Phúc Kiến Tân Mão Ký – Thăm vùng Vĩnh Định (P1)

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 20-03-2011

7

Sáng mồng 6 trời trong nắng ấm, chúng tôi lười biếng chui ra khỏi chăn, đúng là Tết nhất chỉ thích dậy muộn; mất một lúc ai nấy mới nhớ ra mình đang ở trong thổ lâu Điền Loa Khanh chứ không phải giữa Hà Nội xuân Hôm nay chúng tôi sẽ rời vùng Nam Tĩnh (Nanjing) để khám phá Vĩnh Định (Yongding) trước khi về lại thủ phủ Hạ Môn (Xiamen), tỉnh Phúc Kiến – điểm trung chuyển trên đường đi Quảng Châu.

Nói lời tạm biệt với Điền Loa Khanh quả là không dễ, nhất là lúc cảnh sắc tươi vui của cụm thổ lầu xinh đẹp này đang từ từ thức giấc. Chúng tôi nấn ná ở đồi vọng cảnh để thoả sức chụp Điền Loa Khanh cho đến khi nắng sớm đã lên cao:

1. Vĩnh Định – Cụm thổ lâu Gaobei

Nổi tiếng nhất trong các thổ lầu cổ xưa vùng Vĩnh Định phải kể đến thổ lâu Thừa Khải (Chengqilou), hay còn có biệt danh là Vua Thổ Lâu (King Tulou). Thừa Khải lâu nằm trong cụm các thổ lầu Gaobei thuộc làng Gaotou huyện Vĩnh Định (Yongding), cũng được khởi công xây dựng vào giai đoạn triều vua Minh Tư Tông Sùng Trinh Đế (1627-1644), nhưng phải đến những năm 1709 thì lầu mới hoàn thành, một phần là do kiến trúc phức tạp và kiên cố hiếm có của thổ lâu này.

Nhìn bên ngoài thì Thừa Khải lâu cũng gần giống như các thổ lâu tròn khác:

Nhưng những gì tinh tuý nhất của Chengqilou nằm bên trong lớp tường sừng sững cao 22.9m! Thừa Khải lâu có tất cả 3 vòng:

Vòng ngoài cùng lớn nhất của lâu cao 4 tầng, có 72 phòng mỗi tầng. Vòng giữa của lâu cao 2 tầng, có 40 phòng mỗi tầng. Vòng trong cùng cao 1 tầng với 32 phòng. Chính giữa toàn thổ lâu là nhà thờ tổ cao 1 tầng:

Từ trên nhìn xuống, các vòng lâu mái xám xếp đều tăm tắp đối xứng nhau qua trục chính chạy xuyên từ cửa nhà thờ tổ ra cổng vào thổ lâu; kiến trúc khoa học và quy củ, chả thế mà người ta xưng tụng đây là 1 trong những thổ lâu Phúc Kiến đẹp bậc nhất Trung Hoa, là vua của mọi thổ lâu:

Hình ảnh cuộc sống của tộc người Khách ấm cúng và đầy sắc màu bên trong những cánh cung Thừa Khải lâu ngày mồng 6 Tết:

Phía sau Thừa Khải hiện ra khu đất rộng tràn ngập sắc Xuân rạng ngời, vài ngôi nhà nhỏ với vườn cải mơn mởn, bên bờ tường đất là những rặng bạch đào đang đua nhau khoe sắc:

Sao chẳng về đây có bạn hiền,
Có hương, có sắc, có thiên nhiên
Sống vào giản dị, ra tươi sáng
Tìm thấy cho lòng một cảnh tiên?
(Sao chẳng về đây – Thơ Nguyễn Bính)

Nhóm chúng tôi đang mải mê tác nghiệp phía sau thổ lầu Thừa Khải (ảnh do anh Ngọc Hùng cùng đoàn chụp bằng máy cơ ^^)

Thổ lâu “hàng xóm” của Thừa Khải gọn gàng và quy mô nhỏ nhắn hơn với giếng trời tròn vành vạnh:

Do mới xây nên nơi đây còn khá mới và không quá đông người ở. Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết cộng đồng dân cư sinh sống trong các thổ lâu đều cùng họ với nhau; mỗi gia đình đều sở hữu vài phòng ở mỗi lầu, phòng ở lầu dưới luôn thẳng góc ngay với lầu trên. Vì thế mỗi lần đi giữa các phòng khác tầng, mọi người đều đi qua cầu thang chung và sân chung; nhờ đó mà duy trì được sự bình đẳng không phân cấp trong cuộc sống của tộc người Khách vùng Phúc Kiến. Quy luật này có phần mai một theo thời gian, những người trẻ tuổi ngày nay cũng dần rời bỏ các “khu nhà tròn” để mưu sinh nơi khác, nhưng đây vẫn là điểm nhấn văn hoá đặc trưng riêng biệt của vùng.

Phía sau cụm thổ lâu này là đài vọng cảnh, đường lên vừa nóng lại vừa xa >_< giữa trưa nắng chói chang chúng tôi hì hục trèo lên với hy vọng nhìn bao quát cụm Gaobei một lần trước khi đi. Một vài hình ảnh nhìn từ trên xuống sau khi ta cao hơn đèo; xa xa khu Gaobei huyện Vĩnh Định có nhiều nét tương đồng với cụm thổ lâu Hekeng huyện Nam Tĩnh:

Chùm ảnh giới thiệu cụm thổ lầu Gaobei mà tiêu điểm là Thừa Khải Lâu đến đây là hết. Chúng tôi lại rục rịch ăn trưa và chạy sô sang điểm tiếp theo – cụm thổ lầu Hongkeng – cũng thuộc huyện Vĩnh Định. Hẹn gặp lại bạn đọc trong bài tiếp theo với những bức ảnh vuông tròn đầy sức sống và sức xuân tưởng như không bao giờ dứt

Phúc Kiến Tân Mão Ký – Thăm vùng Nam Tĩnh (P2)

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 28-02-2011

2

Sau bữa trưa với anh tài xế tốt bụng, chúng tôi tiếp tục đến thăm 2 khu làng Pushan và làng Changjiao đều nằm trong địa phận Nam Tĩnh. Hai nơi này nằm sát cạnh nhau và có đường liên thông nên du khách đến đây đều chọn cách đi bộ qua từng làng.

6. Nam Tĩnh – làng Pushan

Từ bãi đỗ xe đi vào làng Pushan, công trình kiến trúc đầu tiên mà chúng tôi gặp là thổ lâu Hegui, là thổ lâu cao nhất trong tất cả các thổ lâu ở Phúc Kiến, và đặc biệt còn được xây trên nền 1 đầm lầy cũ!

Ngay phía trước Hegui lầu là khóm bích đào đang nở hoa:

Thổ lâu Hegui có cấu trúc nền chữ nhật với 5 tầng lầu, cao 21.5m, xung quanh có 15 ngôi nhà nhỏ với chức năng bảo vệ thổ lâu chính.

Được biết trước kia bên trong thổ lâu còn có trường học. Ngày nay thì phần lớn người dân không còn sinh sống bên trong nữa mà biến nơi đây thành địa điểm cho du khách thăm quan và mua đồ lưu niệm.

Lầu thì vẫn đứng thế thôi
Hàng thì bán đứng bán ngồi chen nhau

Cách thổ lâu Hegui không xa là các “nhà tròn” quen thuộc của làng Pushan, phần lớn đều đang trong tình trạng cũ kỹ mục nát và hiếm người qua lại:

7. Nam Tĩnh – làng Changjiao:

Vượt qua con sông nhỏ, chúng tôi đặt chân vào làng Changjiao. Làng này trước kia có lẽ là làm nghề chài lưới, giờ thì vắng vẻ hơn nhiều, bên trong làng chúng tôi thấy đa phần là người lớn tuổi còn nam thanh nữ tú “đi vắng” cả, mới nhìn có thể liên tưởng đến làng Bạch Sa (Baisha) ở Lệ Giang, Vân Nam

Đẹp nhất làng Changjiao có lẽ là đoạn đường đá dọc bờ sông có nhiều cây đa xanh tốt, tán cây rộng và cành lá sum sê. Chúng tôi đếm được ít nhất 3 cây đa lớn như vậy khi đi bộ hết làng:

Các bạn Trung Quốc đã khéo léo treo vào các cành cây cụm lồng đèn đỏ nhân dịp năm mới nên cảnh trí nhìn càng sinh động màu sắc hơn:

Làng Changjiao về cuối ngày thanh bình càng gợi nhớ nhiều hơn về không khí ngày xuân ở làng quê Việt Nam:

Đi hết làng Changjiao du khách sẽ đến được điểm thăm quan cuối cùng trong làng: thổ lâu Huaiyuan, được xây dựng từ năm 1907 nay đã hơn trăm tuổi.

Đoạn đường dẫn vào Huaiyuan lầu đẹp mê hồn, phía hông là dòng kênh nhỏ, sau lưng lầu là quãng đồi thấp; nếu vào mùa cày cấy chắc sẽ ngắm rõ được lâu đất vàng nổi bật trên những thửa ruộng mạ non ^^

Thổ lâu này cao 4 tầng, mỗi tầng có 34 phòng, từ phía ngoài nhìn vào rất đồ sộ. Theo những hình cũ chụp trước kia thì khoảng sân ngay trước Huaiyuan lầu có vẽ 1 vòng tròn Thái Cực rất lớn, nhưng giờ đây qua nhiều lần tôn tạo đã biến mất không còn vết tích:

Bước vào sân chung của Huaiyuan lâu là nhà thờ tổ và cũng là nơi dạy học khi xưa có kiến trúc đối xứng bắt mắt:

Thổ lâu này cũng là địa điểm cuối cùng chúng tôi dừng chân trước khi lên xe về lại Điền Loa Khanh lúc mặt trời sắp lặn.

8. Nam Tĩnh – Thổ lầu về đêm

Xuân xế mùa xuân, chiều xế chiều, chẳng mấy mà xe đã đưa chúng tôi về đến Tianloukeng. Phong cảnh Điền Loa Khanh lúc chiều tà cũng hữu tình không kém gì buổi sáng sớm:

Cụm thổ lầu Điền Loa Khanh như đã có dịp giới thiệu sơ lược với bạn đọc, gồm 4 thổ lâu tròn (Zhenchang, Hechang, Ruiyun, Wenchang) và 1 thổ lâu vuông (Buyun) nằm kề nhau; thổ lâu mà chúng tôi trọ là Zhenchang lâu. Một vài hình ảnh các thổ lâu kia lúc nắng tắt:

Sau bữa tối đơn giản, chúng tôi ra ngoài thổ lâu tìm mua pháo đốt! món này dễ kiếm và không quá đắt, cả nhóm tụm lại đốt pháo hoa ngay trước cổng thổ lâu để ôn lại những ngày còn không, chỉ cần chú ý trời hanh vật khô, cẩn thận củi lửa

Người Việt Nam mình thì mải mê ôn lại kỷ niệm xưa giữa tiết trời rét mướt còn cư dân thổ lầu thì tụ tập giải trí như thế nào ngày Tết? Bạn đọc xem ảnh chắc cũng không lấy làm lạ

Ngày mồng 5 Tết trôi qua thật nhanh, chúng tôi đã đi thăm được vùng Nam Tĩnh (Nanjing), cả đoàn về Zhenchang lầu lên giường đắp chăn ngủ sớm, sẵn sàng cho ngày mai mồng 6 Tết rời Điền Loa Khanh đi vãn cảnh vùng Vĩnh Định (Yongding). Xin chào và hẹn gặp lại bạn đọc trong bài viết tiếp theo du xuân Thổ lâu Phúc Kiến.

Phúc Kiến Tân Mão Ký – Thăm vùng Nam Tĩnh (P1)

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 21-02-2011

0

1. Sơ lược về Thổ Lâu Phúc Kiến

Truyện kể giai đoạn những năm 1960, người Mỹ nhìn thấy qua vệ tinh một vùng rộng lớn của Trung Quốc có những công trình hình trụ và hình vuông cực lớn mà không xác định rõ được kiến trúc cũng như mục đích sử dụng, đã đồ rằng đây là căn cứ quân sự chứa hoả tiễn của Trung Quốc. Phải đến khi quan hệ Trung-Mỹ (Sino-US relationship) qua giai đoạn căng thẳng, người Mỹ mới có dịp thăm dò và phát hiện ra những “căn cứ hoả tiễn” đó thực ra là cụm thổ lâu đặc trưng của tộc Khách Gia vùng Phúc Kiến. Phát hiện thú vị này khai mở cho những khảo cứu chuyên sâu về Thổ lâu, vinh danh đây là 1 trong những kiến trúc độc đáo bậc nhất về nhà cửa của vùng Phúc Kiến nói riêng và toàn Trung Quốc nói chung. Năm 2008, quần thể 46 thổ lâu Phúc Kiến đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá thế giới; tiếp sau đó là những chuyên mục giới thiệu và quảng bá hình ảnh độc đáo Thổ lâu Phúc Kiến trên truyền thông của CNTV đã giúp du khách có dịp tiếp cận với một điểm du lịch hấp dẫn nằm ngay sát cánh cung phía Đông đại lục.

Thổ lâu Phúc Kiến hay Thổ lầu thực chất là các cụm nhà xây bằng đất nện của tộc Khách Gia từ thế kỷ 12 trở lại đây; với mục đích sinh sống quần tụ, tự vệ chống lại thú dữ và giặc cướp. Các toà này thường được xây quây lại theo hình tròn, vuông, bầu dục, bát giác, thậm chí cả bán nguyệt hay dạng ghế tựa. Thông thường thổ lâu chỉ có 1 cửa duy nhất để ra vào, bên trong sân chung là giếng trời và khu thờ cúng tổ tiên. Mỗi thổ lâu có thể cao từ 3 đến 5 tầng; tầng dưới cùng là bếp, tầng 2 là các kho chứa đồ nên không có cửa sổ, từ tầng 3 trở lên là nơi sinh sống của các gia đình, thường là cũng chung một gia tộc lớn. Trải qua thăng trầm thời gian, ngày nay còn đến hàng nghìn thổ lầu vẫn đứng vững, bám trụ qua nắng mưa và cả chiến tranh, trở thành biểu trưng tự hào của truyền thống văn hoá đại gia đình qua nhiều đời của người dân nơi đây.

Khách du lịch khi ghé thăm các Thổ lâu thường chọn đi các khu chính nằm trong 2 vùng Nam Tĩnh (Nanjing) và Vĩnh Định (Yongding). Dưới đây là bản đồ tương quan các khu này:

Xin giới thiệu với bạn đọc lần lượt các điểm mà chúng tôi có dịp ghé qua trong 2 ngày, ngày đầu là thăm quan cảnh đẹp và thổ lâu vùng Nam Tĩnh ^^

2. Nam Tĩnh – Thổ lâu Điền Loa Khanh (Tianloukeng)

Điền Loa Khanh – Tianloukeng là hình ảnh tiêu biểu nhất mà bất cứ ai lần đầu tìm thông tin về thổ lâu Phúc Kiến cũng sẽ thấy trước nhất. Cụm thổ lâu này gồm 4 thổ lầu tròn bao xung quanh 1 thổ lầu vuông chính giữa, nhìn tựa như “4 món ăn và 1 hũ canh” vậy còn gọi mỹ miều hơn thì như cánh hoa đào đơn đang nở. Nôm na như thế này:

Chúng tôi may mắn liên lạc với 1 bạn gái sống cùng gia đình bên trong khu vực Điền Loa Khanh làm du lịch và nói được tiếng Anh nên đã chọn thuê phòng và ở trong cụm thổ lâu này. Đêm mồng 4 Tết, cả đoàn đặt chân vào Tianloukeng, khi đó ngoài trời đã tối om như mực nên chưa biết thổ lầu tròn méo ra sao, tranh thủ khi chưa lên giường nháy vào kiểu ban đêm gọi là:

Trong phòng thì hết sức giản tiện: Internet, tủ lạnh, ti vi, điều hoà, máy giặt xin tạm quên đi; có 1 cửa gỗ cài then ra vào và 1 cửa sổ trổ trên tường dày chục phân với 2 giường nằm mà thôi …

Sáng ra mới kịp ngắm kỹ khuôn viên bên trong thổ lâu, khung cảnh sáng sớm cũng náo động thú vị lắm, y như phim Kungfu Huslte của Châu Tinh Trì, có khác là kiến trúc ở đây bằng gỗ nhiều hơn nên đi lại phải nhẹ chân kẻo nhức đầu hàng xóm:

Cũng nhằm ngày mồng 5 Tết Nguyên Đán nên sinh hoạt trong thổ lâu có phần sôi nổi hơn, mà mở đầu là màn đốt pháo inh ỏi giữa sân chung Món này Việt Nam cấm lâu rồi, nhưng ở đây thì dường như là nét truyền thống không thể thiếu, cứ mỗi gia đình đốt 1 bánh pháo giữa sân chung, rồi thắp hương cúng lễ đầu ngày ở bàn thờ tổ:

Sau bữa ăn nhẹ, chúng tôi rời Điền Loa Khanh để đi thăm quan các khu xung quanh Nam Tĩnh trước. Đường đi bộ bên trong khu Điền Loa Khanh rất đẹp, các bậc thang đá đều trải thắm xác pháo hồng mang không khí Tết ấm áp:

Ra khỏi cụm thổ lâu là đoạn đường đồi trước khi đến chỗ đậu xe, cảnh trí xinh đẹp như tranh:

Xin chào nhau giữa con đường,
Mùa xuân phía trước, thổ lầu phía sau”
(phỏng thơ bác Bùi Giáng)

3. Nam Tĩnh – Thổ lâu Dụ Xương (Yuchanglou)

Nằm cách Điền Loa Khang gần 5km là thổ lâu Dụ Xương – thổ lâu lâu đời bậc nhất Trung Quốc, xây dựng từ năm 1308, và cũng nằm trong số những thổ lầu cao nhất với 5 tầng lớn và 50 phòng mỗi tầng. Nhìn từ bên ngoài, thổ lâu này nằm cạnh dòng suối nhỏ có cây đào trắng đang trổ hoa rất nên thơ ^^

Bước lại gần Dụ Xương lầu, du khách cảm nhận được sự đồ sộ trong kiến trúc của thổ lầu này với cửa vào rất lớn, tầng lầu cao chót vót:

Kiến trúc bên trong Yuchanglou còn độc đáo hơn thế!

Một lỗ châu mai nhìn từ tầng trên của Dụ Xương lầu cho phép quan sát bên ngoài và cũng dùng để phòng thủ:

Vũ điệu các lan can gỗ vài mái xám xếp đều tăm tắp rất bắt mắt, thêm vào đó là hàng cột nghiêng “tự nhiên” rất quy củ càng làm người ta thêm tò mò về kiến trúc của lầu. Được biết các cây cột này đều nghiêng 15 độ từ khi mới xây dựng, hoàn toàn chắc chắn và lầu đã đứng vững qua nhiều thế kỷ; đến nay vẫn là nơi sinh sống của nhiều gia đình người Khách. Cũng vì thế mà Dụ Xương Lầu còn có hỗn danh là toà lầu zig-zag:

Thổ lầu nhìn như 1 ống trụ lớn làm thành giếng trời bên trong, chính giữa là toà nhà nhỏ dùng làm nơi thờ chung của gia tộc:

Còn tầng trệt Dụ Xương Lầu đã biến thành nơi bán quà lưu niệm cho khách du lịch, và đặc biệt là đặc sản Trà Phúc Kiến:

Vòng vèo chụp ảnh thoả thê, chúng tôi lưu luyến rời Yuchanglou tiếp tục du xuân:

4. Nam Tĩnh – làng Taxia (Taxia Earthern buildings)

Nằm không xa Dụ Xương Lầu là quần thể làng Taxia xây từ thời nhà Minh những năm 1631, khi đó nhắm vào năm thứ 4 triều đại Minh Tư Tông Sùng Trinh Đế – vị hoàng đế nhà Hán cuối cùng trước khi con cháu của Hoàng Thái Cực tiến vào quan nội lập nên Thanh triều. Giai đoạn này lịch sử Trung Hoa chứng kiến sự còn mất của giang sơn Đại Minh, nỗi oan của Viên Sùng Hoán, cuộc khởi nghĩa của Sấm vương Lý Tự Thành, và cả hành động bán nước mở cửa ải Sơn hải quan của Ngô Tam Quế để quân Thanh vượt trường thành. Ngô Tam Quế sau đó được nhà Thanh thưởng công phong làm Bình Tây Vương trấn thủ Vân Nam; còn Lý Tự Thành khi mất đi được đồn rằng đã di chiếu lại 1 kho báu quý giá – câu chuyện khơi nguồn cho tiểu thuyết võ hiệp Tuyết sơn phi hồ của nhà văn Kim Dung xoay quanh sự tranh đoạt chém giết giữa 4 họ Hồ, Miêu, Phạm, Điền vốn là cận vệ trung thành của Sấm vương trước kia … Lịch sử với dã sử là thế, nhưng dường như mọi chuyện đều nằm ngoài sự yên bình của làng Taxia buổi trưa mồng 5 Tết khi chúng tôi ghé chân ^^

Đây là hình ảnh đầu tiên chúng tôi gặp khi bước vào làng: Ông lão đang chuẩn bị bánh pháo dài cực kỳ dài trải ra trước hiên nhà

Hoá ra cả làng Taxia đang có lễ hội, nhà nhà đều đổ ra đường chuẩn bị sẵn pháo Tết và hương án để đón đoàn rước:

Hội chèo lặng Đặng đi qua ngõ
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.
(Nguyễn Bính)

Hát đâu chưa thấy nhưng cả làng như rộn rã hẳn lên với tiếng pháo xuân, theo từng bước đoàn rước là tiếng pháo nổ inh trời, không khí sống động và đặc biệt là mùi thuốc pháo như làm nức lòng chúng tôi, những người đã không thấy xác pháo trên chục năm có lẻ:

Cùng lúc đó là các gia đình thắp hương và hoá vàng tại chỗ, mâm lễ cũng đơn sơ lắm chứ không hoành tráng như các mâm lễ thường thấy ở quê mình:

Đoàn rước đi qua trả lại không gian yên tịnh cho đoạn đường làng dọc bờ sông:

Xe biển xanh không biết từ đâu ùn ùn kéo về, chắc đã xếp hàng từ xa chờ đoàn rước đi hết, tiếc là biển này ở Trung Quốc không có quyền ưu tiên gì

Kiến trúc làng Taxia là sự kết hợp cũ mới của các thổ lâu tròn và vuông đã xây dựng từ lâu cùng cả những khu nhà mới xây, Dân cư đông đúc như hình con long (Đồng Đức Bốn):

Bên trong những thổ lâu lại là kiến trúc cổ điển quen thuộc: cây xanh, giếng trời, giếng đất; không khí thanh bình và vắng lặng:

Đi bộ trong làng, du khách sẽ gặp một con đường đá dẫn lên đồi, khu vực này là 1 di tích khác nổi tiếng của làng Taxia – nhà thờ tộc Trương (Zhang’s Clan Ancestral Hall):

Kiến trúc nhà thờ tổ này khá đơn giản nhưng theo đúng phong thuỷ, phía trước là hồ bán nguyệt, sau lưng dựa vào đồi thấp. Trước sân còn có dựng 21 cột đá, mỗi cột cao 10 mét, trên có chạm đá tinh xảo để tưởng nhớ những người họ Trương đã có công chấn hưng gia tộc qua nhiều thời kỳ:

Nhìn từ phía đồi thấp sau lưng, kiến trúc của nhà thờ tổ này càng thêm xinh xắn, làm người ta nhớ đến phong cách xây dựng của hội quán Triều Châu hay hội quán Phúc Kiến ở Hội An:

Một vài hình ảnh về kiến trúc bên trong nhà thờ tộc Trương:

Trên các mái ngói là đầu cong cách điệu cùng những trang trí rồng phượng, các nhân vật trong tích truyện Bát Tiên, Phong Thần diễn nghĩa, rồi Trương Lương gặp Huỳnh Thạch Công … đủ cả, màu sắc còn mới và hơi cải lương

Thăm quan xong nhà thờ tộc Trương, chúng tôi lên xe rời làng Taxia, lúc này đã là chính ngọ:

5. Nam Tĩnh – cụm thổ lâu Hekeng

Trước giờ ăn trưa, chúng tôi còn kịp làm vài động tác thể dục leo lên đài quan sát để ngắm toàn cảnh 1 cụm thổ lâu khác nằm cách làng Taxia khoảng 5km về phía Bắc – Hekeng Tulous – một cụm thổ lâu lớn nhất nhì của vùng Nam Tĩnh (Nanjing), Trương Châu (Zhangzhou) Hình ảnh quần thể Hekeng nhìn từ trên cao:

———–

Sau đây là giờ ăn trưa ^^ xin hẹn gặp lại bạn đọc vào buổi chiều tiếp tục hành trình khám phá vùng Nam Tĩnh

Phúc Kiến Tân Mão Ký – Thổ Lầu Du Xuân

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 13-02-2011

1

Nhà nàng ở gốc cây mai trắng,
Trên xóm mai vàng dưới đế kinh.
Có một buổi chiều qua lối ấy,
Tôi về dệt mãi mộng ba sinh.

Nhà thơ Nguyễn Bính đã từng dùng những dòng thơ đa tình để viết về “địa chỉ” của cô gái Tú Uyên mà ông yêu quý: ở phố Bạch Mai, trên xóm Hoàng Mai, dưới Phố Huế. Tôi cũng khó ngờ rằng ở một vùng xa xôi phía Tây Nam Phúc Kiến (Fujian), tôi lại có dịp chìm đắm trong một không gian tưởng như chỉ có trong thơ văn như thế, với bóng hoa mai hoa mận trắng đồi, bích đào và pháo hồng ngợp dưới nắng xuân ^^ Tết Tân Mão 2011 là 1 kỷ niệm đẹp, một mộng ba sinh như thế trong mỗi chúng tôi!

Trong khuôn khổ vài ngày ngắn ngủi thăm thú Phúc Kiến, xin lần lượt gửi đến bạn đọc đôi nét về kiến trúc, con người, và đặc biệt là không khí Tết cổ truyền của tộc Khách Gia (Hakka) nơi này.

———-

Trước hết là lịch trình chi tiết của đoàn:

- Mồng 3 Tết (5/2): khởi hành từ Hà Nội đi Lạng Sơn, qua cửa khẩu Hữu Nghị Quan, bắt xe giường nằm (330 RMB/người) lúc 7pm từ Bằng Tường đi Quảng Châu.

- Mồng 4 Tết (6/2): đến Quảng Châu sáng 6am, tiếp tục mua vé xe giường nằm (280 RMB/người) lúc 9am đi Hạ Môn (Xiamen) tỉnh Phúc Kiến, đến Hạ Môn lúc 9pm. Tiếp tục di chuyển thêm 160km đến Thổ lâu Điền Loa Khanh (Tianloukeng) thuộc

- Mồng 5 Tết (7/2): sáng du ngoạn các thổ lâu và cảnh đẹp huyện Nam Tĩnh (Nanjing county), thành phố Trương Châu (Changzhou), tỉnh Phúc Kiến; tối về đốt pháo hoa

- Mồng 6 Tết (8/2): thăm thú các thổ lâu thuộc huyện Vĩnh Định (Yongding county), thị Long Nham (Longyan), tỉnh Phúc Kiến. Tối bắt xe về lại Hạ Môn.

- Mồng 7 và 8 Tết (9-10/2): ngược dòng Hạ Môn – Quảng Châu (8.30am – 11.30pm), bay Quảng Châu – Nam Ninh (8.15am – 9.45am, 820 RMB đã bao gồm thuế), rồi chạy một mạch taxi từ sân bay Nam Ninh về cửa khẩu Hữu Nghị Quan, Bằng Tường (550 RMB/xe). Từ đây đi xe nhà Hoa Thêm về Hà Nội, kết thúc chuyến du xuân đầu năm

Tây Tạng Du Ký – Khúc vĩ thanh

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 25-08-2010

18

Quả thật khó cho tôi khi muốn viết lại Khúc vĩ thanh Tây Tạng, bao nhiêu hình ảnh chuyến hành trình 11 ngày cứ đầy ăm ắp, ấn tượng với Tây Tạng vô cùng sâu đậm, những thắc mắc năm xưa nay đã tìm được lời giải đáp trên vùng đất Phật nhưng kéo theo đó là muôn vàn điều mới mẻ và lòng càng băn khoăn hơn … Xin trích đôi dòng từ cuốn Mùi hương trầm (tác giả Nguyễn Tường Bách): “Cảnh quan thiên nhiên tuyệt đỉnh của Tây Tạng không chỉ làm hứng khởi tầm nghe nhìn của chúng ta vốn thường bị mây mù, khói đục và tiếng ồn che phủ, mà còn tích cực hơn, nó dẫn đường mở lối cho nhận thức và ý niệm về cái miên viễn đang hiện hình trước mắt ta. Tâm ta biết rằng cái miên viễn không phải đi tìm đâu xa, nó nằm ngay trước mắt, nó hiện diện ngay trong lòng, chỉ mắt vướng bụi nên không nhìn thấy nó, chỉ lòng chưa tỉnh nên không nhận ra nó. Nhưng cái miên viễn cũng không phải trần trụi sờ sờ ra đó để ai cũng có thể ngắm nghía mà muốn tới với nó phải đi hết đoạn đường phi hữu phi không, phải tự tay mở cánh cửa vô môn, phải nghe được thứ tiếng không lời, phải vào chốn ẩn mật chỉ dành cho những người dâng hết tâm ý, biết buông rơi chính mình. Cảnh quan Tây Tạng là bước khởi đầu, không phải là đoạn kết thúc.” Phải rồi! chỉ là bước khởi đầu, chưa phải là đoạn kết thúc, tôi đang viết cho bước khởi đầu của chính mình

1. Đô Thành mù sương

Tôi có duyên nhiều với Thành Đô (Chengdu) và cũng rất yêu thích thành phố này bởi nó có cái trong mát yên bình của đô thị quanh năm bao phủ bởi sương mù, kèm theo bề dày lịch sử văn hoá của cố đô Thục Hán đến nay đã vài mươi thế kỷ, cũng lại mang dáng dấp tân kỳ đô hội phát triển không thua kém bất cứ nơi đâu. Cũng vì thế tôi chọn Thành Đô, Tứ Xuyên làm điểm xuất phát của cuộc hành trình. Tuy chỉ lưu lại Thành Đô 1 ngày nhưng tôi đã may mắn cảm nhận được phần nào cuộc sống nơi Thiên Phủ Chi Quốc với những ghế kiệu, phòng trà, bạch viên, thi quyển:

Những vẻ đẹp làm mê lòng khách đến Thành Đô: này là Vọng Giang Lầu êm đềm trong sương sớm, này là Văn Thù Miếu giấu trong lòng nó những gì tinh hoa của vùng Tứ Xuyên. Bước chân vào Đệ nhất danh trà quán, người ta thấy một nốt trầm trong đời sống phồn hoa của nơi đây, không líu lo điện thoại, không tíu tít bán hàng, người dân Thành Đô vào đây độc ẩm, đối ẩm, quần ẩm bên những ly trà luôn bóc khói nóng; đáng yêu và thú vị như tiết trời sương khói mát mẻ bao đời của mảnh đất này vậy. Không chỉ có thế, Văn Thù Miếu còn có riêng 1 thư viện Phật học cực lớn bên trong khuôn viên bởi với những ai nghiên cứu Phật giáo thì đều biết rằng hình tượng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là tượng trưng cho trí huệ mênh mông, điều mà sau này tôi được chứng ngộ khi đặt chân vào Tây Tạng.

Thành Đô tiễn tôi bằng 1 cơn mưa nhẹ và màn Xuyên kịch đặc sản khi trời chiều lảng bảng. Phố đẹp, đường đẹp, lầu gác đẹp và người cũng đẹp; Thành Đô trong mưa là 1 ấn tượng khó phai với khách phương xa. Ngồi trong rạp dựng ngoài trời ngay dưới cơn mưa xem hý kịch Trung Hoa lại càng thú vị hơn nữa. Tôi sẽ không lạ nếu mai này bên sông Cẩm Giang người ta chơi thêm hồ cầm đàn địch, để nếu có dịp ghé thăm tôi lại được thả hồn mơ mộng, hỏi rằng có phải đang tấu khúc Hồ trường Dạ Vũ Tiêu Tương?

Xin hẹn Thành Đô không xa lần tiếp theo du ký Trung Hoa sẽ gặp lại cố nhân

2. Tuyết Quốc trong mây

Có rất nhiều cái tên đẹp để dành riêng gọi cho mảnh đất của những độ cao này: Tây Tạng, Tibet, Land of the Snows, Nóc nhà thế giới, hay chỉ đơn giản là Tuyết Quốc. Một sớm mùa hè như mọi ngày nhưng có ý nghĩa đặc biệt với tôi, hôm nay tôi sẽ bay trên rặng Tuyết Sơn để đặt chân vào thánh địa Phật giáo, học theo dấu chân minh triết của người xưa lần tìm về xứ sở huyền thoại.

Rời Thành Đô, tôi đến với cửa ngõ màu xanh của Tây Tạng: Nyingchi (thuộc địa giới vùng Kham cũ). Nhấc từ đồng bằng lên cao nguyên trung bình 3000m so với mực nước biển sau vài tiếng bay, tôi choáng váng bởi không khí loãng và càng choáng váng hơn bởi những hình ảnh đầu tiên về Tây Tạng hiện ra xanh đến thế ^^ Chẳng thế mà những khách du lịch khi khám phá vùng Kham đã đặt cho nơi đây cái tên ‘Wild Wild East’ bởi sự khác biệt cực kỹ rõ nét về cảnh quan tự nhiên và điều kiện thời tiết: này là rừng cây thác nước, kia là núi tuyết thảo nguyên; thiên đường xanh Tây Tạng kỳ thú lắm!

Đường nay mây trắng gió ngàn:

Nếu như đỉnh Phan Xi Păng cao 3143m, trèo lên đến nơi là chạm vào nóc nhà Đông Dương thì ở Nyingchi cũng độ cao tương tự, tôi được chạm vào lá vào hoa của Khả Đình Câu, chạm vào thân cây Đại Bách 2600 năm tuổi, được dừng trên đỉnh Sejila cao 4702m để chạm vào sương gió ngay giữa trưa nắng hè, được hít thở cái mát rượi của rừng Lulang từ vọng lâu nhìn ra đỉnh Namche Barwa cao 7786m, đặc biệt là được chạm vào nét sơ khai của cổ giáo Ninh Mã do đại sư Liên Hoa Sinh sáng lập mà dấu tích còn lưu lại trên tu viện Tsozong giữa hồ Basum-tso:

Tạm biệt tiểu Thuỵ Sĩ vùng Kham, tôi lên đường đến với thành phố của chư thiên, trái tim của Tây Tạng: thủ phủ Lhasa. Hỏi rằng chư Phật nơi đâu? có phải là bức tượng Đức Thích Ca Thập Nhị Tuế Đẳng bên trong đền Jokhang tuổi đời chục thiên niên kỷ hay ngay trước mắt tôi kia dòng người mộ đạo bước đi giữa cái huyên náo của khu chợ Barkhor tay xoay kinh luân còn trong lòng tịnh không, hướng Phật:

Thiên kinh vạn quyển đọc bao nhiêu cho đủ? chỉ một lần lặng im đứng giữa Bát Giác Nhai sẽ dấy lên niềm kính phục nghi lễ tôn giáo khổ hạnh tràn đầy niềm tin của người Tạng dưới mái chùa Đại Chiêu buổi bình minh đầu ngày. Phải chăng người xưa có câu Nhất tu thị, nhị tu sơn để dành cho những con người này? Đời trong đục nào có hề chi, bởi họ đã đem đạo về đây giữa phố phường Lạp Tát hơn nghìn năm có lẻ, kể từ cuộc hôn phối giữa công chúa Văn Thành và Tạng Vương Tùng Tán Cương Bố thế kỷ thứ 7.

Đặt chân đến Lhasa chắc chắn ai cũng phải đến chiêm ngưỡng kiến trúc đồ sộ mang phong cách Tạng của hành cung Potala và tôi không phải ngoại lệ. Chưa bao giờ tôi tưởng tượng được trong đời mình sẽ có dịp leo mấy trăm bậc đá trắng trên độ cao 3600m để bước vào nơi thâm nghiêm cao quý nhất của cộng đồng chính-giáo Tây Tạng; và cứ như thế, tôi hăm hở thở và leo.

13 bức tượng của các Đạt Lai Lạt Ma đời trước, căn phòng của Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 sử dụng khi ngài còn tại vị, những stupa sơn son thếp vàng nạm đầy ngọc quý, những hành lang phô phang màu sắc, những cánh cổng đỏ sậm đầy quyền uy, những cầu thang lên xuống như ma trận, những bức tường được mural nhuộm thắm, những chiếc cột đen nhánh mỡ bò yak treo thangka khổng lồ, mùi nến mùi người mùi gỗ mùi ẩm mốc và mùi tiền … tất cả làm đầu óc của kẻ người trần mắt thịt như tôi rối bời!

Hiếm ai ra khỏi cung điện Potala mà lòng không hụt hẫng, lý do thì muôn vẻ nhưng tựu chung lại là cảm giác xa lạ, mất mát. Đã hơn 50 năm rồi hành cung Bố Đạt La vắng bóng chủ nhân thực sự của nó. Người Tạng cũng không còn lui tới đây thường xuyên, có chăng chỉ đi vòng kora khổng lồ dưới chân điện. Có sinh có diệt, vạn vật vô thường, Đức Thích Ca cũng từng truyền dạy điều đó áp dụng cho cả Phật pháp; mới nghe sao thấy dễ dàng nhưng đến Lhasa đối diện với thực tại đang diễn ra từng ngày thì lòng cay đắng lắm! Nhưng nếu ai hỏi tôi ấn tượng nhất với Lhasa là gì, tôi vẫn sẽ trả lời: “Potala!”. Nếu bạn một lần đến Lhasa, xin hãy bỏ sức leo lên cung, cũng như bạn đã từng không ngần ngại leo Yên Tử, leo chùa Hương, leo Côn Sơn Kiếp Bạc; bởi tôi xin cam đoan với bạn một điều rằng trên cao gió bạt tiếng eo sèo.

Potala kể từ ngày đầu được vua Tùng Tán Cương Bố đặt nền móng năm 637 cho đến lúc Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 mở rộng năm 1645 đã kinh qua bao biến thiên đổi dời; ngày nay trở thành bảo tàng độc đáo cho kiến trúc và văn hoá Phật giáo của người Tạng trên cao nguyên. Và khi đêm về trăng lên là lúc phô bày vẻ đẹp lưỡng tông Hồng-Bạch huyền ảo bí ẩn đó:

Trong cái nắng hè oi ả của kinh đô ánh sáng lúc nào cũng ngập tràn ánh mặt trời, tôi đến thăm tu viện Sera, 1 trong 3 ngôi đạo tràng quan trọng bậc nhất của thủ phủ Lhasa. Ấn tượng của tôi về ngôi đại tùng lâm này là hàng cây rợp bóng trong khuôn viên tu viện và nét mặt hứng khởi của những Tăng sĩ tuổi còn rất trẻ đang sôi nổi truy bài trong vườn Biện Kinh:

Nội dung của những cuộc tranh luận khẩu chiến này tôi không được biết, nôm na người đời bảo đó là cách để đào sâu hiểu biết về Phật điển, nâng cao tri thức trong quá trình tu học, và cũng là cách tinh tiến để đạt cảnh giới cao hơn. Tổng cộng có 6 cấp bậc trong giới Tăng sĩ Tây Tạng và việc vấn đáp sát hạch là bắt buộc để đạt được tới cấp thứ 4! Hoá ra có cách ngồi tập trung thiền định thu mình vào trong để tự giác ngộ, cũng lại có cách biện giải huyên náo để lĩnh hội giới luật như thế. Hoàng Mạo Giáo là tông giáo chú trọng nhất vào việc học đạo đúng cách, đề cao sự rèn luyện của Tăng chúng; hôm nay tôi đã được thấy phần nào điều đó:

Rời Lhasa tôi lại rong ruổi trên con đường thiên lý đến thăm thành phố lớn thứ 2 của Tây Tạng: Shigatse. Ngày đi Shigatse cũng là ngày nhiều sự kiện với tôi khi được tận mắt ngắm những kỳ quan thiên tạo và nhân tạo tuyệt diệu của Tây Tạng. Có ai không nín thở khi đứng trên đèo Karola cao hơn 5000m để ngắm màu xanh ngọc kỳ lạ của hồ San hô Yamdrok-tso đẹp ngỡ ngàng đang uốn lượn dưới chân đỉnh băng vĩnh cửu Nojin Kangtsang sừng sững ở độ cao 7191m:

Vị nữ thần nào năm xưa đã hoá thân vào hồ Yamdrok kỳ ảo này để ngày hôm nay tôi đứng đây chôn chân trong nắng gió ngắm nhìn cảnh quan mà lòng cảm khái trào dâng, thêm giận mình bất tài không tả được cái đẹp siêu nhiên chốn này!

Con đường xuống đèo chạy song song với bờ hồ mang lại góc nhìn khác về Yamdrok-tso, một góc nhìn tâm linh. Ai đến hồ cũng sẽ để ý thấy hàng ngàn ụ đá nhỏ có theo hình dạng stupa rải rác gần mép nước mà người Tạng hàng năm đi hành hương qua đây đều cung kính xếp lại như để lưu dấu trong cõi trần ai này, họ đã đến đảnh lễ chốn hồ thiêng vinh danh Phật pháp.

Khi xe chạy qua lên đỉnh đèo Karola (4960m) là lúc tôi được nhìn gần Nojin Kangtsang hơn, ngắm nhìn cái chói chang của đỉnh băng trong nắng trưa và rùng mình trong cái lạnh không cắt nghĩa được, cũng là dịp khẳng định một điều tôi đã tâm niệm từ lâu về Tây Tạng: Tuyết nơi đây trắng sạch nhất thế gian!

Dấu ấn thiên tạo của Tsang là thế, còn dấu ấn nhân tạo thì sao? tôi dừng chân bên trấn anh hùng Gyantse nghe lại câu chuyện pháo đài Gyantse Dzong nơi bao người Tạng ngã xuống đền nợ nước trong buổi đầu xâm lược của thực dân Anh năm 1904. Một thế kỷ đã qua rồi, pháo đài Dzong ngày nay vẫn sừng sững giữa thị trấn, tiếng súng gươm đã lùi vào quá khứ nhưng cuộc tranh đấu âm thầm lặng lẽ liệu đã thôi âm ỉ?

Gyantse là thị trấn nhỏ và nghèo, đường đi vắng lắm, những ngôi nhà lầm lũi như khô cháy dưới nắng cao nguyên, bóng người Tạng thấp thoáng dưới mái hiên, con đường giữa trấn như hoàn toàn tách biệt bởi dòng xe du lịch cứ chạy rầm rập, ngồi trên xe là khách thập phương tứ xứ như chúng tôi đây, chắc không có ai dừng lâu nơi này để nói được lời chào đúng nghĩa. Chạnh lòng nghĩ đến câu của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: “người vô tâm nhiều như gió bụi trên đường”

Cách pháo đài Dzong không xa là quần thể tu viện Pelkhor Chode – nơi hoà quyện tâm linh và dung dưỡng của 2 tông giáo Tát Ca và Cách Lỗ của Tây Tạng, một hình thức tổng hoà độc đáo mà tôi bấy giờ mới có dịp diện kiến. Chưa chạy đến cổng tu viện đã thấy thấp thoáng phía xa công trình kiến trúc “dị thường” nhất của toàn vùng Tsang nói riêng và cả Tây Tạng nói chung: tháp Thập Vạn Phật

Đếm sao cho đủ chi tiết mười vạn tranh tường, bích hoạ, tượng Phật, khám thờ … bên trong tháp; chỉ biết rằng ai đến đây cũng giật mình bởi kiến trúc Stupa Muôn cửa khổng lồ đã được người Tạng nghiêm cẩn dựng lên thành kỳ quan giữa cao nguyên! Kia là 4 tầng đáy của Tứ diệu đế và 4 đôi mắt hiền từ của đức Thế Tôn đang nhìn ra bốn phương; trên nữa là 13 nấc thang phấn đấu của đời người dẫn lên cõi Niết bàn; trên thượng tầng tháp là sự minh triết, là vòm trời xanh với trăng sao mây trắng nắng vàng. Kiến thức bản thân còn hạn hẹp mà biển trí huệ thì bao la, tôi chỉ biết gửi gắm những điều mình thấy qua vài bức ảnh.

Màu sắc của Kumbum – Thập Vạn Phật tự bên trong và cả bên ngoài phải dùng tính từ dữ dội để diễn tả! Nếu sắc bao quát trắng-đỏ-tím bên ngoài tháp chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiến trúc Nepal thì bên trong mỗi khám thờ tôi bắt gặp cách phối màu rực rỡ và có phần siêu thực của người Tạng. Mỗi gian điện lần lượt là các bức tượng thờ Quán Thế Âm, Thanh Đa La, Bạch Đa La, Tu di, Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền Bồ Tát thì trên tường và trần là sẽ là vô vàn hoạ hình tương ứng. Tôi còn nhớ mãi khi đó trong lúc mắt quáng tay run chân mỏi, tôi bước vào 1 khám thờ rất tối và khi ngước lên bắt gặp tượng thân của Đức Phật Thích Ca toàn một màu đỏ sậm khoác y vàng đang nhìn xuống. Lòng tôi vừa kính sợ vừa thích thú, lễ tạ Ngài xong tôi đi lùi ra cửa mà không dám nâng máy lên chụp. Đây có lẽ là gian điện duy nhất tôi không dám chụp ảnh dù được phép.

Trên đường leo lên tháp, tôi gặp nhiều gia đình người Tạng 2-3 thế hệ cũng đang đi tham bái Kumbum, chúng tôi cùng lần từng bước lên những bậc thang nhỏ hẹp quanh co để khi lên đến đỉnh thì trao nhau nụ cười và cái gật đầu thay lời chào giữa những người không cùng ngôn ngữ. Tôi leo Kumbum mà cứ thắc mắc mãi, người Tạng vốn khá cao to mà sao những cầu thang họ làm nhỏ thế để vừa leo vừa lo đụng đầu? thế rồi tôi tự tìm cho mình lời giải đáp: Có phải chăng từ lúc sinh thời họ đã gắn bó với Phật giáo, khi còn nhỏ họ đã đến thăm viếng nơi đây và khi đã tuổi già xế bóng thì con cháu lại đưa họ tìm về chốn cũ? Nếu xa xưa lúc còn thơ bé đã có dịp vào nơi này thì chẳng phải thế giới quan hoá ra rất rộng lớn hay sao!

Đứng trên Kumbum lúc này chính ngọ, tôi nhìn bao quát toàn trấn Gyantse đang được mặt trời dát vàng ở cao độ xấp xỉ 4000m mà thầm cảm phục câu nói đầy tính triết lý của thi hào Goethe: “Über allen Gipfeln ist Ruh” – Trên tất cả những đỉnh cao là bình yên.

Rời Kumbum, con đường xuyên vùng Tsang đưa tôi đến điểm dừng cuối: tu viện Tashilhunpo ở trung tâm thành phố Shigatse, là nơi tiếp diễn sự truyền thừa của dòng Ban Thiền Lạt Ma. Những tranh chấp phức tạp nhiều thế hệ hiển hiện trong lòng xã hội chính trị-tôn giáo Tây Tạng và cả sự ganh đua giữa 2 đô thị Nhật Khách Tắc và Lạp Tát sẽ là đề tài thu hút bất cứ ai đặt chân đến đây.

Trát Thập Luân Bố ngày nay là nơi tu học của Tăng sĩ vùng Tsang, cũng là điểm du lịch không thể bỏ qua. Câu chuyện dòng Đạt Lai Lạt Ma và Ban Thiền Lạt Ma; người là học trò, người là thầy dạy; cả 2 dòng đều là những đệ tử lỗi lạc của Hoàng Mạo Giáo thờ chung thầy là đại sư Tông Khách Ba; cả 2 dòng đều có tái sinh; mỗi dòng vừa có nhiệm vụ tiếp tục truyền thừa vừa thụ ấn người tái sinh của dòng kia. Mới nghe sao mà rắc rối và biết bao điều cơ mật đi kèm, kẻ hậu sinh như tôi quả không dám lạm bàn!

Bước đi trong Tashilhunpo, tôi bị thu hút bởi tông màu đỏ rực đầy uy quyền của 4 toà điện lớn nhất trong khuôn viên viện cùng những mái vàng ròng phô bày xa hoa minh chứng cho tài nghệ xuất chúng của người Tạng.

Hình ảnh bức tượng Phật tương lai Di Lặc cao 27m với đôi mắt xanh hiền hoà trong điện Jamkhang Chenmo cùng với sân Kelsang rộng lớn bao bọc 4 phía bởi nhưng bức tường đầy màu sắc hoạ hình đức Phật trong muôn ngàn ấn thủ chắc sẽ còn đeo đuổi tôi mãi …

Thiên nhân đồng điệu ^^ tạm biệt những công trình nhân tạo đượm màu tôn giáo vùng Tsang, tôi đi dọc theo dòng Nhã Lung trở lại vùng U để ngắm những nét thiên tạo khốc liệt khác mang bản sắc cao nguyên. Đứng trên triền dốc nhìn ra con sông Yarlung Tsangpo đang chảy giữa lòng U-Tsang, tôi mừng gặp lại người bạn cũ. Mới vài ngày trước tôi lần đầu gặp Nhã Lung khi sông uốn lượn hiền hoà dưới chân đỉnh Namche Barwa đoạn chảy qua rừng xanh Lulang; còn ngày hôm nay sông như xanh hơn in bóng trời trong vắt chảy xuyên qua những vùng đất trống núi trọc cực kỳ hiểm trở, hai bên là lạo xạo sỏi đá. Tôi nhặt vài viên đá và ném mạnh ra xa, dù đã thử nhiều lần và dùng hết sức, hòn nào hòn nấy chỉ rơi xuống lạch cạch và dừng lại bên bờ mép nước. Quá xa, quá rộng, quá hùng tráng! còn con người thì quá nhỏ bé! Ngay cả con đường 318 mệnh danh là Quốc lộ Trung Hoa cũng chỉ như đường kẻ vạch trên tấm màn mênh mông bao bọc bởi trời nước núi non.

Năm xưa vương triều Nhã Lung hùng mạnh rời đô từ thung lũng Yarlung vùng Kham về Lhasa chắc chắn đã qua đây. Bao nhiêu người đã đến và bao nhiêu người sau này sẽ tới, liệu họ có như tôi cũng đứng trước sông và ngâm ngợi về quá khứ vị lai của mảnh đất này? Lý Nhuệ dành trăm trang sách Ngàn dặm không mây để viết về thôn Ngũ Nhân Bình “hai năm không mưa, nắng như thiêu đốt”; có ai đã viết cho nơi đây những lời công bằng? Mà nào có hề chi với dòng Nhã Lung hùng tráng, “Chảy đi sông ơi – Băn khoăn làm gì? – Rồi sông đãi hết – Anh hùng còn chi?”

Trở về vùng U, tôi đi thăm một nơi linh thiêng nằm trong Tứ đại hồ thiêng của người Tạng: thánh hồ Nam-tso. Nằm ở độ cao hơn 4700m, lại bao bọc bởi rặng Nyenchen Tanglha với đỉnh cao chạm trời 7162m, hồ Nam-tso rộng đến 1920 cây số vuông, gần gấp 3 lần quốc đảo Singapore! “Nhỏ” như Singapore tôi còn chưa có dịp đi hết, đứng trước hồ mà tôi tâm phục khẩu phục. Phải gọi nơi đây là biển! biển trời, biển nước, biển gió, biển mây, và may sao không phải biển người ^^

Phong vô tướng, vân vô thường, muốn cảm nhận hết vẻ đẹp và sự linh thiêng của Nam-tso đã là khó rồi, nói chi đến việc nắm bắt dáng hình đang trải dài trước mắt. Khuôn hình tôi có hạn, cảm nhận còn thô vụng, xin tặng lại Nam-tso vài phút giây ngày nắng đẹp tôi đến – một trong muôn ngàn vẻ đẹp khôn tả của chốn biển hồ trên núi, dằng dặc một khúc ca giữa bao la mây trời.

Kỷ niệm với Nam-tso trong tôi còn là buổi trưa rất vui giữa lều 1 gia đình người Tạng sát mép hồ, nơi tôi được thư thả cạn chén trà sữa bò Yak và ăn món sữa chua gia đình làm. Nồng lắm, đậm lắm, béo lắm, khó ăn lắm nhưng hãy ăn đi bởi biết đến bao giờ mới có dịp lên Tây Tạng chỉ để ngồi uống với nhau chén trà như thế?

Tôi rời Nam-tso khi ánh nắng vẫn chưa tắt trên mặt hồ. Cảnh hồ đẹp vô song nhưng tôi cầm lòng không bước xuống để chạm vào mặt nước. Có lẽ mai sau tôi sẽ luyến tiếc vì bỏ mất cơ hội đó, cũng có thể lắm bởi tôi vẫn tham-sân-si

Sang ngày thứ 9 của cuộc hành trình, tôi tạm biệt vùng U để trải nghiệm một điều thú vị khác: đi trên tuyến đường sắt độc đáo nối liền Tây Tạng và người anh em thuở trước: cao nguyên Thanh Hải. Có 2 điều tôi thích thú với đường sắt này, không phải ở những cái “nhất” đã được nghe liệt kê: một là tôi có dịp được ngắm phong cảnh giao thoa giữa ‘Tạng’ và ‘Thanh’ hay chính là vùng U với Amdo thuở trước; hai là tôi có thời gian ngồi chép lại đọc lại những điều dồn dập tôi đã thấy trong vài ngày trước mà cho dù chuẩn bị kỹ càng trước khi đi nhưng tôi không thể ngờ bức màn phía Tây lại che phủ quá nhiều điều lạ lẫm phải tai nghe mắt thấy mới thoả lòng.

Tàu hoả thì vẫn là tàu hoả, nhưng nếu nói thế mà bỏ qua cung đường này thì quả là đáng tiếc. Hãy thử tưởng tượng khi bạn đang yên vị trên tàu chạy băng băng giữa cao nguyên thì nhác thấy 1 đàn cừu con trắng con đen đang bê tha gặm cỏ, bạn vừa nâng máy lên chưa kịp chỉnh ống kính thì tàu chạy qua mất, tiếc lắm, giận lắm, lại chong mắt lên chờ đợi và mai phục, cứ thế bạn luôn tay bấm máy, thu hết những gì đẹp và không đẹp lộ qua khung cửa. Tôi dám cá rằng có những lộ trình đẹp mà trong đời bạn chỉ đi với số lần cực kỳ hữu hạn, đường sắt Thanh-Tạng là một trong số đó!

Trong một phút vô tình của những lúc chong mắt chờ đợi và mai phục đó, dãy Khả Khả Tây Lý chào tôi từ phía rất xa. Sẽ có ngày tôi tạ lỗi với Kekexili bằng những hình ảnh đầy đủ và sống động hơn thay lời chào vội vàng tối nay:

Hành trình càng thú vị thì thời gian như càng trôi nhanh hơn! Khi bóng tối đã buông, tôi cảm tưởng con tàu rất đơn độc, phóng băng băng một mình qua thảo nguyên lúc này đã rơi vào tĩnh mịch. Nhìn đồng hồ tôi giật mình khi thấy đã sang ngày mới, đây là lần duy nhất trong 11 ngày xuôi ngược mà tôi thức khuya đến thế. Một ngày đi qua, tôi đã ở trong địa phận Thanh Hải, và phía xa mặt trời cao nguyên đang lên dần với sắc đỏ dịu mắt khác với cái chói chang thường gặp ở Tây Tạng. Tôi không nhớ lần cuối tôi được nhìn thẳng vào mặt trời như thế này là dịp nào:

Ra đến Tây Ninh, Thanh Hải, tôi tưởng rằng những gì ấn tượng nhất đã qua và ngày cuối là lúc nghỉ ngơi thư giãn nhưng tôi đã nhầm! Một vùng đất tiếp giáp với Tân Cương, Tây Tạng, Cam Túc, Tứ Xuyên; là mái nhà chung của người Tạng, Hán, Hồi, Mông Cổ; là quê hương của những con sông lớn tầm thế giới như Hoàng Hà, Trường Giang, Mekong; cũng là nơi hơn 650 năm trước sinh ra tổ sư Hoàng Mạo Giáo và sau đó gần 600 năm lại đản sinh vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 Tenzin Gyatso. Nơi đây kỳ lạ và thâm nghiêm vượt xa tầm với của bất cứ ai!

Điểm đầu chúng tôi ghé thăm là hồ Thanh Hải rộng mênh mông, xếp hạng là hồ nước mặn lớn nhất trên đất liền của Trung Hoa. Tôi dám cược rằng sớm thôi người Tạng cũng sẽ mất tiền để vào khu vực này vì quanh hồ người ta đang hối hả xây dựng khu resort mang phong cách Tạng! chắc sẽ là khu resort đầu tiên trên thế giới mang phong cách này cũng nên! Điểm dừng thứ hai là tu viện Tháp Nhĩ nằm ở vùng Hoàng Trung, ngôi đạo tràng lớn nhất và quan trọng nhất của phái Cách Lỗ ở Thanh Hải và được mệnh danh là tiểu Potala của Tây Tạng.

Bóng cũ dáng xưa có phần mai một, tu viện Taer nay đã mấy trăm năm tuổi. Nền cũ nơi mẹ Tông Khách Ba dựng stupa cho Ngài gửi gắm vào đây bao nhiêu tình mẫu tử giờ được tôn tạo lớn hơn, đẹp hơn; câu chuyện xung quanh tuổi thơ và sự đản sinh khác thường của Ngài cũng được thêu dệt bóng bẩy hơn. Niềm tin tôn giáo vừa khiến tâm hồn người ta thảnh thơi hướng thiện nhưng cũng là cách sinh lợi cho nhiều người; âu là thuận thời thế thế thời phải thế.

Taer có đến 4 học viện với nội dung học thuật rộng lớn nhưng có vẻ việc Biện kinh tranh luận không được đề cao như trong Lhasa. Tăng sĩ trẻ có, già có, nhìn vừa gần gũi với đời, vừa xa rời lạc lõng. Nếu đem thước đo tiêu chuẩn của giới luật ngày xưa mà xét thì chắc là ngày nay chắc đã xé rào nhiều. Đúng là sự đời vần vũ như mây gió, đổi thời gian đổi cả không gian

Chỉ ở được Thanh Hải 1 ngày tôi đã phải nói lời chia tay và cũng là lúc tạm biệt Tây Tạng, mảnh đất rộng lớn linh thiêng. Thiên Lý Nhãn nhìn xa muôn dặm, liệu có thấy hết những núi cao vực sâu chốn này? Thuận Phong Nhĩ nghe ngoài nghìn trượng, liệu có rõ câu chú ngân nga trong nắng trong mưa và trong tim mỗi người dân Tạng? Gió mây sẽ lại đi về trên nóc nhà thế giới như tự ngàn năm nay vẫn chẳng đổi thay, sẽ tiếp tục thổi tung bay triệu triệu lá cờ ngũ sắc in kinh Phật giăng khắp cao nguyên. Trong lòng tôi tràn đầy xúc động và hạnh phúc bởi cũng có ngày tôi bắt kịp chính mình trong giấc mơ khi trước, bắt kịp mây gió để được một lần trong đời đặt chân đến nơi đây.

3. Ngày về

Tôi rời cao nguyên Thanh-Tạng trong đêm, sáng mai tôi sẽ trở lại với cuộc sống thường nhật ồn ào bận rộn. Sau này có dịp trở lại không biết cảm giác của tôi sẽ ra sao? Mừng vì lại được rong ruổi trên đường thiên lý thăm viếng cố nhân? Lo vì khi đó sức khoẻ và nhiệt tâm liệu còn mạnh mẽ? Buồn vì thời gian tuy trôi nhanh nhưng chưa bằng những biến thiên đa cực cuồn cuộn trong lòng Tuyết Quốc? hay tôi sẽ sợ vì không dám đối mặt với một Tây Tạng quá mới mẻ? Tôi vừa thu được và vừa đánh mất mười một ngày! Có hề gì đâu? Thời gian và mảnh đất này thật là hào phóng. Tây Tạng của ngày hôm qua, hôm nay, và mai sau sẽ luôn hào phóng như thế, dang tay chào đón những ai muốn đến đây để chiêm bái sự hùng vĩ của thiên nhiên hoà quyện với cái đẹp tâm linh của nền Phật giáo Đại thừa Mật tông thâm hậu, dẫu biết rằng vạn vật trên đời không ra khỏi vòng sinh-diệt-tái sinh. Với cuộc đời này, với sự hào phóng ấy, phải sống nhanh lên, có ích hơn, và không chờ gì cả. Có lẽ ngày xưa chính là các Ngài sống thế!

Khi tôi chia sẻ câu chuyện của mình về Tuyết Quốc, người trẻ thì háo hức, người già thì trầm ngâm. Có người hỏi vì sao tôi có nhiều đam mê với mảnh đất Tây Tạng và văn hoá nơi đây đến thế? Tôi đồ rằng kẻ ngoại đạo như tôi giống tấm vải trắng dễ ăn thuốc nhuộm, hiểu biết hạn hẹp của tôi giống cốc nước vơi rất dễ đong đầy; nên khi vén mây bước vào thế giới siêu thực này, tôi đã được thoả lòng mong đợi ^^

Giữa bầu trời lịch sử, ấy muôn triệu ánh sao
Trong dân gian vạn thưở, ấy muôn triệu đoá hoa!

Hôm tôi ở Singapore trời cũng nắng, nhưng là cái nắng “điều hoà”, một thứ nắng xoàng.

Câu chuyện tôi kể các bạn nghe đến đây là hết.