Tây Tạng Du Ký – Khúc vĩ thanh

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 25-08-2010

18

Quả thật khó cho tôi khi muốn viết lại Khúc vĩ thanh Tây Tạng, bao nhiêu hình ảnh chuyến hành trình 11 ngày cứ đầy ăm ắp, ấn tượng với Tây Tạng vô cùng sâu đậm, những thắc mắc năm xưa nay đã tìm được lời giải đáp trên vùng đất Phật nhưng kéo theo đó là muôn vàn điều mới mẻ và lòng càng băn khoăn hơn … Xin trích đôi dòng từ cuốn Mùi hương trầm (tác giả Nguyễn Tường Bách): “Cảnh quan thiên nhiên tuyệt đỉnh của Tây Tạng không chỉ làm hứng khởi tầm nghe nhìn của chúng ta vốn thường bị mây mù, khói đục và tiếng ồn che phủ, mà còn tích cực hơn, nó dẫn đường mở lối cho nhận thức và ý niệm về cái miên viễn đang hiện hình trước mắt ta. Tâm ta biết rằng cái miên viễn không phải đi tìm đâu xa, nó nằm ngay trước mắt, nó hiện diện ngay trong lòng, chỉ mắt vướng bụi nên không nhìn thấy nó, chỉ lòng chưa tỉnh nên không nhận ra nó. Nhưng cái miên viễn cũng không phải trần trụi sờ sờ ra đó để ai cũng có thể ngắm nghía mà muốn tới với nó phải đi hết đoạn đường phi hữu phi không, phải tự tay mở cánh cửa vô môn, phải nghe được thứ tiếng không lời, phải vào chốn ẩn mật chỉ dành cho những người dâng hết tâm ý, biết buông rơi chính mình. Cảnh quan Tây Tạng là bước khởi đầu, không phải là đoạn kết thúc.” Phải rồi! chỉ là bước khởi đầu, chưa phải là đoạn kết thúc, tôi đang viết cho bước khởi đầu của chính mình

1. Đô Thành mù sương

Tôi có duyên nhiều với Thành Đô (Chengdu) và cũng rất yêu thích thành phố này bởi nó có cái trong mát yên bình của đô thị quanh năm bao phủ bởi sương mù, kèm theo bề dày lịch sử văn hoá của cố đô Thục Hán đến nay đã vài mươi thế kỷ, cũng lại mang dáng dấp tân kỳ đô hội phát triển không thua kém bất cứ nơi đâu. Cũng vì thế tôi chọn Thành Đô, Tứ Xuyên làm điểm xuất phát của cuộc hành trình. Tuy chỉ lưu lại Thành Đô 1 ngày nhưng tôi đã may mắn cảm nhận được phần nào cuộc sống nơi Thiên Phủ Chi Quốc với những ghế kiệu, phòng trà, bạch viên, thi quyển:

Những vẻ đẹp làm mê lòng khách đến Thành Đô: này là Vọng Giang Lầu êm đềm trong sương sớm, này là Văn Thù Miếu giấu trong lòng nó những gì tinh hoa của vùng Tứ Xuyên. Bước chân vào Đệ nhất danh trà quán, người ta thấy một nốt trầm trong đời sống phồn hoa của nơi đây, không líu lo điện thoại, không tíu tít bán hàng, người dân Thành Đô vào đây độc ẩm, đối ẩm, quần ẩm bên những ly trà luôn bóc khói nóng; đáng yêu và thú vị như tiết trời sương khói mát mẻ bao đời của mảnh đất này vậy. Không chỉ có thế, Văn Thù Miếu còn có riêng 1 thư viện Phật học cực lớn bên trong khuôn viên bởi với những ai nghiên cứu Phật giáo thì đều biết rằng hình tượng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là tượng trưng cho trí huệ mênh mông, điều mà sau này tôi được chứng ngộ khi đặt chân vào Tây Tạng.

Thành Đô tiễn tôi bằng 1 cơn mưa nhẹ và màn Xuyên kịch đặc sản khi trời chiều lảng bảng. Phố đẹp, đường đẹp, lầu gác đẹp và người cũng đẹp; Thành Đô trong mưa là 1 ấn tượng khó phai với khách phương xa. Ngồi trong rạp dựng ngoài trời ngay dưới cơn mưa xem hý kịch Trung Hoa lại càng thú vị hơn nữa. Tôi sẽ không lạ nếu mai này bên sông Cẩm Giang người ta chơi thêm hồ cầm đàn địch, để nếu có dịp ghé thăm tôi lại được thả hồn mơ mộng, hỏi rằng có phải đang tấu khúc Hồ trường Dạ Vũ Tiêu Tương?

Xin hẹn Thành Đô không xa lần tiếp theo du ký Trung Hoa sẽ gặp lại cố nhân

2. Tuyết Quốc trong mây

Có rất nhiều cái tên đẹp để dành riêng gọi cho mảnh đất của những độ cao này: Tây Tạng, Tibet, Land of the Snows, Nóc nhà thế giới, hay chỉ đơn giản là Tuyết Quốc. Một sớm mùa hè như mọi ngày nhưng có ý nghĩa đặc biệt với tôi, hôm nay tôi sẽ bay trên rặng Tuyết Sơn để đặt chân vào thánh địa Phật giáo, học theo dấu chân minh triết của người xưa lần tìm về xứ sở huyền thoại.

Rời Thành Đô, tôi đến với cửa ngõ màu xanh của Tây Tạng: Nyingchi (thuộc địa giới vùng Kham cũ). Nhấc từ đồng bằng lên cao nguyên trung bình 3000m so với mực nước biển sau vài tiếng bay, tôi choáng váng bởi không khí loãng và càng choáng váng hơn bởi những hình ảnh đầu tiên về Tây Tạng hiện ra xanh đến thế ^^ Chẳng thế mà những khách du lịch khi khám phá vùng Kham đã đặt cho nơi đây cái tên ‘Wild Wild East’ bởi sự khác biệt cực kỹ rõ nét về cảnh quan tự nhiên và điều kiện thời tiết: này là rừng cây thác nước, kia là núi tuyết thảo nguyên; thiên đường xanh Tây Tạng kỳ thú lắm!

Đường nay mây trắng gió ngàn:

Nếu như đỉnh Phan Xi Păng cao 3143m, trèo lên đến nơi là chạm vào nóc nhà Đông Dương thì ở Nyingchi cũng độ cao tương tự, tôi được chạm vào lá vào hoa của Khả Đình Câu, chạm vào thân cây Đại Bách 2600 năm tuổi, được dừng trên đỉnh Sejila cao 4702m để chạm vào sương gió ngay giữa trưa nắng hè, được hít thở cái mát rượi của rừng Lulang từ vọng lâu nhìn ra đỉnh Namche Barwa cao 7786m, đặc biệt là được chạm vào nét sơ khai của cổ giáo Ninh Mã do đại sư Liên Hoa Sinh sáng lập mà dấu tích còn lưu lại trên tu viện Tsozong giữa hồ Basum-tso:

Tạm biệt tiểu Thuỵ Sĩ vùng Kham, tôi lên đường đến với thành phố của chư thiên, trái tim của Tây Tạng: thủ phủ Lhasa. Hỏi rằng chư Phật nơi đâu? có phải là bức tượng Đức Thích Ca Thập Nhị Tuế Đẳng bên trong đền Jokhang tuổi đời chục thiên niên kỷ hay ngay trước mắt tôi kia dòng người mộ đạo bước đi giữa cái huyên náo của khu chợ Barkhor tay xoay kinh luân còn trong lòng tịnh không, hướng Phật:

Thiên kinh vạn quyển đọc bao nhiêu cho đủ? chỉ một lần lặng im đứng giữa Bát Giác Nhai sẽ dấy lên niềm kính phục nghi lễ tôn giáo khổ hạnh tràn đầy niềm tin của người Tạng dưới mái chùa Đại Chiêu buổi bình minh đầu ngày. Phải chăng người xưa có câu Nhất tu thị, nhị tu sơn để dành cho những con người này? Đời trong đục nào có hề chi, bởi họ đã đem đạo về đây giữa phố phường Lạp Tát hơn nghìn năm có lẻ, kể từ cuộc hôn phối giữa công chúa Văn Thành và Tạng Vương Tùng Tán Cương Bố thế kỷ thứ 7.

Đặt chân đến Lhasa chắc chắn ai cũng phải đến chiêm ngưỡng kiến trúc đồ sộ mang phong cách Tạng của hành cung Potala và tôi không phải ngoại lệ. Chưa bao giờ tôi tưởng tượng được trong đời mình sẽ có dịp leo mấy trăm bậc đá trắng trên độ cao 3600m để bước vào nơi thâm nghiêm cao quý nhất của cộng đồng chính-giáo Tây Tạng; và cứ như thế, tôi hăm hở thở và leo.

13 bức tượng của các Đạt Lai Lạt Ma đời trước, căn phòng của Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 sử dụng khi ngài còn tại vị, những stupa sơn son thếp vàng nạm đầy ngọc quý, những hành lang phô phang màu sắc, những cánh cổng đỏ sậm đầy quyền uy, những cầu thang lên xuống như ma trận, những bức tường được mural nhuộm thắm, những chiếc cột đen nhánh mỡ bò yak treo thangka khổng lồ, mùi nến mùi người mùi gỗ mùi ẩm mốc và mùi tiền … tất cả làm đầu óc của kẻ người trần mắt thịt như tôi rối bời!

Hiếm ai ra khỏi cung điện Potala mà lòng không hụt hẫng, lý do thì muôn vẻ nhưng tựu chung lại là cảm giác xa lạ, mất mát. Đã hơn 50 năm rồi hành cung Bố Đạt La vắng bóng chủ nhân thực sự của nó. Người Tạng cũng không còn lui tới đây thường xuyên, có chăng chỉ đi vòng kora khổng lồ dưới chân điện. Có sinh có diệt, vạn vật vô thường, Đức Thích Ca cũng từng truyền dạy điều đó áp dụng cho cả Phật pháp; mới nghe sao thấy dễ dàng nhưng đến Lhasa đối diện với thực tại đang diễn ra từng ngày thì lòng cay đắng lắm! Nhưng nếu ai hỏi tôi ấn tượng nhất với Lhasa là gì, tôi vẫn sẽ trả lời: “Potala!”. Nếu bạn một lần đến Lhasa, xin hãy bỏ sức leo lên cung, cũng như bạn đã từng không ngần ngại leo Yên Tử, leo chùa Hương, leo Côn Sơn Kiếp Bạc; bởi tôi xin cam đoan với bạn một điều rằng trên cao gió bạt tiếng eo sèo.

Potala kể từ ngày đầu được vua Tùng Tán Cương Bố đặt nền móng năm 637 cho đến lúc Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 mở rộng năm 1645 đã kinh qua bao biến thiên đổi dời; ngày nay trở thành bảo tàng độc đáo cho kiến trúc và văn hoá Phật giáo của người Tạng trên cao nguyên. Và khi đêm về trăng lên là lúc phô bày vẻ đẹp lưỡng tông Hồng-Bạch huyền ảo bí ẩn đó:

Trong cái nắng hè oi ả của kinh đô ánh sáng lúc nào cũng ngập tràn ánh mặt trời, tôi đến thăm tu viện Sera, 1 trong 3 ngôi đạo tràng quan trọng bậc nhất của thủ phủ Lhasa. Ấn tượng của tôi về ngôi đại tùng lâm này là hàng cây rợp bóng trong khuôn viên tu viện và nét mặt hứng khởi của những Tăng sĩ tuổi còn rất trẻ đang sôi nổi truy bài trong vườn Biện Kinh:

Nội dung của những cuộc tranh luận khẩu chiến này tôi không được biết, nôm na người đời bảo đó là cách để đào sâu hiểu biết về Phật điển, nâng cao tri thức trong quá trình tu học, và cũng là cách tinh tiến để đạt cảnh giới cao hơn. Tổng cộng có 6 cấp bậc trong giới Tăng sĩ Tây Tạng và việc vấn đáp sát hạch là bắt buộc để đạt được tới cấp thứ 4! Hoá ra có cách ngồi tập trung thiền định thu mình vào trong để tự giác ngộ, cũng lại có cách biện giải huyên náo để lĩnh hội giới luật như thế. Hoàng Mạo Giáo là tông giáo chú trọng nhất vào việc học đạo đúng cách, đề cao sự rèn luyện của Tăng chúng; hôm nay tôi đã được thấy phần nào điều đó:

Rời Lhasa tôi lại rong ruổi trên con đường thiên lý đến thăm thành phố lớn thứ 2 của Tây Tạng: Shigatse. Ngày đi Shigatse cũng là ngày nhiều sự kiện với tôi khi được tận mắt ngắm những kỳ quan thiên tạo và nhân tạo tuyệt diệu của Tây Tạng. Có ai không nín thở khi đứng trên đèo Karola cao hơn 5000m để ngắm màu xanh ngọc kỳ lạ của hồ San hô Yamdrok-tso đẹp ngỡ ngàng đang uốn lượn dưới chân đỉnh băng vĩnh cửu Nojin Kangtsang sừng sững ở độ cao 7191m:

Vị nữ thần nào năm xưa đã hoá thân vào hồ Yamdrok kỳ ảo này để ngày hôm nay tôi đứng đây chôn chân trong nắng gió ngắm nhìn cảnh quan mà lòng cảm khái trào dâng, thêm giận mình bất tài không tả được cái đẹp siêu nhiên chốn này!

Con đường xuống đèo chạy song song với bờ hồ mang lại góc nhìn khác về Yamdrok-tso, một góc nhìn tâm linh. Ai đến hồ cũng sẽ để ý thấy hàng ngàn ụ đá nhỏ có theo hình dạng stupa rải rác gần mép nước mà người Tạng hàng năm đi hành hương qua đây đều cung kính xếp lại như để lưu dấu trong cõi trần ai này, họ đã đến đảnh lễ chốn hồ thiêng vinh danh Phật pháp.

Khi xe chạy qua lên đỉnh đèo Karola (4960m) là lúc tôi được nhìn gần Nojin Kangtsang hơn, ngắm nhìn cái chói chang của đỉnh băng trong nắng trưa và rùng mình trong cái lạnh không cắt nghĩa được, cũng là dịp khẳng định một điều tôi đã tâm niệm từ lâu về Tây Tạng: Tuyết nơi đây trắng sạch nhất thế gian!

Dấu ấn thiên tạo của Tsang là thế, còn dấu ấn nhân tạo thì sao? tôi dừng chân bên trấn anh hùng Gyantse nghe lại câu chuyện pháo đài Gyantse Dzong nơi bao người Tạng ngã xuống đền nợ nước trong buổi đầu xâm lược của thực dân Anh năm 1904. Một thế kỷ đã qua rồi, pháo đài Dzong ngày nay vẫn sừng sững giữa thị trấn, tiếng súng gươm đã lùi vào quá khứ nhưng cuộc tranh đấu âm thầm lặng lẽ liệu đã thôi âm ỉ?

Gyantse là thị trấn nhỏ và nghèo, đường đi vắng lắm, những ngôi nhà lầm lũi như khô cháy dưới nắng cao nguyên, bóng người Tạng thấp thoáng dưới mái hiên, con đường giữa trấn như hoàn toàn tách biệt bởi dòng xe du lịch cứ chạy rầm rập, ngồi trên xe là khách thập phương tứ xứ như chúng tôi đây, chắc không có ai dừng lâu nơi này để nói được lời chào đúng nghĩa. Chạnh lòng nghĩ đến câu của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: “người vô tâm nhiều như gió bụi trên đường”

Cách pháo đài Dzong không xa là quần thể tu viện Pelkhor Chode – nơi hoà quyện tâm linh và dung dưỡng của 2 tông giáo Tát Ca và Cách Lỗ của Tây Tạng, một hình thức tổng hoà độc đáo mà tôi bấy giờ mới có dịp diện kiến. Chưa chạy đến cổng tu viện đã thấy thấp thoáng phía xa công trình kiến trúc “dị thường” nhất của toàn vùng Tsang nói riêng và cả Tây Tạng nói chung: tháp Thập Vạn Phật

Đếm sao cho đủ chi tiết mười vạn tranh tường, bích hoạ, tượng Phật, khám thờ … bên trong tháp; chỉ biết rằng ai đến đây cũng giật mình bởi kiến trúc Stupa Muôn cửa khổng lồ đã được người Tạng nghiêm cẩn dựng lên thành kỳ quan giữa cao nguyên! Kia là 4 tầng đáy của Tứ diệu đế và 4 đôi mắt hiền từ của đức Thế Tôn đang nhìn ra bốn phương; trên nữa là 13 nấc thang phấn đấu của đời người dẫn lên cõi Niết bàn; trên thượng tầng tháp là sự minh triết, là vòm trời xanh với trăng sao mây trắng nắng vàng. Kiến thức bản thân còn hạn hẹp mà biển trí huệ thì bao la, tôi chỉ biết gửi gắm những điều mình thấy qua vài bức ảnh.

Màu sắc của Kumbum – Thập Vạn Phật tự bên trong và cả bên ngoài phải dùng tính từ dữ dội để diễn tả! Nếu sắc bao quát trắng-đỏ-tím bên ngoài tháp chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiến trúc Nepal thì bên trong mỗi khám thờ tôi bắt gặp cách phối màu rực rỡ và có phần siêu thực của người Tạng. Mỗi gian điện lần lượt là các bức tượng thờ Quán Thế Âm, Thanh Đa La, Bạch Đa La, Tu di, Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền Bồ Tát thì trên tường và trần là sẽ là vô vàn hoạ hình tương ứng. Tôi còn nhớ mãi khi đó trong lúc mắt quáng tay run chân mỏi, tôi bước vào 1 khám thờ rất tối và khi ngước lên bắt gặp tượng thân của Đức Phật Thích Ca toàn một màu đỏ sậm khoác y vàng đang nhìn xuống. Lòng tôi vừa kính sợ vừa thích thú, lễ tạ Ngài xong tôi đi lùi ra cửa mà không dám nâng máy lên chụp. Đây có lẽ là gian điện duy nhất tôi không dám chụp ảnh dù được phép.

Trên đường leo lên tháp, tôi gặp nhiều gia đình người Tạng 2-3 thế hệ cũng đang đi tham bái Kumbum, chúng tôi cùng lần từng bước lên những bậc thang nhỏ hẹp quanh co để khi lên đến đỉnh thì trao nhau nụ cười và cái gật đầu thay lời chào giữa những người không cùng ngôn ngữ. Tôi leo Kumbum mà cứ thắc mắc mãi, người Tạng vốn khá cao to mà sao những cầu thang họ làm nhỏ thế để vừa leo vừa lo đụng đầu? thế rồi tôi tự tìm cho mình lời giải đáp: Có phải chăng từ lúc sinh thời họ đã gắn bó với Phật giáo, khi còn nhỏ họ đã đến thăm viếng nơi đây và khi đã tuổi già xế bóng thì con cháu lại đưa họ tìm về chốn cũ? Nếu xa xưa lúc còn thơ bé đã có dịp vào nơi này thì chẳng phải thế giới quan hoá ra rất rộng lớn hay sao!

Đứng trên Kumbum lúc này chính ngọ, tôi nhìn bao quát toàn trấn Gyantse đang được mặt trời dát vàng ở cao độ xấp xỉ 4000m mà thầm cảm phục câu nói đầy tính triết lý của thi hào Goethe: “Über allen Gipfeln ist Ruh” – Trên tất cả những đỉnh cao là bình yên.

Rời Kumbum, con đường xuyên vùng Tsang đưa tôi đến điểm dừng cuối: tu viện Tashilhunpo ở trung tâm thành phố Shigatse, là nơi tiếp diễn sự truyền thừa của dòng Ban Thiền Lạt Ma. Những tranh chấp phức tạp nhiều thế hệ hiển hiện trong lòng xã hội chính trị-tôn giáo Tây Tạng và cả sự ganh đua giữa 2 đô thị Nhật Khách Tắc và Lạp Tát sẽ là đề tài thu hút bất cứ ai đặt chân đến đây.

Trát Thập Luân Bố ngày nay là nơi tu học của Tăng sĩ vùng Tsang, cũng là điểm du lịch không thể bỏ qua. Câu chuyện dòng Đạt Lai Lạt Ma và Ban Thiền Lạt Ma; người là học trò, người là thầy dạy; cả 2 dòng đều là những đệ tử lỗi lạc của Hoàng Mạo Giáo thờ chung thầy là đại sư Tông Khách Ba; cả 2 dòng đều có tái sinh; mỗi dòng vừa có nhiệm vụ tiếp tục truyền thừa vừa thụ ấn người tái sinh của dòng kia. Mới nghe sao mà rắc rối và biết bao điều cơ mật đi kèm, kẻ hậu sinh như tôi quả không dám lạm bàn!

Bước đi trong Tashilhunpo, tôi bị thu hút bởi tông màu đỏ rực đầy uy quyền của 4 toà điện lớn nhất trong khuôn viên viện cùng những mái vàng ròng phô bày xa hoa minh chứng cho tài nghệ xuất chúng của người Tạng.

Hình ảnh bức tượng Phật tương lai Di Lặc cao 27m với đôi mắt xanh hiền hoà trong điện Jamkhang Chenmo cùng với sân Kelsang rộng lớn bao bọc 4 phía bởi nhưng bức tường đầy màu sắc hoạ hình đức Phật trong muôn ngàn ấn thủ chắc sẽ còn đeo đuổi tôi mãi …

Thiên nhân đồng điệu ^^ tạm biệt những công trình nhân tạo đượm màu tôn giáo vùng Tsang, tôi đi dọc theo dòng Nhã Lung trở lại vùng U để ngắm những nét thiên tạo khốc liệt khác mang bản sắc cao nguyên. Đứng trên triền dốc nhìn ra con sông Yarlung Tsangpo đang chảy giữa lòng U-Tsang, tôi mừng gặp lại người bạn cũ. Mới vài ngày trước tôi lần đầu gặp Nhã Lung khi sông uốn lượn hiền hoà dưới chân đỉnh Namche Barwa đoạn chảy qua rừng xanh Lulang; còn ngày hôm nay sông như xanh hơn in bóng trời trong vắt chảy xuyên qua những vùng đất trống núi trọc cực kỳ hiểm trở, hai bên là lạo xạo sỏi đá. Tôi nhặt vài viên đá và ném mạnh ra xa, dù đã thử nhiều lần và dùng hết sức, hòn nào hòn nấy chỉ rơi xuống lạch cạch và dừng lại bên bờ mép nước. Quá xa, quá rộng, quá hùng tráng! còn con người thì quá nhỏ bé! Ngay cả con đường 318 mệnh danh là Quốc lộ Trung Hoa cũng chỉ như đường kẻ vạch trên tấm màn mênh mông bao bọc bởi trời nước núi non.

Năm xưa vương triều Nhã Lung hùng mạnh rời đô từ thung lũng Yarlung vùng Kham về Lhasa chắc chắn đã qua đây. Bao nhiêu người đã đến và bao nhiêu người sau này sẽ tới, liệu họ có như tôi cũng đứng trước sông và ngâm ngợi về quá khứ vị lai của mảnh đất này? Lý Nhuệ dành trăm trang sách Ngàn dặm không mây để viết về thôn Ngũ Nhân Bình “hai năm không mưa, nắng như thiêu đốt”; có ai đã viết cho nơi đây những lời công bằng? Mà nào có hề chi với dòng Nhã Lung hùng tráng, “Chảy đi sông ơi – Băn khoăn làm gì? – Rồi sông đãi hết – Anh hùng còn chi?”

Trở về vùng U, tôi đi thăm một nơi linh thiêng nằm trong Tứ đại hồ thiêng của người Tạng: thánh hồ Nam-tso. Nằm ở độ cao hơn 4700m, lại bao bọc bởi rặng Nyenchen Tanglha với đỉnh cao chạm trời 7162m, hồ Nam-tso rộng đến 1920 cây số vuông, gần gấp 3 lần quốc đảo Singapore! “Nhỏ” như Singapore tôi còn chưa có dịp đi hết, đứng trước hồ mà tôi tâm phục khẩu phục. Phải gọi nơi đây là biển! biển trời, biển nước, biển gió, biển mây, và may sao không phải biển người ^^

Phong vô tướng, vân vô thường, muốn cảm nhận hết vẻ đẹp và sự linh thiêng của Nam-tso đã là khó rồi, nói chi đến việc nắm bắt dáng hình đang trải dài trước mắt. Khuôn hình tôi có hạn, cảm nhận còn thô vụng, xin tặng lại Nam-tso vài phút giây ngày nắng đẹp tôi đến – một trong muôn ngàn vẻ đẹp khôn tả của chốn biển hồ trên núi, dằng dặc một khúc ca giữa bao la mây trời.

Kỷ niệm với Nam-tso trong tôi còn là buổi trưa rất vui giữa lều 1 gia đình người Tạng sát mép hồ, nơi tôi được thư thả cạn chén trà sữa bò Yak và ăn món sữa chua gia đình làm. Nồng lắm, đậm lắm, béo lắm, khó ăn lắm nhưng hãy ăn đi bởi biết đến bao giờ mới có dịp lên Tây Tạng chỉ để ngồi uống với nhau chén trà như thế?

Tôi rời Nam-tso khi ánh nắng vẫn chưa tắt trên mặt hồ. Cảnh hồ đẹp vô song nhưng tôi cầm lòng không bước xuống để chạm vào mặt nước. Có lẽ mai sau tôi sẽ luyến tiếc vì bỏ mất cơ hội đó, cũng có thể lắm bởi tôi vẫn tham-sân-si

Sang ngày thứ 9 của cuộc hành trình, tôi tạm biệt vùng U để trải nghiệm một điều thú vị khác: đi trên tuyến đường sắt độc đáo nối liền Tây Tạng và người anh em thuở trước: cao nguyên Thanh Hải. Có 2 điều tôi thích thú với đường sắt này, không phải ở những cái “nhất” đã được nghe liệt kê: một là tôi có dịp được ngắm phong cảnh giao thoa giữa ‘Tạng’ và ‘Thanh’ hay chính là vùng U với Amdo thuở trước; hai là tôi có thời gian ngồi chép lại đọc lại những điều dồn dập tôi đã thấy trong vài ngày trước mà cho dù chuẩn bị kỹ càng trước khi đi nhưng tôi không thể ngờ bức màn phía Tây lại che phủ quá nhiều điều lạ lẫm phải tai nghe mắt thấy mới thoả lòng.

Tàu hoả thì vẫn là tàu hoả, nhưng nếu nói thế mà bỏ qua cung đường này thì quả là đáng tiếc. Hãy thử tưởng tượng khi bạn đang yên vị trên tàu chạy băng băng giữa cao nguyên thì nhác thấy 1 đàn cừu con trắng con đen đang bê tha gặm cỏ, bạn vừa nâng máy lên chưa kịp chỉnh ống kính thì tàu chạy qua mất, tiếc lắm, giận lắm, lại chong mắt lên chờ đợi và mai phục, cứ thế bạn luôn tay bấm máy, thu hết những gì đẹp và không đẹp lộ qua khung cửa. Tôi dám cá rằng có những lộ trình đẹp mà trong đời bạn chỉ đi với số lần cực kỳ hữu hạn, đường sắt Thanh-Tạng là một trong số đó!

Trong một phút vô tình của những lúc chong mắt chờ đợi và mai phục đó, dãy Khả Khả Tây Lý chào tôi từ phía rất xa. Sẽ có ngày tôi tạ lỗi với Kekexili bằng những hình ảnh đầy đủ và sống động hơn thay lời chào vội vàng tối nay:

Hành trình càng thú vị thì thời gian như càng trôi nhanh hơn! Khi bóng tối đã buông, tôi cảm tưởng con tàu rất đơn độc, phóng băng băng một mình qua thảo nguyên lúc này đã rơi vào tĩnh mịch. Nhìn đồng hồ tôi giật mình khi thấy đã sang ngày mới, đây là lần duy nhất trong 11 ngày xuôi ngược mà tôi thức khuya đến thế. Một ngày đi qua, tôi đã ở trong địa phận Thanh Hải, và phía xa mặt trời cao nguyên đang lên dần với sắc đỏ dịu mắt khác với cái chói chang thường gặp ở Tây Tạng. Tôi không nhớ lần cuối tôi được nhìn thẳng vào mặt trời như thế này là dịp nào:

Ra đến Tây Ninh, Thanh Hải, tôi tưởng rằng những gì ấn tượng nhất đã qua và ngày cuối là lúc nghỉ ngơi thư giãn nhưng tôi đã nhầm! Một vùng đất tiếp giáp với Tân Cương, Tây Tạng, Cam Túc, Tứ Xuyên; là mái nhà chung của người Tạng, Hán, Hồi, Mông Cổ; là quê hương của những con sông lớn tầm thế giới như Hoàng Hà, Trường Giang, Mekong; cũng là nơi hơn 650 năm trước sinh ra tổ sư Hoàng Mạo Giáo và sau đó gần 600 năm lại đản sinh vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 Tenzin Gyatso. Nơi đây kỳ lạ và thâm nghiêm vượt xa tầm với của bất cứ ai!

Điểm đầu chúng tôi ghé thăm là hồ Thanh Hải rộng mênh mông, xếp hạng là hồ nước mặn lớn nhất trên đất liền của Trung Hoa. Tôi dám cược rằng sớm thôi người Tạng cũng sẽ mất tiền để vào khu vực này vì quanh hồ người ta đang hối hả xây dựng khu resort mang phong cách Tạng! chắc sẽ là khu resort đầu tiên trên thế giới mang phong cách này cũng nên! Điểm dừng thứ hai là tu viện Tháp Nhĩ nằm ở vùng Hoàng Trung, ngôi đạo tràng lớn nhất và quan trọng nhất của phái Cách Lỗ ở Thanh Hải và được mệnh danh là tiểu Potala của Tây Tạng.

Bóng cũ dáng xưa có phần mai một, tu viện Taer nay đã mấy trăm năm tuổi. Nền cũ nơi mẹ Tông Khách Ba dựng stupa cho Ngài gửi gắm vào đây bao nhiêu tình mẫu tử giờ được tôn tạo lớn hơn, đẹp hơn; câu chuyện xung quanh tuổi thơ và sự đản sinh khác thường của Ngài cũng được thêu dệt bóng bẩy hơn. Niềm tin tôn giáo vừa khiến tâm hồn người ta thảnh thơi hướng thiện nhưng cũng là cách sinh lợi cho nhiều người; âu là thuận thời thế thế thời phải thế.

Taer có đến 4 học viện với nội dung học thuật rộng lớn nhưng có vẻ việc Biện kinh tranh luận không được đề cao như trong Lhasa. Tăng sĩ trẻ có, già có, nhìn vừa gần gũi với đời, vừa xa rời lạc lõng. Nếu đem thước đo tiêu chuẩn của giới luật ngày xưa mà xét thì chắc là ngày nay chắc đã xé rào nhiều. Đúng là sự đời vần vũ như mây gió, đổi thời gian đổi cả không gian

Chỉ ở được Thanh Hải 1 ngày tôi đã phải nói lời chia tay và cũng là lúc tạm biệt Tây Tạng, mảnh đất rộng lớn linh thiêng. Thiên Lý Nhãn nhìn xa muôn dặm, liệu có thấy hết những núi cao vực sâu chốn này? Thuận Phong Nhĩ nghe ngoài nghìn trượng, liệu có rõ câu chú ngân nga trong nắng trong mưa và trong tim mỗi người dân Tạng? Gió mây sẽ lại đi về trên nóc nhà thế giới như tự ngàn năm nay vẫn chẳng đổi thay, sẽ tiếp tục thổi tung bay triệu triệu lá cờ ngũ sắc in kinh Phật giăng khắp cao nguyên. Trong lòng tôi tràn đầy xúc động và hạnh phúc bởi cũng có ngày tôi bắt kịp chính mình trong giấc mơ khi trước, bắt kịp mây gió để được một lần trong đời đặt chân đến nơi đây.

3. Ngày về

Tôi rời cao nguyên Thanh-Tạng trong đêm, sáng mai tôi sẽ trở lại với cuộc sống thường nhật ồn ào bận rộn. Sau này có dịp trở lại không biết cảm giác của tôi sẽ ra sao? Mừng vì lại được rong ruổi trên đường thiên lý thăm viếng cố nhân? Lo vì khi đó sức khoẻ và nhiệt tâm liệu còn mạnh mẽ? Buồn vì thời gian tuy trôi nhanh nhưng chưa bằng những biến thiên đa cực cuồn cuộn trong lòng Tuyết Quốc? hay tôi sẽ sợ vì không dám đối mặt với một Tây Tạng quá mới mẻ? Tôi vừa thu được và vừa đánh mất mười một ngày! Có hề gì đâu? Thời gian và mảnh đất này thật là hào phóng. Tây Tạng của ngày hôm qua, hôm nay, và mai sau sẽ luôn hào phóng như thế, dang tay chào đón những ai muốn đến đây để chiêm bái sự hùng vĩ của thiên nhiên hoà quyện với cái đẹp tâm linh của nền Phật giáo Đại thừa Mật tông thâm hậu, dẫu biết rằng vạn vật trên đời không ra khỏi vòng sinh-diệt-tái sinh. Với cuộc đời này, với sự hào phóng ấy, phải sống nhanh lên, có ích hơn, và không chờ gì cả. Có lẽ ngày xưa chính là các Ngài sống thế!

Khi tôi chia sẻ câu chuyện của mình về Tuyết Quốc, người trẻ thì háo hức, người già thì trầm ngâm. Có người hỏi vì sao tôi có nhiều đam mê với mảnh đất Tây Tạng và văn hoá nơi đây đến thế? Tôi đồ rằng kẻ ngoại đạo như tôi giống tấm vải trắng dễ ăn thuốc nhuộm, hiểu biết hạn hẹp của tôi giống cốc nước vơi rất dễ đong đầy; nên khi vén mây bước vào thế giới siêu thực này, tôi đã được thoả lòng mong đợi ^^

Giữa bầu trời lịch sử, ấy muôn triệu ánh sao
Trong dân gian vạn thưở, ấy muôn triệu đoá hoa!

Hôm tôi ở Singapore trời cũng nắng, nhưng là cái nắng “điều hoà”, một thứ nắng xoàng.

Câu chuyện tôi kể các bạn nghe đến đây là hết.

Tây Tạng Du Ký – Ngày 10: đến Tây Ninh

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 11-08-2010

6

1. Bình minh Thanh Hải:

Chợp mắt hơn 5 tiếng đồng hồ, chúng tôi đều trở dậy cùng lúc khi ánh sáng đầu ngày le lói qua cửa sổ kèm theo tiếng chân người chộn rộn ngoài hành lang. Hình như cả toa đã thức giấc để xem mặt trời mọc trên thảo nguyên Thanh Hải – một cảnh tượng không nên bỏ lỡ trong những chuyến du hành bằng tàu băng qua đường sắt Thanh Tạng ^^

Khung cảnh lúc này khi vừng Đông mới ló dạng:

Mọi người đều tranh thủ xếp hàng đi đánh răng rửa mặt buổi sáng, thêm 1 kinh nghiệm quý giá với hành khách là ai cũng nên mang theo cốc để lấy nước Qua đêm, nước trên tàu cực kỳ lạnh (>_<) Khi đã xong xuôi thì cũng vừa lúc mặt trời hồng từ từ lộ ra trên đường chân trời:

“Ba mặt trời” đỏ ối đang lên dần trong lúc khung cảnh sườn Tây núi vẫn tối đen:

Tàu lượn theo đường ray và có chủ ý đi chậm lại để hành khách thong thả ngắm bình minh:

Mặt trời lúc này đã tròn trịa hơn, lên dần giữa thảo nguyên bao la tuy cảnh vật vẫn chưa sáng tỏ; lúc này đồng hồ chỉ 5 giờ 25 phút sáng:

Bay đi xa đi xa, lời thơ tranh đấu Po-ta-la …

… Chẳng có ghita cũng chẳng có đấu tranh, có chăng là tiếng tàu đang xình xịch giữa buổi sáng đầu tiên trong lòng Thanh Hải và bữa sáng đạm bạc của tôi: mỳ gói với chuối tiêu:

Khi mặt trời lên cao, thảo nguyên Thanh Hải hiện ra đầy đủ và sống động, không khí trong mát hơn, gió từ hồ thổi vào phả hơi lên khung cửa sổ. Xa xa là những đàn bò Yak đang gặm cỏ và tất nhiên không thể thiếu hình ảnh hồ Thanh Hải (Qinghai Lake) dọc theo đường tàu:

Tàu giảm tốc chạy vào ga cuối Tây Ninh (Xining), nhân viên tàu lần lượt đi các toa để trả lại vé giấy cho hành khách. Ai cũng đã gần như sẵn sàng với hành lý để ra hành lang:

Đúng 9h30 sáng (trễ hơn dự kiến 9h20 ghi trên vé), đoàn tàu rùng mình rồi dừng lại ở ga cuối Tây Ninh, kết thúc 24 tiếng du hành trên cung đường Thanh-Tạng xuyên qua những cảnh vật núi đồi tuyết trắng và thảo nguyên xanh ^^ Khách Tây khách Ta xuống tàu ai cũng tranh thủ trời đang nắng sớm chụp vài tấm ảnh:

Bên trong ga Tây Ninh khá sạch và vắng. Đường đi lại có biển hướng dẫn rõ ràng, khi ra cửa cuối sẽ có nhân viên nhà ga thu lại hết vé tàu:

Ấn tượng đầu tiên về Tây Ninh đúng như dự đoán: không có gì đặc biệt thành phố rộng nhưng lộn xộn, nhà cao tầng còn ít, và đặc biệt là không khí ô nhiễm và trời nóng bức khó chịu.

Thanh Hải (Xining) vốn thuộc vùng Amdo theo địa giới cũ của Tây Tạng, nổi danh với 2 dãy núi lớn Côn Lôn (Kunlun) và Tanggula, là nơi bắt nguồn của 3 con sông lớn nhất châu Á: Trường Giang (Chang Jiang), Hoàng Hà (Huang He), và Mekong (Lancang Jiang). Vùng đất này cũng chính là quê hương của nhà cải cách lỗi lạc, sư tổ của Hoàng Mạo Giáo (Yellow Hat Sect) đại sư Tông Khách Ba (Tsongkhapa) Nếu không kể 3 vùng tự trị Tây Tạng (Tibet), Tân Cương (Xinjiang), và Nội Mông (Inner Mongolia) thì Thanh Hải là tỉnh có diện tích lớn nhất toàn Trung Quốc. Giống như Vân Nam, Thanh Hải là ngôi nhà chung của nhiều sắc tộc, trong đó số đông là người Hán, Tạng, Hồi, và Mông Cổ.

Là thủ phủ của tỉnh Thanh Hải, Tây Ninh (Xining) nằm phía Đông Bắc cao nguyên Thanh-Tạng ở độ cao trung bình 2200m so với mực nước biển, xưa kia giữ vai trò quan trọng trên con đường tơ lụa (Silk Road) còn ngày nay là điểm trung chuyển đường sắt duy nhất từ các vùng miền khác của Trung Quốc đi Tây Tạng. Thông tin du lịch của Tây Ninh nói chung và Thanh Hải nói riêng còn khá hạn chế, kể cả Lonely Planet – China cũng không có nhiều chi tiết về vùng này.

Nhắc đến du lịch Tây Ninh, Thanh Hải là nhắc đến 3 địa điểm chính: hồ Thanh Hải (Qinghai Lake), thánh đường Hồi giáo Đông Quận (Dongguan Mosque), và tu viện Taer (Taer Monastery hay Kumbum Monastery) – 1 trong 6 tu viện quan trọng nhất của Cách Lỗ Tông (Gelugpa Sect) trong toàn Tây Tạng. Kế hoạch của cả đoàn là chiều ngày 10 sẽ đi thăm hồ Thanh Hải và sáng ngày 11 đi thăm tu viện Taer trước khi đáp máy bay tối đi Thành Đô để đêm rời khỏi Trung Quốc kết thúc hành trình Tây tiến

2. Hồ Thanh Hải:

Chúng tôi theo xe bus từ ga Tây Ninh chạy về phía hồ Thanh Hải, từ trong thành phố ra đến khu du lịch hồ Thanh Hải xa đến 150km! vừa rời tàu chúng tôi lại tiếp tục cuộc du ngoạn trên xe gần 4 tiếng đồng hồ … Thành phố Tây Ninh không rộng và khá bụi bặm, phần lớn là các khu nhà máy chế xuất phân xưởng hai bên đường, loại xe phổ biến trong thành phố là xe nhỏ 3 bánh nhìn kỳ cục và không an toàn điều dễ chịu nhất là phương tiện lưu thông trên đường không nhiều nên xe cứ thế chạy bon bon. Ngủ gà gật qua trưa chúng tôi mới đến được khu du lịch hồ Thanh Hải (Qinghaihu National Park), ai cũng đói mềm người nên chưa vội ra hồ mà vào nhà hàng trong khuôn viên khu du lịch để ăn trưa:

Ăn xong chúng tôi mới ra hồ, sau cửa soát vé là 1 đoạn đường đi bộ ngắn trước khi đến trạm xe điện, từ đây sẽ có xe của khu du lịch đưa khách đến gần bờ hồ để có thể đi tàu 1 vòng ra hồ. Khó mà cảm nhận thấy những nét gì thuộc về vùng Amdo cũ của người Tạng nữa, không khí quanh hồ mang màu sắc du lịch đồng bằng Trung Thổ là chính.

Tên hồ rớt mất chữ ‘E’ nhưng hình như cũng không ai quan tâm để sửa lại …

Tháp này được xây học theo cấu trúc Stupa của người Tạng, nhưng được ‘sáng tạo’ cách điệu đi, kiến trúc mặt trời – mặt trăng ở tầng thượng Stupa được thay bằng một con ngựa đá!

Càng đến gần bờ hồ, không khí càng lạnh, khi xe buýt dừng thì ai nấy đều đã tái mặt vì gió hồ Thanh Hải thổi rất mạnh và cực kỳ rét trời Tây Ninh hôm nay nhiều mây xám xịt, càng làm nản lòng khách tham quan! Trên cầu tàu, rất nhiều thuyền đã đậu sẵn chờ khách. Vì hồ Thanh Hải quá rộng nên hình thức đi tàu trên hồ chắc là cách duy nhất để ngắm một phần của hồ.

Tàu này cũng tương tự như tàu cánh ngầm đi Phú Quốc hay Vinpearl Nha Trang ngồi trên boong tàu thì nhìn cảnh vật rõ ràng nhưng lại rất rét, ngồi dưới khoang tàu thì ấm nhưng không ngắm được gì; tóm lại bạn đọc đã ghé hồ Thanh Hải cũng không cần đi tàu 1 vòng làm gì vì cảnh sắc không độc đáo lắm, đồng thời vé tàu (100 RMB) phải mua riêng chứ không kèm trong vé vào cửa!

Nằm ở độ cao hơn 3200m, hồ Thanh Hải là hồ nước mặn trong đất liền lớn nhất toàn cao nguyên Thanh-Tạng cũng như Trung Quốc, diện tích mặt nước lên đến hơn 4500km2 (rộng hơn 2 lần hồ lớn Nam-tso). Người hành hương đến đây phải mất đến 18-20 ngày chỉ để đi vòng quanh hồ! Bốn mặt hồ được núi non bao bọc: phía bắc là Đại Thông Sơn, phía đông là Nhật Nguyệt Sơn, phía tây là Tượng Bì Sơn còn phía nam là Thanh Hải Nam Sơn. Để có được tầm nhìn rộng và xa trên hồ, du khách nên đến vào ngày nắng trời trong. Hôm chúng tôi đến hồ là lúc trời nhiều mây nên không ngắm cảnh được nhiều, chỉ thấy toàn sóng nước mênh mông và mây mù giá lạnh, tít tắp xa xôi không biết đâu là bờ:

Được biết phía Tây của hồ có quần thể đảo chim (Bird Islands) với nhiều loài chim quý hiếm, có thể thuê thuyền vượt hồ hoặc đi đường bộ (xa 300km từ Tây Ninh!) để đến được đảo, nghe xong chỉ biết tặc lưỡi lắc đầu vì quá xa và không đủ thời gian. Tàu lướt 1 vòng trên hồ khoảng 1 tiếng thì quay trở lại bờ, khi lên ai cũng lạnh run người, trẻ con người lớn tay chân đều đỏ lên vì gió rét:

Chúng tôi đón xe buýt của khu du lịch và quay trở lại cổng, ấn tượng với hồ Thanh Hải đúng là không rõ nét mà phần nhiều do thời tiết, không có cái nắng vàng rực rỡ trải rộng như trên hồ Yamdrok-tso hay hồ Nam-tso Nếu để ý kỹ các khu vực xung quanh hồ sẽ thấy các bạn Trung Quốc đang xúc tiến xây dựng khu vực công viên này thành khu resort cao cấp nhằm tận dụng thế mạnh hồ Thanh Hải để tạo ra môi trường nghỉ ngơi an dưỡng mát mẻ. Chắc chỉ 2 năm nữa là ‘Qinghai Lake’ sẽ được ghi trong sách du lịch là ‘Qinghai Resort’

Trở lại xe, chúng tôi chạy ngược vào thành phố Tây Ninh ăn tối rồi về khách sạn, điểm đến là Qingzang Mansion (43 Sichuan South Road, Xining) – cũng là khách sạn tốt nhất chúng tôi từng ở qua sau chục ngày rong ruổi, nhưng có nhược điểm là nhân viên khách sạn không nói được tiếng Anh, chắc vì ít làm du lịch với khách quốc tế (>_<) kém cả Lhasa với Shigatse, thậm chí dịch vụ gọi quốc tế cũng chỉ đi được vài nước và không có Việt Nam trong danh sách ... Vài hình ảnh về khách sạn ngay lúc trời sắp tối:

Những gì sống động nhất, ‘Tạng’ nhất thì nằm cách đây hơn nghìn cây số về phía Tây rồi, vô hình chung làm khách phương xa không mấy mặn mà với điểm dừng Tây Ninh, Thanh Hải. Tranh thủ đi tản bộ quanh khách sạn, tôi chụp vài tấm về cuộc sống bình lặng và vắng vẻ của Tây Ninh khi sắp lên đèn:

Và khi trời đã tối hẳn thì Thanh Hải chìm trong ánh sáng đèn điện và sự tĩnh mịch lạ thường, hiếm hoi lắm mới có bóng người đi bộ, thậm chí xe chạy trên đường cũng ít:

Ru ngủ trong gió khuya và không khí phố phường tĩnh mịch, tôi đi bộ quay về khách sạn, vào tiệm tạp hoá dưới tầng một mua ít đồ ăn rồi đem lên phòng:

Pha 1 ly trà nóng nhâm nhi với thịt bò Yak khô mua từ Lhasa, tôi tranh thủ đọc nốt cuốn sách The Potala và ngâm ngợi lại những điều đã thấy qua sau nhiều ngày thăm thú Tây Tạng. Kể từ ngày đầu rời Thành Đô, bây giờ tôi mới có thời gian thư thả thế này, hành trình Tây Tạng chỉ còn 1 buổi ngày mai đi thăm tu viện Taer Monastery là kết thúc. Và cũng như mọi cuộc hành trình hay mọi bữa tiệc vui đều có ngày kết thúc, phải chăng chỉ là khởi đầu cho những chuyến đi tiếp theo của những ngày sau … Xin hẹn bạn đọc trong bài viết ngày cuối đi thăm quan tu viện Hoàng Giáo độc đáo và quan trọng nhất của toàn Thanh Hải

Tây Tạng Du Ký – Ngày 9: đường sắt Thanh-Tạng

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 05-08-2010

1

1. Đôi nét về tuyến đường sắt Thanh-Tạng:

Chính thức đưa vào vận hành từ tháng 7 năm 2006, tuyến đường sắt Thanh-Tạng (Qingzang Railway) trở thành tuyến đường sắt duy nhất và cực kỳ quan trọng nối liền Tây Ninh (Xining), thủ phủ tỉnh Thanh Hải (Qinghai) với Lhasa, thủ phủ Tây Tạng. Dài tổng cộng 1956km và vượt qua 675 cây cầu, đường sắt Thanh-Tạng chia làm 2 phần chính: phần 1 từ ga Tây Ninh đến ga Golmud dài 815km, và phần 2 từ ga Golmud đến ga Lhasa dài 1142km. Nhờ sự ra đời của đường sắt Thanh-Tạng mà ngày nay, du khách có thể đi tàu suốt từ Bắc Kinh (Beijing), Thượng Hải (Shanghai), Tây An (Xian), Quảng Châu (Guangzhou), Trùng Khánh (Chongqing), Thành Đô (Chengdu), và Lan Châu (Lanzhou) đến Tây Ninh (Xining) để từ đó đi tiếp vào Lhasa:

Bản đồ chi tiết các ga từ Xining đến Lhasa:

Những cái nhất mà tuyến đường sắt này chiếm giữ:
- Là tuyến đường sắt cao nhất thế giới: trung bình trên 3000m so với mặt nước biển, hơn 960km đường ray nằm ở độ cao trên 4000m
- Có ga tàu cao nhất thế giới: ga Tanggula cao 5068m
- Có đường hầm cao nhất thế giới chạy qua vùng băng tuyết: ngầm Phong Hoả Sơn (Mt. Fenghuo Tunnel), dài 1338m trên cao độ 4905m
- Có đường hầm dài nhất thế giới chạy trên cao nguyên: ngầm Côn Lôn Sơn (Mt. Kunlun Tunnel) dài 1686m
- Là đường sắt dài nhất và chạy nhanh nhất trên vùng đất có băng vĩnh cửu: 550km trên tổng số 1956km chiều dài của đường sắt Thanh-Tạng chạy qua vùng đất có băng vĩnh cửu (Permafrost)

Cũng phải kể đến những kỳ tích công nghệ khác trong quá trình xây dựng quãng đường sắt này như việc xử lý và bảo quản đường ray chạy qua những vùng băng tuyết, kể cả nước dùng trên tàu và nước xả toilet cũng được làm ấm để chống đóng băng! Vỏ tàu được thiết kế để thích nghi với thay đổi nhiệt độ giữa các miền, khoang tàu đều có trang bị hệ thống điều tiết không khí nhằm giữ không khí ở áp suất thường (thay vì mức loãng 68-70% ở những vùng cao trong Tây Tạng) và cả các máy thở oxi trong trường hợp cần thiết. Được biết còn có các nhà máy cung cấp oxi xây trên tuyến để cung cấp cho tàu.

Đối với Tây Tạng, tuyến đường sắt này mang nhiều ý nghĩa tích cực và tiêu cực: một mặt khai thông con đường huyết mạch nối các vùng, tiết kiệm sức người sức của và đem lại nhiều nguồn lợi kinh tế nhất là du lịch; mặt khác cũng là mối đe doạ tiềm tàng cho môi trường sinh thái độc đáo của Tây Tạng cũng như trực tiếp gây sức ép lên nền văn hoá lâu đời của mảnh đất cao nguyên. Còn đối với khách du lịch nói chung, và đặc biệt khách Trung Quốc nói riêng thì chỉ có lợi mà chưa thấy hại gì!

2. Hành trình Lhasa – Xining:

Sáng ngày thứ 9, chúng tôi trở dậy và gói ghém toàn bộ đồ đạc để rời khỏi khách sạn Himalaya. Trên đường ra ga, tôi còn ngoái lại vẫy tay chào Potala ^^ Xe cứ thế chạy, vượt qua dãy phố thấp nhỏ của người Tạng, vượt qua những khu nhà mới xây lát kính hay những cửa hiệu lớn bán ôtô và máy kéo hiện đại của người Hán, vượt qua những bốt gác với lính canh quần áo phẳng phiu bên đường, bỏ lại sau lưng thành phố cao nguyên đang tỉnh cơn say ngủ. Tạm biệt Lhasa, tạm biệt vùng U, sẽ có ngày tôi trở lại chốn này để kiếm chứng một điều rằng dù thời gian dù có xoay vần ra sao thì cái hồn xưa cũ của đất Phật và tình cảm của người khách phương xa đã một lần được đặt chân đến đây sẽ không hề phai nhạt ♥

Chỉ gần 15′ chạy xe, chúng tôi đã đến được ga Lhasa, chuyến tàu của chúng tôi số hiệu T28: Lhasa – Beijing West khởi hành lúc 9.20 sáng. Tuy còn sớm nhưng phía ngoài ga đã là hàng dài hành khách xếp hàng một đi vào khu vực đăng kiểm hải quan. Ấn tượng đầu tiên là ga Lhasa phía ngoài rất sạch, bãi đậu xe khá lớn quay lưng vào khuôn viên của toà nhà ngân hàng ICBC:

Nói lời cảm ơn và tạm biệt hướng dẫn viên du lịch cùng lái xe, chúng tôi lần lượt theo hàng đi vào khu đăng kiểm để an ninh nhà ga quét hành lý. Chú ý: với những khách du lịch Tây Tạng, khi ra khỏi Lhasa sẽ không còn bị hỏi giấy thông hành (Tibet Travel Permit) nữa. Những hành khách mang theo nhiều đồ như thuốc men, bình lọ mua trong Tây Tạng đều phải mở ra để kiểm tra. Nước và dao kéo cỡ nhỏ đều được mang lên tàu ^^

Qua khu vực kiểm tra an ninh là quãng đường đi bộ ngắn trước khi vào chỗ soát vé. Trời Lhasa hôm nay nhiều sương, đã hơn 8.30 mà mặt trời vẫn chưa ló dạng:

Sau cửa soát vé, chúng tôi vào phòng đợi phía trên lầu. Bên trong ga Lhasa cực kỳ sạch sẽ, phòng chờ thoáng rộng, biển chỉ đường và thông tin rất rõ ràng, tuy rằng loa thông báo chỉ có 2 tiếng Trung và Tạng:

Tất cả các hành khách đều phải điền vào giấy kiểm tra sức khoẻ, tự chứng nhận rằng mình đủ điều kiện sức khoẻ để đi những vùng có độ cao trên 3000m; sau khi lên tàu sẽ có nhân viên soát vé lần nữa và thu giấy. Giấy này có vẻ thừa cho du khách khi rời Lhasa vì đến lúc này thì ai cũng đã trải nghiệm vài ngày ở những cao độ còn hơn 3000m Giấy sức khoẻ được in theo 3 thứ tiếng Anh – Tạng – Trung:

Gần đến giờ tàu chạy, chúng tôi theo hàng ra sân ga, hoàn toàn không có cảnh chen lấn xô đẩy, mọi người đều trật tự qua cửa, dường như ai cũng háo hức cho 1 ngày sắp tới được di chuyển trên tuyến đường sắt huyền thoại ^^ Vài hình ảnh sân ga 4 làn rất rộng và sạch của Lhasa:

Ở các khu vực này đều cho phép chụp ảnh, xếp hành lý vào khoang nằm mềm xong, tôi trở ra chụp thêm vài kiểu trước khi tàu lăn bánh:

Ấn tượng bên trong là toa tàu rất mới và sạch sẽ, hành lang không rộng nhưng đủ để đi lại thoải mái và kéo hành lý, mỗi đầu toa đều là khu lấy nước nóng, nhà vệ sinh, bồn rửa, và hệ thống máy báo độ cao/nhiệt độ ngoài trời/ga sắp tới/tốc độ tàu. So với các tàu chạy ở các vùng khác của Trung Quốc thì tàu Thanh-Tạng chất lượng tốt hơn nhiều (tham khảo tuyến tàu Thành Đô – Phàn Chi Hoà đã có dịp đề cập trong lần Ký sự Tứ Xuyên – Vân Nam)

Bất tiện duy nhất là máy lấy nước nóng tiếp giáp với cửa phòng vệ sinh (>_<)

Khu vệ sinh và bồn rửa rộng và sạch (lúc rời ga Lhasa), còn trên hành trình phải trông vào may rủi nếu các bạn đồng hành chịu khó giữ sạch sẽ thì cả khoang được nhờ … Cũng may là ở các trạm dừng đều có nhân viên tàu dọn dẹp qua một vòng:

Và đây là chi tiết bên trong mỗi khoang nằm mềm: mỗi giường sẽ có chăn đệm, gối đầu và gối chân. Phía đầu giường là móc treo áo, đèn đọc sách, khe cắm để thở oxi (phải hỏi nhân viên tàu để xin ống dẫn nếu cần), và bảng điều khiển đèn:

Chân giường là màn hình tivi cỡ 10′, có thể bật được nhưng không có tín hiệu gì!

Mỗi hành khách sẽ có 1 đôi dép giấy để đi lại trên tàu. Giữa khoang cạnh cửa sổ là bàn chung với ấm đựng nước nóng và lọ hoa Phía dưới bàn là chấu cắm điện để sạc đồ. Ngoài ra mỗi khoang sẽ có 2 tờ tạp chí China’s Tibet song ngữ Anh-Trung tặng hành khách làm quà mang về:

Sau khi tàu đã chạy, nhân viên tàu sẽ đi thu vé của hành khách và phát cho mỗi người 1 thẻ nhựa. Thẻ này sẽ được đổi lại thành vé ở ga cuối, và vé này cũng sẽ bị thu lại khi ra khỏi ga cuối:

Đi dọc lên phía đầu tàu, du khách sẽ đến được toa ăn, vị trí ngồi ở đây rất tốt, 2 bên là 5 khung cửa sổ lớn cho hành khách ngắm cảnh bên ngoài, đi hết toa ăn sẽ là các toa ngồi. Đồ ăn trên tàu tốt hơn chúng tôi tưởng, tuy nhiên thực đơn không đa dạng và thường phải ngồi sớm trước khi chật ních hành khách, chưa kể đến khi gần vào các ga cuối sẽ hết món để gọi

… Tàu chuyển bánh đưa chúng tôi rời Lhasa, bóng dáng đô thị cũng dần lùi xa:

Chúng tôi chạy qua những cảnh đẹp bình dị vùng đất cao nguyên, xa xa là đàn dê gặm cỏ trên thảo nguyên ướt sương hay đàn bò Yak lông đen mượt tha thẩn uống nước buổi sáng:

Khi tàu vượt qua những chiếc cầu là lúc chúng tôi tranh thủ chụp liên tục cảnh vật thảo nguyên từ trên cao, thu vào ống kính những màu xanh trảng cỏ với núi tuyết trắng làm nền xa xa. Theo lịch trình tàu chạy, chúng tôi lúc này đang vượt qua đoạn giữa ga Damxung (gần thánh hồ Nam-tso) và ga Nakchu:

Chúng tôi ăn trưa bằng mỳ gói và hoa quả trên tàu khi vừa qua Nakchu, quãng đường đi được lúc này là hơn 300km:

Tàu giữ nguyên tốc độ lao nhanh đến ga tiếp theo – trạm Tanggula nổi tiếng – cao 5068m, cũng là ga tàu cao nhất trên thế giới. Đã làm quen với không khí loãng trong Tây Tạng cả tuần qua, chúng tôi dường như không cảm thấy thay đổi gì đáng kể, tuy nhiên không kịp chụp lại ga tàu này Tanggula có thể xem là điểm giao cắt giữa khu tự trị Tây Tạng và người anh em Thanh Hải, từ đoạn này trở về sau là địa phận tỉnh Thanh Hải (Qinghai).

Thanh Hải đón chúng tôi bằng cảnh vật hữu tình và tiết trời mưa nhẹ:

Đây đó chúng tôi bắt gặp những stupa trắng của người Tạng nằm đơn độc giữa cánh đồng:

Và những vùng đất lạnh (jokul) còn nguyên lớp băng mỏng chưa tan nhìn thấy khi chạy qua ga Buqiangge:

Thêm vài hình ảnh vùng Thanh Hải dưới cơn mưa:

Ga đến tiếp theo của tàu là Tong Tian He ở độ cao 4598m, đồng hồ lúc này đã chỉ sang 4h chiều. Tên ga tàu gắn với tên dòng sông chảy qua khu vực này mà chắc không bạn đọc nào còn xa lạ: sông Thông Thiên Hà trong truyện Tây Du Ký (Ngô Thừa Ân) ^^ Là nơi xưa kia thầy trò Đường Tam Tạng lúc đi thỉnh kinh về, vì không giữ lời hứa hỏi khi nào đắc đạo cho con giải lớn mà bị nó dìm xuống sông, theo đó cũng ứng với kiếp nạn thứ 81. Chẳng biết nơi đây còn giữ lại tảng đá có câu kinh vàng, tương truyền khi Đường Huyền Trang phơi sách cho khô, lúc thu dọn không cẩn thận đã làm rách trang Kinh Đại thừa, câu kinh theo đó mà tạc luôn vào đá

Trên bản đồ đường sắt Thanh-Tạng, sau ga Thông Thiên Hà là ga Đà Đà Hà (Tou Tou He). Có lẽ cái tên này bạn đọc không thấy quen thuộc, nhưng với những ai sống trên cao nguyên Thanh-Tạng thì ‘Tou Tou’ không gì khác chính là thượng nguồn của dòng Trường Giang (Chang Jiang) dài hơn 6300km bắt đầu từ dãy núi Tanggula thuộc cao nguyên Thanh-Tạng chảy xuôi về trung thổ, khi đến Vân Nam thì uốn mình ngoạn mục đổi hướng dòng chảy ngược lên phía Bắc để đi qua Tứ Xuyên – nơi mà người ta đặt cho nó cái tên mỹ miều là Kim Sa Giang (Jinsha River), và cuối cùng chảy qua địa phận tỉnh Giang Tô – được biết đến bằng tên quen thuộc Dương Tử Giang (Yangtze River) – trước khi đổ ra ra biển

Vượt qua ga Tou Tou He, cảnh vật Thanh Hải bên đường hiện ra rất kỳ thú khác với Tây Tạng, những dãy núi xanh không bị băng tuyết phủ đầy, thay vì đó lại rải khắp mặt đường:

Ga tàu tiếp theo chúng tôi đến là ga Chunmae River, ấn tượng để lại chỉ là lòng sông rộng và trũng, tiếp giáp là những vùng đất được quy hoạch để chóng xói mòn:

Liền kề ga Chunmae River là ga tàu Mt. Yuzhu, tên được đặt theo đỉnh Yuzhu cao 6178m trong dãy Côn Lôn. Khu vực này phong cảnh cực kỳ sống động ^^ mưa đã tạnh, ánh nắng chiều trải khắp cánh đồng tôn vinh vẻ đẹp của tự nhiên vùng Thanh Hải với thảo nguyên trải dài và các loài cừu ngựa nhẩn nha ăn cỏ

Chúng tôi vào toa ăn để có cái nhìn toàn cảnh hơn, từ đây lại được dịp ngắm kỹ núi đồi dưới nền trời xanh và cả những dấu ấn nhân tạo vô tình lọt vào khung hình:

Trong khung cảnh như thế, chúng tôi ăn tối tại toa ăn luôn, đồ ăn thì thật ra chẳng có gì nhưng vì tinh thần hưng phấn nên cứ gật gù khen ngon xong xuôi móc túi trả 30RMB/người cũng thấy vừa tầm. Bạn đọc nếu có dịp di chuyển trên tuyến đường sắt Thanh-Tạng cũng nên thử 1 bữa như thế xem sao, cầm đũa gắp đồ ăn khi tàu đang rung lắc chạy sầm sập giữa 2 bên là núi đồi và thảo nguyên trong chạng vạng nắng chiều cũng có thể xem là một kỷ niệm khó quên ^^

Chúng tôi ăn xong đã gần 7h tối, tàu vẫn mải miết theo đuổi lộ trình muôn đời như một, nhắm đến ga lớn Golmud, đứng ở hành lang tôi còn tranh thủ chụp lại hình ảnh bên đường trước khi mặt trời lặn:

Có lẽ run rủi hay là sự ưu ái của tự nhiên đã hào phóng với người khách lạ, ngay trước khi mặt trời đi ngủ, đồng hồ lúc này chỉ 7.52 tối, trước mắt chúng tôi hiện ra 1 quần thể núi tuyết hư ảo. Không dám chậm trễ, chúng tôi nâng máy lên chụp, lòng vừa bồi hồi vì cảnh đẹp lại vừa pha lẫn chút hồ nghi mà sau này tôi mới có dịp kiểm chứng …

Khi đã kết thúc chuyến đi, về đến nhà và so sánh giữa thời gian chụp ảnh, lịch chạy tàu, tương quan các ga tàu, và chi tiết các trạm chính trên tuyến Thanh-Tạng, tôi mới khẳng định dãy núi phía Tây nhìn thấy từ cửa sổ tàu tối hôm đó chính là dãy Khả Khả Tây Lý (Kekexili) huyền thoại

Cái tên ‘Kekexili’ chắc không còn xa lạ gì với độc giả Việt Nam kể từ bộ phim Kekexili: Mountain Patrol của đạo diễn Lục Xuyên ra đời năm 2004 dựa trên câu chuyện có thật về mảnh đất ít dấu chân người – dãy Khả Tây Lý – từ bao đời nay đã trở thành ngôi nhà chung cho hệ động vật phong phú và quý hiếm, xây dựng những hình ảnh hút hồn về sự hùng tráng nguyên sơ của Tây Tạng và đặc biệt là cuộc chiến đấu âm thầm khốc liệt đôi khi đánh đổi cả tính mạng của những kiểm lâm chống lại bọn săn trộm linh dương (Tibetan antelopes) …

… Không kịp cho chúng tôi ngâm ngợi, dãy Khả Tây Lý lùi lại phía sau, bóng tối trùm lên vùng thảo nguyên, con tàu lúc này có lẽ là thực thể to lớn và ồn ã nhất còn vận động giữa lòng Thanh Hải, tôi trở vào khoang và giết thời gian với hạt hướng dương …

2 bên tàu đều đã rất tối, ánh sáng từ cửa sổ không đủ để nhìn rõ cảnh vật bên ngoài, hành khách phần lớn đều yên vị trong khoang … Tàu cứ chạy đều đặn như thế, cho đến khi vào ga Golmud chính xác lúc 11.50 khuya, quãng đường đi được lúc này là 1142km kể từ Lhasa. Golmud cũng là ga tàu dừng lâu nhất trên toàn tuyến hành trình (không kể ga đầu Lhasa và ga cuối Xining), tôi ra khỏi toa đi lòng vòng vài phút trên sân ga, ga Golmud khá lớn, lác đác vài người bán đồ ăn khuya ngay trên sân ga; phần lớn hành khách nam cũng ra ngoài hút thuốc, trời tối như mực và khá lạnh. Một vài hành khách chủ yếu là người Hán lên tàu, cả toa ồn lên một chốc rồi lại lắng xuống. Trở vào, tôi tranh thủ đọc lại cuốn The Potala mua được trong cung Potala để dỗ mắt đi ngủ …

Giữa đêm tàu rời bến Golmud, cuộn chăn tắt đèn chúng tôi say sưa ngủ, cửa khoang đã kéo lại khiến bên trong khoang tĩnh mịch hơn nhiều. Ánh sáng cột đèn chỉ loang loáng phút chốc rồi tắt hẳn, chúng tôi lao nhanh về ga cuối Xining trong đêm, hẹn sáng mai đón mặt trời trên thảo nguyên Thanh Hải và gặp lại bạn đọc trong nhật trình ngày thứ 10 ^^

Tây Tạng Du Ký – Ngày 8: Nam-tso Lake

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 01-08-2010

8

1. Thánh hồ Nam-tso:

Đêm qua ngày lại, gió lành nhường chỗ cho ánh ban mai tràn ngập phố phường Lhasa lúc tinh mơ 7h sáng. Chúng tôi trở dậy ăn sáng và sửa soạn cho kế hoạch trọn ngày đi thăm thánh hồ Nam-tso Nằm ở độ cao 4718m (cao hơn Lhasa khoảng 1100m), Nam-tso (Namucuo) được coi là 1 trong 4 hồ thiêng của Tây Tạng cùng với 3 hồ kia là Lhamo La-tso, Manasarovar, và Yamdrok-tso (đã có dịp ghé thăm trên đường đi vùng Tsang); cũng là điểm đến bắt buộc của mọi chuyến viếng thăm hay hành hương về Tây Tạng.

Đi dọc theo tuyến đường sắt Thanh-Tạng, xe chúng tôi vượt qua hơn 200 cây số vào địa phận tỉnh Damxung (Damshong County), trên đường đi có thể nhìn thấy dãy Nyenchen Tanglha (Tangula Range) cao vời vợi chạy dài bên đường:

Điểm dừng chân đầu tiên tất nhiên là trạm mua vé vào hồ Nam-tso, giá vé không còn là 80RMB như Lonely Planet – Tibet 2008 đã dẫn mà tăng lên 120RMB! Các đoàn xe trước trạm chen chúc xếp hàng để lần lượt nhân viên phòng vé lên xe kiểm tra, đếm số người và xé vé thì xe mới được đi tiếp. Từ trạm soát vé phải mất thêm 45′ chạy xe để vượt qua đỉnh Largenla và đến bờ hồ:

Điểm dừng chân thứ 2 trước khi vào Nam-tso Lake là đỉnh Largenla cao 5190m ^^ Cũng giống như đèo Kampala (5000m) là nơi đầu tiên ngắm được hồ Yamdrok-tso, đèo Largenla cũng là vị trí cho du khách những cái nhìn cái đầu tiên về toàn cảnh hồ Nam-tso rộng lớn:

Ở độ cao này, du khách một lần nữa gặp lại cái lạnh tê người và cảm thấy chóng mặt khó thở, trên đèo gió thổi rất mạnh. Khi chúng tôi đến đỉnh đèo thì mây đang cuồn cuộn trên đầu báo hiệu 1 cơn mưa đang sầm sập đến. Tranh thủ chụp vài tấm ảnh rồi xe chúng tôi lao nhanh xuống dốc, hướng về phía bờ hồ Nam-tso. Chỉ chưa đầy 5 phút sau màn mưa đã kéo đến, mà rất bất ngờ đó là 1 cơn mưa đá lần đầu tiên chúng tôi thấy mưa đá ở Tây Tạng, nhưng hướng dẫn viên du lịch nói thời tiết quanh hồ Nam-tso diễn biến khá dị thường nên chuyện này thường gặp. Xe chạy trong những hạt mưa đá nhỏ cỡ hạt lạc như thế khoảng 10′ thì cơn tan, mưa đã đến và đi cũng nhanh và khoáng đạt như tính khí con người vùng đất này vậy

Con đường vào hồ lúc này đã bằng phẳng hơn, rộng lớn dài gần chục cây số, xe chúng tôi chậm rãi lướt qua những trảng cỏ bên đường. Cũng hoành tráng như Yamdrok-tso, nhưng ngoài màu lam của trời, màu trắng của mây, màu vàng của nắng, chúng tôi còn thấy thêm màu xanh non trải dài, đây đó là những túp lều của người dân du mục:

Nghe kể cuộc sống của người du mục rất kỳ thú ^^ sau khi lấy vợ, người đàn ông thường không được xa khỏi lều và trong vòng 1 năm sẽ phải có con trai, nếu không người vợ có quyền cưới người mới! Vì vậy ai đó chớ dại mà vào nhầm lều, rất có thể bị giữ lại luôn cũng nên Không khí quanh hồ Nam-tso miên man tươi mát vô cùng, cả đoàn dường như quên rằng mình đang ở độ cao trung bình hơn 4500m, mọi mệt nhọc dường như tan biến, ai cũng ồ lên phấn chấn khi ngắm nhìn xa xa những “hạt vừng” rắc trên thảo nguyên xanh:

Khi xe chạy đến gần lộ ra những “hạt vừng” đó là những chú dê con được chăn thả đang ăn cỏ và uống nước hồ. Nếu như vùng Bayi, Nyingchi (thuộc địa phận Kham cũ của Tây Tạng), du khách gặp nhiều heo rừng thả rông thì ở vùng hồ Nam-tso, dê, cừu và bò là những gia súc chính thường gặp ^^

Chẳng mấy chốc xe đã dừng ở điểm tham quan hồ Nam-tso, lúc này trời đã chính Ngọ, chúng tôi chưa vội ra hồ ngay, một phần vì đói, một phần vì bị thu hút bởi những ngôi nhà người Tạng nhỏ nằm gần bãi đậu xe. Không ai bảo ai, chúng tôi lần lượt chui vào lều, đón chúng tôi ở cửa là 1 bé trai người Tạng mặt mũi tinh anh rám nắng:

Bên trong lều chúng tôi gặp mẹ của cậu đang đan khăn len, 1 phụ nữ đứng tuổi khác (chắc là bà cậu bé) và chị cậu giúp chúng tôi thưởng thức 1 bữa ăn trưa nhẹ mang phong cách Hán-Tạng:

Trái với thời tiết nắng gió vừa đổ mồ hôi vừa lạnh tê tay bên ngoài, bên trong lều là sự ấm cúng dễ chịu có thể nói là tuyệt vời Toàn bộ căn lều rộng rãi thoáng mát, vật dụng không nhiều, ngoài bàn ghế cho khách ngồi là 1 bếp nấu lớn giữa lều và góc trong là giường ngủ cho các thành viên gia đình. Không máy sưởi, không quạt trần, không tivi, không bếp điện, đồ điện duy nhất trong nhà có lẽ là 2 chiếc đèn trần. Trên tường nhà là ảnh chủ tịch Mao Trạch Đông và ảnh chụp Đạt Lai Lạt Ma mà tôi đoán là đời thứ 11:

Vật liệu để đốt lò chính là phân khô của bò Yak – động vật quen thuộc và quan trọng bậc nhất của vùng cao nguyên này. Tuy là đốt phân bò nhưng hoàn toàn không có mùi khó chịu trong lều:

Trên bếp là nồi nước sôi và tất nhiên là để hầm xương ống của bò có kích thước ngoại cỡ

Trước khi vào bữa ăn nhẹ, chúng tôi được mời đặc sản Tây Tạng mà tôi mong đợi đến giờ mới được thưởng thức – trà sữa bò Yak (Yak-Butter Tea) để thoả nguyện uống trà sữa của người Tạng trong lều của người Tạng ^^

Chén trà nóng hổi nhưng không làm mất đi vị ngọt bùi, đặc biệt là mùi ngai ngái của sữa bò. Tuy háo hức nhưng quả thực tôi không sao uống hết được quá 3 chén, thế mà nghe kể người Tạng trung bình mỗi ngày uống đến 40 chén … chỉ biết lè lưỡi lắc đầu Ngoài món trà sữa, chúng tôi còn thử thêm món sữa chua Tây Tạng làm từ sữa bò Yak, vị sữa chua thanh nhẹ nhưng tôi cũng khó khăn lắm mới ăn hết cả cốc lớn:

Và bữa ăn nhẹ rất ‘đồng bằng’ của tôi – mỳ nóng với thịt bò Yak khô:

Đã nạp đủ năng lượng, sau khi chào gia đình người Tạng, chúng tôi rời lều và bắt đầu đi bộ ra hồ Nam-tso. Ấn tượng đầu tiên để nói về hồ thiêng Nam-tso có lẽ là rộng ngút ngàn, từ bên đường cái ra đến bờ hồ là quãng đường cháy nắng dài đến cả cây số, bên phải là cụm núi đá lớn sừng sững:

Được xưng tụng là biển hồ nước mặn lớn thứ nhì trên cao nguyên Thanh-Tạng, chỉ đứng sau hồ Thanh Hải (Qinghai Lake) thuộc địa phận Tây Ninh (Xining), tỉnh Thanh Hải (sẽ có dịp giới thiệu với bạn đọc trong bài viết sắp tới); thánh hồ Nam-tso dài gần 70km và rộng gần 30km, diện tích mặt nước đo được 1940km2, những điểm sâu nhất lên đến 35m. Lời quảng cáo Nam-tso là hồ nước mặn cao nhất thế giới là chưa đúng bởi có khá nhiều hồ nước mặn nhỏ hơn trong khu vực dãy Himalaya hay Andes còn cao hơn Nam-tso, phải nói chính xác hơn là: Nam-tso là hồ nước mặn cao nhất thế giới mà có diện tích bề mặt trên 500km2

Hồ Nam-tso còn là gì nữa? là nước, là mây, là núi, là nắng, hay là gió? với tôi, là tất cả, là đây:
Kìa non non, nước nước, mây mây
Đệ nhất hồ hỏi rằng đây có phải?

Dọc theo đường đi có thể nhìn thấy dãy núi đá khổng lồ ven hồ, vòng kora dưới chân núi là các chiếc kinh luân màu đồng:

Vài chú bò đang nằm buồn sưởi nắng trên đường ra bờ hồ:

Dưới cái nắng thiêu đốt chúng tôi chầm chậm đến gần mặt hồ, ai cũng đổ mồ hôi trong lớp áo dày nhưng không dám nới lỏng bởi gió hồ thổi rất mạnh, chúng tôi gặp thêm vài đoàn khác cũng đang dạo chơi chụp ảnh quanh hồ. Nếu trên đường xe chạy, chúng tôi đã gặp những đám “hạt vừng” vàng rắc trên đồng cỏ xanh thì ở đây ngay sát hồ Nam-tso, mỗi khách du lịch cũng nhỏ bé giống như những hạt vừng đen rắc trên bãi cát vàng vậy

Không đẹp êm ả dịu dàng như những hải tử tôi từng thấy qua trong khu thắng cảnh Cửu Trại Câu, hồ Nam-tso mang vẻ đẹp ban sơ rộng lớn hùng vĩ đậm chất cao nguyên, xa xa là những đỉnh núi trong dãy Nyenchen Tanglha xám màu thời gian nằm gối lên nhau, vạch những đường thẳng thiên tạo ngăn đôi lớp mây nước trong xanh trên mặt hồ thiêng:

Nguồn cung cấp nước cho hồ chính là các suối ngầm và nước băng tan của dãy Nyenchen Tanglha nên nước hồ cực kỳ trong sạch. Được biết trên hồ Nam-tso có 5 đảo nhỏ, tượng trưng cho Ngũ Phương Phật, nhưng rất khó để định vị các đảo này bằng mắt thường. Trên mặt nước chỉ thấy sóng gợn lăn tăn và vài chú vịt trời đang bơi lội:

Truyền thuyết kể dãy Nyenchen Tanglha tượng trưng cho người con trai, còn hồ thiêng Nam-tso tượng trưng cho người con gái trong câu chuyện tình đẹp như cổ tích luôn gặp ở những điểm du lịch thế này trong Tây Tạng. Cuốn hút bởi kỳ quan mây nước Nam-tso, khách du lịch say mê chụp ảnh bất chấp cái nắng kinh người lúc giữa trưa:

Dịch vụ cho thuê ngựa và bò Yak để chụp ảnh của người Tạng nở rộ bên hồ, đây có lẽ là những sinh vật hiếm hoi đã đặt chân xuống hồ Nam-tso:

Ngoạn cảnh mặt hồ Nam-tso một lúc, tôi quay trở lên bãi đậu xe nhưng không theo đường cũ mà đi bộ hướng về dãy núi đá lớn bên hồ:

Từ phía núi nhìn ra hồ chỉ thấy những bóng mây khổng lồ hình thù kỳ dị đang che phủ mặt hồ:

Dãy núi đá lớn quấn đầy cờ ngũ sắc của người Tạng in những câu kinh đang bay phần phật trong gió, đây đó là những nếp nhà nhỏ xây dựng ngay bên trong các hốc núi. Người Tạng từ nơi xa hành hương về Nam-tso đều đi hết vòng kora lớn bao quanh những hòn núi đá này:

Thấm mệt vì đi bộ nhiều dưới trời nắng oi ả, cộng thêm với nặng nề quần áo và đồ nghề trong điều kiện váng vất vì không khí loãng, từ phía núi đá tôi trở lại xe, trong đầu vẫn ấn tượng bởi màu xanh tổng hoà kỳ thú của thánh hồ Nam-tso:

Nghỉ ngơi trong chốc lát, xe đưa chúng tôi quay lại đường cũ và ra khỏi khu du lịch hồ Nam-tso. Trên đường đi ai cũng tấm tắc về không khí trong mát và vẻ đẹp rộng lớn của muôn dặm hồ xanh ^^ Chạy được hơn 1h đồng hồ, chúng tôi dừng nghỉ bên đường và lại có dịp ngắm kỹ những thành viên của cao nguyên Tây Tạng đang nhởn nhơ dưới chân núi tuyết:

Dường như thiên nhiên quanh đây được ưu đãi hơn nhờ sự trợ giúp của hồ Nam-tso đã góp phần điều tiết khí hậu chỉ thấy xa gần là những đàn bò trắng, bò đen, dê, cừu được chăn thả ngay ven đường quốc lộ. Và phải chăng xa xa kia chính là đỉnh Nyenchen Tanglha Peak cao 7162m – cao nhất trong toàn dãy Nyenchen Tanglha:

Trên đường về chúng tôi còn ghé vào khu suối nước nóng Yangpachen (Yangpachen Hot Springs) nổi tiếng, nằm giữa đoạn đường từ Nam-tso về Lhasa. Khu vực này rộng hơn 40km2 bao gồm nhà máy điện (cung cấp 45% điện cho Lhasa) và khu an dưỡng gồm các bể bơi nước nóng trong nhà và ngoài trời dành cho khách du lịch. Trừ bên trong khu an dưỡng, các khu vực bên ngoài đều cấm chụp ảnh vì liên quan đến các công trình quốc gia. Bên trong khu an dưỡng, du khách có thể đi thăm các bể nước nóng tự nhiên được quảng cáo là luộc chín trứng trong ít phút (có cả trứng cho bạn thử để xác nhận ), các khu bơi lội xông hơi khá rộng và nhiều khách.

Không mấy hứng thú với khu an dưỡng, chúng tôi đi dạo 1 vòng chóng vánh rồi quay ra. Điểm thú vị duy nhất của Yangpachen có lẽ là hình ảnh suối nước nóng bốc hơi nghi ngút trên nền trời là những núi tuyết lạnh cao sừng sững, phong cách y như Băng Hoả Đảo trong truyện chưởng Kim Dung tưởng tượng ra ngâm mình trong bể nước nóng ngoài trời và vô tình bắt gặp những bông hoa tuyết rơi lả tả giữa khung cảnh cao nguyên quả cũng thi vị lắm

Trời về chiều, nắng có phần bớt gắt gao, chúng tôi về đến Lhasa sau 5h. Bữa tối hôm nay chúng tôi quyết định đổi món, chuyển sang ăn ở 1 quán Quảng Đông thử xem hương vị nấu có ngon miệng không, và đây quả là 1 quyết định sáng suốt ^^

Ăn tối xong tôi lại dạo phố đêm Lhasa một lần nữa, nhưng không giống hôm qua chụp ảnh Potala, tối nay tôi chỉ đi quanh khu Bát Giác Nhai (Barkhor Square) để mua quà Lhasa mang về. Khu chợ Bakhor thường chỉ mở cửa đến 10h tối, đường đi đầy những trạm gác với lính canh và camera đặt trên các nóc nhà. Đêm cuối giữa lòng thủ đô, tôi chỉ kịp tranh thủ ghé thăm vài tiệm bán đồ ngay trước cửa Shangbala Hotel và Snowlands Hotel. Phần lớn các cửa hiệu này đều của người Hán, giá cả đắt đỏ nên du khách nên mặc cả nhiệt tình, giá thực đôi khi chỉ từ 10%-20% giá đề Về đến khách sạn sắp xếp đồ đạc, tôi thầm nói lời tạm biệt với Lhasa, đêm nay là đêm cuối chúng tôi còn ngụ tại vùng U, sáng mai cả đoàn sẽ đi sớm để bắt tàu ra vùng Thanh Hải, tiếp tục hành trình khám phá cao nguyên Thanh-Tạng.

2. Truyện kể dưới đèn:

Để thay lời kết, xin chia sẻ với bạn đọc một câu chuyện phiếm đàm giữa chúng tôi và hướng dẫn viên du lịch trên đường đi hồ Nam-tso sáng nay về 1 chủ đề khá “nhạy cảm” mà không phải lúc nào cũng có điều kiện tìm hiểu được; đó là việc mai táng của người Tạng.

Chắc bạn đọc đều đã biết ít nhiều về hình thức Điểu táng hay còn gọi là Thiên táng (Sky Burial) của người Tạng, khi xác đã qua khâu xử lý sẽ được mang lên các địa điểm riêng trên núi hay phía sau các tu viện (sky burial site) để các loài chim chóc tìm đến ăn. Ngoài hình thức này ra còn có 4 hình thức khác nữa ít gặp hơn mà chúng tôi được nghe kể:
- Hình thức Mộc táng: mang vào rừng và bỏ trên các cây lớn cho chim chóc và thú rừng
- Hình thức Thuỷ táng: thả trôi bằng các bè nhỏ trên sông cho cá và động vật thuỷ sinh
- Hình thức Hoả táng: đem thiêu trên lửa. Tuy nhiên hình thức này hiếm gặp và chỉ dành cho những người giàu có hay có địa vị tôn quý trong xã hội Tây Tạng (như các Lạt Ma) bởi vùng cao nguyên này rất hiếm củi khô, nguồn đốt chính lấy từ phân bò Yak, như vậy cần tích trữ lâu dài hoặc dùng nhiều tiền mua nguyên liệu cho việc hoả táng.
- Hình thức Địa táng: đem chôn xuống đất. Hình thức này chắc là phổ biến nhất trên thế giới nhưng với người Tạng lại là hình thức ít được dùng nhất!

Sở dĩ người Tạng có hình thức mai táng người đã khuất theo cách riêng của họ bởi họ tin vào tính Vô thường (Impermanence) theo quan niệm Phật giáo, hiểu đơn giản là vạn vật trong vũ trụ đều không trường tồn mãi mãi nguyên trạng, sẽ luôn có sinh, có diệt, và có tái sinh. Sau khi phần hồn đã lìa khỏi xác, những nhà sư sẽ tụng các bài chú đặc biệt cho việc siêu sinh, phần xác phàm kia sẽ trở nên trống rỗng, cách tốt nhất là thuận theo Tự Nhiên; có thể các loài chim thú sẽ có thêm nguồn sống hoặc thời gian sẽ phân huỷ dần những gì còn lại! Tuy nói dùng Địa táng sẽ làm tốt cho đất nhưng toàn cao nguyên Thanh-Tạng đều là đất đá sỏi rất cứng và khó đào sâu được, nên hình thức Điểu táng vẫn là tập quán lâu đời của người Tạng. Họ còn mô tả sơ lược hình thức này trong sách vở cũ và những bức thangka cổ hay trên tranh tường mural. Người Tạng không muốn, không cho, và không khuyến khích người ngoài tham dự vào những nghi lễ như vậy. Những thông tin trên đây là hiểu biết hạn hẹp của người viết và có qua trao đổi với hướng dẫn viên du lịch người Tạng, chỉ mang tính tham khảo, mọi đúng sai hay dở xin được tránh bàn.

Tây Tạng Du Ký – Ngày 7: Potala by Night

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 29-07-2010

4

Rời khách sạn Himalaya, hướng dẫn viên du lịch cùng đi với tôi đến quảng trường Potala, các thành viên khác trong đoàn tối nay không tham gia vì kế hoạch chụp ảnh đêm Lhasa là tôi tự đi chứ không có trong chương trình du lịch. Nai nịt gọn gàng và quấn khăn quàng “Việt Nam”, đêm nay tôi quyết tâm phải ngắm Lhasa khi mặt trời lặn một cách rõ ràng hơn, mà tiêu điểm sẽ là cung điện Potala ^^ Xe taxi đã dừng, trả xong 10RMB tôi cắm đầu cắm cổ chạy lên bậc thang của đồi, trong lòng chỉ lo 2 điều: “sao trời lâu tối thế?” và “không còn chỗ nào đứng mà chụp Lúc này đồng hồ đã chỉ 9h tối, khó mà tin được trời Lhasa vẫn còn sáng tỏ mặt người! Và trong ánh hoàng hôn chạng vạng, quần thể Lạp Tát Cung uy nghi hiện ra:

Khu vực quảng trường Potala (Potala Square) nằm giữa thủ đô Lhasa, con đường Beijing East Road chạy ngang qua quảng trường, chính giữa là cung điện Potala, phía trước là cột cờ với các khu vườn hoa nhỏ và màn hình ti vi cực lớn. Góc trái quảng trường là 3 stupa trắng và 1 ngọn đồi thấp – điểm dừng chân tuyệt vời nhất cho việc chụp ảnh cung Potala từ phía chánh Đông, cũng là vị trí gần như duy nhất để có tầm nhìn ngang với cung Potala thay vì đứng dưới đất chụp hướng lên.

Đúng là mặt trời Tây Tạng chưa bao giờ lặn! trong bóng “tối” cao nguyên, Potala vẫn sừng sững trên đỉnh ngọn Đồi Đỏ (Red Hill) với lưỡng tông Hồng-Bạch vươn cao ngạo nghễ. Hình ảnh chóp của 3 stupa nhìn từ đồi; 13 vòng tròn trên đỉnh stupa cũng trùng với 13 tầng cung Potala tượng trưng cho những nấc thang phấn đấu rèn luyện của quá trình tu học để hướng lên cõi Niết bàn:

Trên khu vực chụp ảnh lúc này đã đầy khách du lịch, ai cũng mang đủ đồ nghề “súng ống” và tripod chiếm dụng hết các vị trí đẹp. Riêng tôi không có tripod, buộc phải di chuyển và chụp càng nhiều càng tốt để còn về lựa được tấm nào hay tấm đó, trong lòng thì nôn nao chờ mặt trời khuất hẳn Sau 30′ trời đã tối dần và đèn đã được bật lên trên toàn quảng trường:

Khi bóng đêm về giục ánh đèn lên, Potala lại càng thêm sáng rõ. Trong đầu tôi mường tượng ra hành trình thăm thú Potala hôm trước, từ lúc leo mấy trăm bậc thang lên đến cổng Bạch Cung, đi thăm Bạch Cung rồi thông sang Hồng Cung, rồi theo cửa sau của Hồng Cung đi xuống và ra khỏi Potala … dường như tôi có quá ít thời gian để khám phá kỹ nơi này:

Nhìn vào Hồng Cung và vọng gác bên phải của Hồng Cung:

Người ta đã khéo léo bố trí đèn cao áp từ phía quảng trường với ánh sáng trắng công suất cực lớn chiếu thẳng vào cung, tôn lên 2 sắc màu trắng-đỏ tương phản nổi bật của Potala:

Bên dưới chân đồi trên quảng trường là những dòng xe xuôi ngược, khách bộ hành đang đi lại và chụp ảnh kỷ niệm, còn màn hình lớn đang phát những bài hát ca ngợi vẻ đẹp của Tây Tạng, chỉ tiếc người biểu diễn là người Hán và hát tiếng Phổ thông. Lhasa về đêm có lẽ sôi động nhất chính là ở khu vực này, còn nhìn bao quát ra xa thì phố phường khá im vắng:

Xuống khỏi ngọn đồi, tôi đi bộ dọc theo quảng trường và chụp kỹ từng góc của cung Potala lúc này đang lung linh dưới ánh đèn đêm:

Giữa quảng trường gió thổi lạnh run người nhưng nhìn lên cung Potala người ta không khỏi cảm thấy ấm áp và rung động bởi sự rực rỡ tráng lệ của nó:

Xin cùng bạn đọc một lần nữa ngắm nhìn những kiến trúc hoành tráng của trái tim Lhasa ^^ Trước hết là 2 ngôi Hồng Cung (Red Palace) và Bạch Cung (White Palace) song hành giữa trời đêm:

Cận cảnh Hồng Cung, biểu tượng quyền lực của cộng đồng chính-giáo Tây Tạng. Từng tầng lầu rực lên sắc đỏ với các trang trí hoạ tiết mang màu sắc Phật giáo trên nóc cung:

Vọng gác chánh Đông của cung và mái vàng nhô cao của lăng mộ Đạt Lai Lạt Ma thứ 5:

Chánh Tây và đường leo lên Bạch Cung :

Có thể nhìn thấy những ánh đèn le lói trong các gian phòng của Tăng ni ở vọng gác Tây cung:

Như thế là tôi đã thoả nguyện chụp ảnh đêm ở Lhasa, đặc biệt còn nhanh tay làm 1 kiểu dưới chân Potala với khăn Việt Nam quấn cổ Việc khoác cờ giữa quảng trường có thể gây nhiều chú ý không cần thiết nhất là với những nơi nhạy cảm như Lhasa nên tôi chọn giải pháp này cho an toàn. Đã chụp ảnh đêm ở nhiều nơi, nhưng chưa nơi đâu hồi hộp và gây ấn tượng mạnh với tôi như ở Lhasa ^^

Chụp Potala đêm không biết bao nhiêu cho thoả, nhưng lúc này đồng hồ đã chỉ sang gần 10h30 đêm, khách du lịch trên quảng trường đã vãn dần. Tôi theo hướng dẫn viên du lịch đi xuống đường ngầm ở góc quảng trường Potala, vừa đi vừa lấy tay che máy ảnh bởi ngay ở góc đường là trạm gác của công an Trung Quốc đang theo dõi mọi hoạt động trên quảng trường! Ra khỏi đường hầm, chúng tôi nhanh chóng chui vào taxi và chạy về khách sạn, mọi cửa hàng cửa hiệu dọc 2 bên phố đã đóng cửa hết. Lhasa lúc này chìm trong bóng đêm một cách tuyệt đối, gần như không một tiếng động nào phát ra trừ tiếng gió rít trên những sườn núi. Tạm biệt Potala, không phải lúc nào cũng có thể thoả thích ngắm nhìn kỳ quan Tây Tạng trong ánh đèn đêm như thế, và tôi đã có trọn vẹn cơ hội đó ^^ Đêm nay tôi sẽ ngủ rất ngon để chuẩn bị cho ngày mai lên đường đi thăm hồ thiêng Namtso Xin trích đôi câu thơ của hoà thượng Thích Chân Tính viết tặng Potala thay cho lời kết và hẹn gặp lại bạn đọc trong hành trình ngày 8:

    … Thế sự vô thường ngôi vương đổi
    Kỳ quan vẫn đứng trước phong ba
    Hồn thiêng dân tộc và đạo pháp
    Mãi còn hội tụ Potala