Thục chúa Lưu Bị, gian giữa thờ Khổng Minh, và gian cuối thờ 3 anh em Lưu – Quan – Trương, phía sau đền là khu hậu viên bán đồ lưu niệm và cửa sau thông ra phố cổ Jin Li. Ngoài ra bên trong đền còn có thờ các vị văn quan và võ quan có công trong lịch sử dựng nước thời Thục Hán. Vì đến đúng vào thời điểm Vũ Hầu Tự đang sửa chữa nên người viết chỉ kịp rảo bước thăm quan chứ không nấn ná được nhiều …
IMG_8239
IMG_8247

Đỗ Phủ (Du Fu) xưa đến Thành Đô ghé thăm đền có thơ rằng:
Từ miếu Vũ Hầu nay thấy đâu?
Cẩm Quan ngoài luỹ bách xanh mầu.
Trên thềm cỏ biếc lên xuân sắc,
Sau bụi oanh vàng hót mấy câu.
Ba lượt hỏi tìm mưu nghiệp lớn,
Hai triều khuông tá nhọc lo âu.
Xuất sư chưa thoả người đi vội,
Nên nỗi anh hùng ướt lệ sầu.

Có thể xem đó là bài thơ ngắn tổng kết quãng đời tận tuỵ oanh liệt của Khổng Minh vậy
IMG_8250
IMG_8256
IMG_8258
IMG_8264
IMG_6503
IMG_6502
IMG_6507
IMG_6519
IMG_8298

Nối liền với Vũ Hầu Tự là phố cổ Jin Li, một trong những con phố nổi tiếng nhất của Thành Đô, thu hút du khách bởi không khí tấp nập cũng như các món ẩm thực phong vị Tứ Xuyên và các gian hàng đồ lưu niệm đầy màu sắc bắt mắt. Vài hình ảnh du ký phố phường:
IMG_6529
IMG_8304
IMG_6534
IMG_8311

Món mì Tứ Xuyên (Dan Dan Mian hay Tan Tan Noodle) nổi tiếng, cay chảy nước mắt nước mũi
IMG_6634

Thổi kẹo dẻo để tạo hình 12 con giáp:
IMG_6627

“Nem công chả phượng” cũng bằng kẹo luôn
IMG_6629

Mặt nạ Tứ Xuyên, rất thịnh hành trong những buổi diễn tuồng đổi mặt (face changing show) của vùng Tứ Xuyên. Các mặt nạ này màu sắc đẹp, nhìn dữ dằn ấn tượng
IMG_6632

Các gian hàng đồ chơi “dân gian”, đủ cả hồ lô, trống mõ, súng gươm (tất nhiên bằng gỗ); mấy món này chợ Tết nước ta ngày xưa thì nhiều chứ bây giờ có khi lại hiếm
IMG_6637
IMG_6643

Jin Li còn bày bán quà đặc trưng của Vũ Hầu Tự: bộ tượng Ngũ Hổ Tướng Quan – Trương – Triệu – Mã – Hoàng, ngoài ra còn có các bộ sách cổ, tranh cắt dán, mặt nã cỡ nhỏ và cỡ trung về các nhân vật thời Tam Quốc, đẹp và rẻ hơn nhiều so với các chỗ khác.
IMG_6647

Cà phê phố cổ, mới cũ giao thoa ^^
IMG_8318
IMG_8321
IMG_8322
IMG_6649
IMG_8324

Ra khỏi Jin Li trời đã về chiều, người viết về hostel cất đồ rồi hối hả đi ăn tối, món ăn sẽ là lẩu Tứ Xuyên (Sichuan Hot Pot), tuy đã ăn nhiều ở Việt Nam nhưng đây là lần đầu tiên ăn món này ở quê hương của nó, quả đúng là về quê ăn trái, lên phố ngắm người; món lẩu Tứ Xuyên gốc không chỉ ngon mắt mà còn rất ngon miệng, mùi vị không chê vào đâu được
IMG_6588

Lẩu Tứ Xuyên có nhiều độ cay, từ không cay đến ít cay rồi cực kỳ cay người Tứ Xuyên rất tự hào về món Hot Pot của họ, khi ăn đều gọi loại cay nhất, còn người viết chỉ dám thử loại ít cay mà mới đụng đũa đã rơi nước mắt, ăn một lúc thì mặt đỏ như Quan Công; may là khi ăn có nước trà và món chè chữa cháy :mgreen: Bạn đọc có dịp dạo qua Tứ Xuyên tin rằng không thể bỏ qua món này:
IMG_6565
IMG_6567
IMG_6573
IMG_6574
IMG_6577

Đây mới là loại ít cay mà thôi …
IMG_6585

Nhâm nhi xuýt xoa tấm tắc một lúc đã qua 9h tối, người viết tranh thủ dạo qua phố phường Thành Đô ban đêm. Cũng giống Singapore, Thành Đô sáng đèn ngày đêm trên các tuyến phố chính, đồ ăn đêm cũng khá đa dạng còn giá cả thì phụ thuộc vào mức độ thông thạo tiếng Trung của khách:
IMG_6593
IMG_6597

Quảng trường trung tâm thành phố, nơi có tượng Mao Trạch Đông trước cửa Bảo tàng Khoa học Công nghệ Tứ Xuyên (Sichuan Science and Technology Museum):
IMG_6601
IMG_6592

IMG_6610
IMG_6611
IMG_6619
IMG_6613
IMG_6618

Mỏi chân lòng vòng, cuối cùng người viết cũng về đến hostel, vừa là lúc phải sắp xếp đồ đạc để sáng hôm sau rời Tứ Xuyên … Tổng kết lại chuyến đi “Bắc tiến” lần thứ nhất đã thành công tốt đẹp, kịp ghé thăm những điểm nhấn quan trọng trong hành trình Tây Nam: Lệ Giang (Lijiang) ở Vân Nam, Thành Đô (Chengdu) và Cửu Trại Câu (Jiuzhaigou) ở Tứ Xuyên; tuy chưa thể nói là thông thạo thổ nhưỡng hay văn hóa với con người những vùng đất đã đi qua, nhưng chắc chắn là ấn tượng về nơi nào cũng sâu đậm đủ để viết đôi dòng đáo ký, chắc là bạn đọc sẽ nguyên lượng cho những chỗ còn khiếm quyết Quà lưu niệm thì không nhiều nhặn gì, nhưng đều là những món đặc trưng từng vùng, phải đến tận nơi tìm tận chốn mới có ^^
IMG_6663

Ngày xưa luôn được dặn rằng du lịch đâu cũng hay nhưng Trung Hoa là kỳ thú và bí ẩn bậc nhất, chỉ mới kịp đi qua phía Tây Nam đại lục đã cảm thấy rất cuốn hút xốn xang rồi. Bản thân người viết dù đã đi về hơn 2 tuần nhưng vẫn luôn hình dung ra mồn một trước mắt nét cẩm tú của Đông Thành Lệ Giang trong lòng Vân Nam, vẻ diễm lệ pha màu thủy mặc của Hắc Long Đàm, dấu vết lịch sử nhuộm thắm kiến trúc Mộc Vương Phủ – Vạn Cổ Lầu, cái hùng tráng bất kham của núi tuyết Ngọc Long, tiếng trống trận và biển người màu sắc của tam tộc Nạp – Bạch – Tạng tự hào trình diễn vũ điệu cha ông, rồi những chuyến xe ngắn dài xuôi ngược nối liền từng vùng đất, thành phố trong sương Thành Đô trù phú về cuộc sống hay đậm đà về ẩm thực, cái chậm chạp ì ạch đáng yêu của gấu trúc Tứ Xuyên, và một thiên đường tìm thấy trong vẻ đẹp tổng hòa Cửu Trại Câu giữa những ngày đông giá d(^o^)b

Hành trình Trung Hoa Du Ký lần đầu khám phá Trung Quốc đến đây là kết thúc, cảm tạ bạn đọc đã theo dõi và động viên, người viết rất sẵn sàng chia sẻ chút kinh nghiệm ít ỏi thu thập được qua chuyến đi với ai có nhã hứng

Trung Hoa Du Ký – Ngày 6: Cửu Trại Câu

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 29-12-2009

12

Ngày 6: thăm thú cảnh đẹp ở Cửu Trại Câu (Tứ Xuyên)

Sáng ngày thứ 6, gió lạnh tê người, nước như đóng băng, người thở ra khói nhưng trong lòng thì sôi sục khám phá miền đất tiên cảnh trần gian Sau bữa sáng gọn nhẹ, cả đoàn hối hả lên xe chạy vào cổng chính của Cửu Trại Câu để mua vé và bắt đầu vào tham quan. Vì mùa đông nên Cửu Trại sẽ mở cửa từ 8h sáng và đóng cửa sớm lúc 6h chiều.

Đôi dòng lịch sử: Cửu Trại Câu (Jiuzhaigou) có nghĩa là Thung lũng có 9 ngôi làng bên suối (Valley of Nine Villages). Chữ tượng hình của người Tạng về Cửu Trại Câu như sau:

Nhìn từ trái qua phải, ngoài số 9 không biết viết thế nào ra, chữ tiếp theo chính là hình cái trại, còn chữ cuối cùng vẽ dòng nước có cá có cây; tựu chung lại chỉ vùng đất có hồ nước, chim cá … và 9 ngôi làng người Tạng sinh sống Kiểu kiến trúc “trại” này cũng ghi dấu trong tất cả các ngôi nhà được xây bên trong thung lũng.

Truyền kỳ kể nam thần Đạt Qua (Dage) yêu say đắm nữ thần Yêu Lạc Sắc Mô (Woluo Semo). Một lần nam thần dùng gió và trăng tạo nên 1 tấm bảo gương đem tặng nữ thần, không ngờ bị ma quỷ quấy phá, nữ thần không cẩn thận đã làm vỡ tấm bảo gương và rơi xuống nhân gian rồi biến thành 114 mặt biển hồ long lanh. Từ đó nhân gian mới có chốn tiên cảnh (The Fairyland of Earth) đẹp là Cửu Trại Câu ngày nay Còn người viết bài này thì tin rằng năm xưa rơi xuống nhân gian không phải là gương vỡ mà là một chuỗi ngọc quý muôn màu sắc, đã tạo nên một tuyệt tác gồm 12 đỉnh núi, với hơn 100 Hải tử (hồ con) cùng 17 thác nước và muôn vàn loại động thực vật phong phú giữa vùng núi đá vôi ở cao độ trung bình từ 2000m đến 4000m này.

Tổng quan Cửu Trại Câu chia làm ba thung lũng chính: Nhật Tắc Câu (Rize Gully) tạm gọi là nhánh trái (theo bản đồ nguyên mẫu của Cửu Trại), Tắc Tra Oa Câu (Zechawa Gully) ở nhánh phải, hợp lưu tại trung tâm là Thụ Chính Câu (Shuzheng Gully), từ đó chạy thẳng ra cổng chính (Tham khảo thêm ở trang chủ Jiuzhai valley). Trước khi bắt đầu du ngoạn, xin cùng bạn đọc xem qua bản đồ Cửu Trại:

Khoảng cách từ cửa (Park Entrance) đến thác Nặc Nhật Lang (Nourilang Falls) – tạm coi là tâm bản đồ: 15km; từ thác này đến Trường Hải (Long Lake) – điểm xa nhất trong nhánh phải là 17km; từ thác này đến Rừng nguyên sinh (Virgin Forest) – điểm xa nhất trong nhánh trái là 18km. Cách đi thông thường là: từ đầu ngày bắt xe buýt chạy từ cửa lên hết một nhánh (trái hoặc phải), sau đó đi bộ từ trên xuống, đến khu trung tâm thì dừng nghỉ ăn trưa; sau bữa trưa thì bắt xe chạy lên hết nhánh còn lại, từ đó đi bộ xuống đến trung tâm rồi đi ra cổng. Nếu muốn đi hết mọi chỗ trong Cửu Trại Câu thì bạn đọc chắc cần ít nhất 2 ngày, người viết trong khuôn khổ thời gian hạn hẹp chỉ dành được 1 ngày để đi Cửu Trại nên không thăm được toàn bộ thung lũng, âu cũng là lý do cho việc trở lại lần sau

Cổng vào thiên đường hạ giới đơn giản thế này thôi:
IMG_8234

Du khách có thể mua vé và tham khảo các thông tin du lịch Cửu Trại tại đây:
IMG_7829
IMG_5949

Vé vào cổng: làm bằng bìa cứng và rất đẹp, mặt trước vé được trang trí thay đổi theo mùa, chia làm vé Đông-Xuân (ảnh chụp) và vé Hè-Thu (dịp sau đi vào mùa thu sẽ có ảnh cụ thể ). Mỗi vé bao gồm cả vé vào cổng và vé xe buýt; mặt sau vé chính là bưu thiếp Cửu Trại có dán sẵn tem! du khách có thể gửi trực tiếp bưu thiếp tại các thùng thư China Post sẵn có ở cửa vào. Vì vé đưa qua máy quét (chứ không xé) nên ai cũng giữ được vé mới đẹp nguyên xi khi ra về ^^
IMG_7825
IMG_7826

Giá vé:
- Mùa cao điểm (01/04 – 15/11): Vé vào cổng 220 RMB + vé xe buýt: 90 RMB = 310 RMB (~ 45 USD). Riêng sinh viên (phải trình thẻ SV) thì giảm giá: vé vào cổng 170 RMB + vé xe buýt 90 RMB = 260 RMB.
- Mùa vắng khách (16/11 – 31/03): Vé vào cổng 80 RMB + vé xe buýt: 80 RMB = 160 RMB (~ 23 USD). Giá sinh viên: vé vào cổng 70 RMB + vé xe buýt 80 RMB = 150 RMB.

Ở cửa soát vé là 3 chữ “Cửu Trại Câu” ngạo nghễ trong nắng ban mai ^^
IMG_7831
IMG_8223

Các xe buýt ‘xanh’ chạy trong khu du lịch, trên mỗi xe là hướng dẫn viên du lịch người Tạng sẽ giới thiệu với du khách về các địa điểm khi đi qua (tất nhiên là bằng tiếng Trung):
IMG_7832
IMG_6454

Xe buýt sẽ dừng ở mỗi địa điểm để nhận và trả khách, du khách nên cầm theo bản đồ để biết vị trí hiện tại và xem xét lộ trình trước khi lên xe nhằm tiết kiệm thời gian. Vì đã mua vé nên xe buýt trong khu du lịch là miễn phí, lên xuống thoải mái, đặc biệt trong mùa đông đi bộ lâu trong Cửu Trại sẽ dễ nhiễm lạnh, thi thoảng nên chui lên xe cho ấm Như lộ trình đã định, người viết theo xe chạy hết hơn 30km để lên ngọn của nhánh trái, rồi từ đây bắt đầu đi bộ xuống.

Tiễn Trúc Hải (Arrow Bamboo Lake): cảm giác đầu tiên là thời tiết quanh Biển Tiễn Trúc lạnh kinh người! nước hồ trong xanh nhìn thấy đáy, cả mặt hồ như 1 tấm gương lớn phản chiếu khung cảnh xung quanh lại ôm trong lòng nó những trầm tích vôi hóa không biết tuổi. Chỗ này cũng là nơi đạo diễn Trương Nghệ Mưu quay cảnh Lương Triều Vỹ – Trương Mạn Ngọc vừa so chiêu vừa bay qua mặt hồ trong phim Anh hùng (Hero), chắc đây là 2 người hiếm hoi trong lịch sử Cửu Trại Câu có dịp chạm chân xuống dòng nước của hồ Trúc
IMG_7841
IMG_7840
IMG_7848
IMG_7846
IMG_7850

Hùng Miêu Hải (Panda Lake): nằm cách Tiễn Trúc Hải khoảng 1.7km là Hùng Miêu Hải, vốn là chỗ gấu trúc thường ra uống nước, giờ thì không còn bóng con nào, chắc từ ngày con người “xâm lăng” nơi đây … mong rằng trong tương lai sẽ có ngày gấu trúc xuất hiện trở lại. Cũng giống như hồ Trúc, hồ Gấu vẫn mờ khói sương sớm, mặt nước phẳng lặng như tờ soi bóng trời đất, đúng như câu nói dân gian “mây trôi trong nước, chim bay trong hồ“:
IMG_5975
IMG_7853
IMG_7854

Thác nước ở Panda Lake đã bắt đầu đóng băng, đường xuống thác cũng đã bị chặn lại đề phòng nguy hiểm:
IMG_7866

Ngũ Hoa Hải (Five Flower Lake): đi tiếp 2km nữa, du khách sẽ đến Hồ Ngũ Hoa – niềm tự hào của Cửu Trại – lúc này đã vào mùa nước cạn càng làm nổi bật những thân cây lớn nằm im lìm dưới đáy hồ; cây cầu giữa hồ chia Ngũ Hoa Hải thành 2 thế giới: một bên ánh nắng nhấp nhóa sống động, một bên cô tịch với sắc xanh đẹp kỳ ảo lạ thường:
IMG_7895
IMG_7881
IMG_7875
IMG_7921

IMG_7913
IMG_7915

IMG_7920

Thác Trân Châu (Pearl Shoals Waterfall): chính là cảnh đẹp đã nổi danh từ bộ phim Tây Du Ký với hình ảnh thầy trò Đường Tam Tạng vượt dòng thác trên đường đi lấy kinh ^^
IMG_7969
IMG_6075
IMG_6093
IMG_6080

Càng đi xuống thác Ngọc Trai này cảnh tượng càng ngoạn mục, núi cao dựng đứng, nước chồm qua các ghềnh đá tuôn ào ạt với chiều dài hơn 310m:
IMG_6109
IMG_7949
IMG_7936
IMG_7923
IMG_6125

Sau khi đi hết nhánh bên trái Nhật Tắc Câu, du khách đa phần đều nghỉ ăn trưa ở tâm bản đồ trái với các thông tin về việc cần mang theo đồ ăn thức uống vì trong Cửu Trại bán đắt, người viết đã có 1 bữa trưa thú vị với mì gói Tứ Xuyên + xúc xích và ngô luộc bán ở các quầy hàng nhỏ với giá 15RMB ^^ Ăn xong lại nai nịt gọn gàng xách máy ảnh đón xe buýt ngược lên nhánh bên phải, tiếp tục khám phá Tắc Tra Oa Câu, trên đường kịp nháy vài tấm ảnh:
IMG_6073
IMG_6157
IMG_6154

Trường Hải (Long Lake): nằm ở độ cao hơn 3000m so với mặt nước biển, Trường Hải là biển hồ rộng nhất và sâu nhất trong toàn bộ các hồ của Cửu Trại Câu, nhờ nguồn nước ngầm tự nhiên nên hồ luôn đầy nước, cây cối xung quanh tươi tốt. Đứng ở Trường Hải nhìn bao quát núi sông mới thấy cái nhỏ bé của con người trước thiên nhiên hùng vĩ. Nơi đây dịch vụ quà lưu niệm và chụp ảnh trong trang phục người Tạng do vậy mà nở rộ
IMG_6167
IMG_6172
IMG_6178
IMG_7984
IMG_7989
IMG_7993
IMG_7998

Men theo đường đi bộ uống dưới hồ, du khách có thể thoải mái ngắm nhìn Trường Hải rộng lớn miên man chạy ra ngoài tầm mắt, quả xứng danh đại hồ của Cửu Trại, chỉ giận tài năng không đủ mà ống kính có hạn, không ôm trọn cái bao la của trời nước và mây núi vào trong khuôn hình …
IMG_8002
IMG_6182
IMG_8015
IMG_6190

Ngũ Sắc Trì (Five Colored Pool): tuy cạn nước nhưng hồ Ngũ Sắc vẫn giữ được màu huyền ảo của nó, không chỉ bản thân hồ mà cả đường vào hồ cũng đẹp lạ thường:


IMG_8018

Nặc Nhật Lang (Nourilang Falls): dòng thác trên cao nguyên lớn nhất Trung Quốc này nằm ở trung tâm bản đồ Cửu Trại Câu. Với độ cao hơn 20m và dài hơn 300m, con nước Nặc Nhật Lang hung hãn bổ nhào giữa lưng chừng trời, ném vào không gian muôn ngàn bọt nước giữa nắng chiều chênh chếch, tiếng ỳ ầm vang xa hàng dặm, đúng là tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây (Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên)



Thác Nặc Nhật Lang có thể coi là điểm nối giữa 2 nhánh phải và nhánh trái, từ đây trở ra cổng đều là khu vực Thụ Chính Câu.

Tê Ngưu Hải (Rhinoceros Lake): hồ Tê Giác nhìn phẳng lặng không có gì đặc biệt nhưng nó là hồ rộng nhất trong Thụ Chính quần hồ (hơn 200,000 m2 diện tích mặt nước) với nơi sâu nhất là 12m, nhìn xa xa có cảm tưởng hồ này giống hồ Ba Bể ở nước ta ^^

IMG_6266

Lão Hổ Hải (Tiger Lake): nằm cách không xa Tê Ngưu Hải là Lão Hổ Hải. Hồ Hổ cung cấp nước chảy xuôi về thác Thụ Chính:





Thụ Chính Hải (Shuzheng Lake): trên đường đi đến Hồ Thụ Chính, du khách có thể ngắm nhìn Thác Thụ Chính (Shuzheng Falls) và những ngôi nhà nhỏ người Tạng xây trên dòng nước, lợi dụng sức nước để quay những bánh xe kinh luân:












Hồ Thụ Chính vào mùa đông hơi xơ xác, mùa thu chắc sẽ đẹp hơn đối diện Hồ Thụ Chính là Làng Thụ Chính (Shuzheng Village) xây theo kiến trúc người Tạng, phía trước cổng có dựng đại kỳ ngũ sắc (Guoda) – cách mà người Tạng thể hiện lòng tôn kính của họ với các vị thần linh. Tìm hiểu thêm về đại kỳ của người Tạng, rất thú vị khi được biết các cờ phướn này luôn có 5 màu chủ đạo, trong đó: màu trắng (Bạch kỳ) biểu tượng phương Đông của Phật Aksobhya và Phật mẫu Bouđharocana, màu đỏ (Hồng kỳ) là biểu tượng phương Tây của Phật Amibrabha và Phật mẫu Pandaravasini, màu vàng (Hoàng kỳ) là biểu tượng phương Nam lãnh thổ của Phật Ratnasambhava và Phật mẫu Mamaki, màu xanh lá cây (Lục kỳ) là biểu tượng phương Bắc cho Phật Amoghasđhi và Phật mẫu Samayatar, cuối cùng màu xanh nước biển (Lam kỳ) là Trung Phật Vairocana và Phật mẫu Akasadhatesvari. Ngoài ra 5 màu trắng, đỏ, xanh lam, xanh lục, vàng còn là biểu trưng của mây, sự sống, cây cối, trời, đất là những yếu tố làm nên vạn vật.


Bãi Bonsai (Bonsai Shoals): bãi Bonsai tự nhiên này có thể xem là điểm dừng cuối cùng trước khi ra cổng, lúc này đồng hồ đã chỉ gần sang 5pm là lúc Cửu Trại sắp đóng cửa mùa đông:
IMG_8215
none

Thường nghe câu “Hoàng Sơn quy lai bất khán sơn, Cửu Trại quy lai bất khán thủy” (nghĩa là: đến Hoàng Sơn rồi không còn muốn ngắm núi khác, đã tới Cửu Trại không buồn nhìn những dòng nước ở nơi khác) đã lâu, nhưng chỉ đến khi được đặt chân đến thung lũng này, tận mắt nhìn Cửu Trại đẹp sững sờ như 1 bức tranh ngàn màu sắc của non nước kỳ quan, lắng nghe sự tĩnh lặng như mặt gương ở mỗi biển hồ hay tiếng ỳ ầm xa xăm của những thác nước, ngắm thảm thực vật vươn mình trong ánh nắng hay những trầm tích đậm dấu thời gian dưới lòng hải tử trong vắt thì mới cảm nhận được những điều người ta nói về vẻ đẹp pha màu cổ tích của Cửu Trại thực như muối bỏ bể Mỗi vị trí, mỗi góc nhìn, mỗi giờ, mỗi ngày trong thung lũng Cửu Trại đều đem lại một nét khác lạ và sống động; bạn đọc đã, đang, và sẽ đi Cửu Trại Câu tin rằng cũng chia sẻ suy nghĩ này ^^

… Bước ra khỏi Cửu Trại Câu vẫn cảm thấy lâng lâng … thầm hẹn mùa thu năm tới sẽ trở lại để một lần nữa để ngắm thiên nhiên mây gió núi sông cùng kì hoa dị thảo lúc thay đổi áo xiêm. Từ ngày Cửu Trại Câu chính thức mở cửa cho khách du lịch vào tham quan năm 1984 đến nay đã 25 năm thời gian đi về trên những ngọn núi dòng sông mái nhà trong thung lũng, hàng triệu lượt người đã đến thăm để rồi ngây ngất trước vẻ đẹp hoang sơ nguyên thuỷ, lúc đi chắc ai cũng chung một cảm giác nhớ nhung hẹn ngày hạnh ngộ …
IMG_6462
IMG_6463

Ra về du khách có thể chọn đi taxi là cách thuận tiện nhất để quay lại khách sạn sau một ngày chinh chiến mệt nhọc
IMG_8236

… Đêm dần buông xuống trên thung lũng, mới 7h mà trời tối đen như mực, gió rét căm căm, trong lòng trống trải, bụng đói cồn cào, rảo bước ra ngoài ngắm phố phường. Bên ngoài Cửu Trại về đêm yên ắng và tĩnh mịch mang nét cô đơn đặc trưng của vùng cao nguyên lúc lên đèn, giống như Đà Lạt sau 9h tối vậy … Ghé vào 1 quán nhỏ bán đồ nướng kiểu người Tạng nhâm nhi hết xiên thịt lại đến xiên bánh bao, trong bụng nghĩ “cái khúc vĩ thanh này giữa tiết trời vài ba độ chắc phải đến năm sau mới lặp lại được!“. No nê xong thì chào chủ quán rồi đi giật lùi (cho đỡ rét) để về khách sạn. Lên giường nằm mà trong đầu vẫn nhớ miên man cái màu xanh man trá trong lòng Ngũ Sắc Trì … Xin hẹn bạn đọc bài viết tiếp theo kể chuyện rời Cửu Trại Câu bay về Thành Đô, cũng là ngày cuối trong nhật trình du ký Trung Hoa lần thứ nhất