Trên cao gió bạt tiếng eo sèo

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff | Posted on 11-04-2010

1

Nằm trong tuyển tập mới nhất “Hướng nào Hà Nội cũng sông” của nhà văn Hồ Anh Thái, Trên cao gió bạt tiếng eo sèo có thể xem là 1 bài viết nhẹ nhàng, thâm thuý với cái nhìn chân thực của ông về những điều mắt thấy tai nghe trong cuộc sống thường nhật, từ việc cáp treo đi Yên Tử cho đến việc xây dựng con đường gốm sứ sông Hồng; tất cả toát lên những nhận định khách quan đầy gợi mở và không kém phần thẳng thắn khi đánh giá những điều được và chưa được của người Việt Nam. Xin nhường lời cho bạn đọc thưởng ngoạn và phê bình

=====

Trên cao gió bạt tiếng eo sèo

Ngày tôi lên núi Yên Tử lần đầu chưa có cáp treo. Phải trèo. Chín giờ sáng bắt đầu ở chân núi, trèo lên đến Hoa Yên đã hơn một giờ chiều. Đến đấy đã thấm mệt. Tất cả quyết định sẽ nghỉ đêm tại Hoa Yên, sáng mai mới leo tiếp lên chùa Đồng.

Nghe nói đoạn trên này ngắn hơn nhưng dốc hơn đoạn đã qua bên dưới. Nhưng rồi đến bốn giờ chiều, anh em lại quyết định leo tiếp lên chùa Bảo Sái. Đã hồi sức. Vả lại cũng muốn rút ngắn bớt đoạn đường sẽ phải leo tiếp sáng mai. Đoạn từ Hoa Yên lên Bảo Sái quả là có dốc hơn, gian nan hơn đoạn bên dưới. Lên đến chùa Bảo Sái thì núi rừng đã tối sầm không còn nhìn thấy gì nữa. Chùa chật ních người đến ngủ trọ. Chúng tôi may mắn còn có chỗ, được xếp vào trong căn bếp của nhà chùa. Đêm ấy, cả toán nằm thẳng cẳng như xếp cá bên cạnh mấy bà già hành hương, tất cả khoảng hơn chục người, trong căn bếp ám đen bồ hóng.

Sáng hôm sau, tiếp tục hành trình leo núi. Quả thật là cao. Quả thật là dốc. Quả thật là thở phì phò và không thể đeo khoác mang xách gì được nữa. Tất cả trút hết sang người gánh thuê. Có những đoạn gần như dốc đứng, mắt người leo dưới chạm gót chân người trèo bên trên. Bám vào đá mà leo. Bám vào rễ cây mà leo. Xuống thì có lúc phải nằm bò ra, bám vào rễ cây mà thả dần người xuống. Trước đấy tôi đã nhiều lần đi chùa Hương. Không so sánh được. Có lẽ chỉ bằng một phần mười Yên Tử. Đoạn đường núi từ chùa Thiên Trù lên động Hương Tích, người ta đi dần dà khoảng bốn mươi lăm phút, thời ấy tôi đi vùn vụt chỉ ba mươi phút. Còn lên Yên Tử thì phải cắt ra làm hai ngày. Có người chỉ leo một ngày, lên đến chùa Đồng buổi tối cùng ngày, nhưng mà phải dồn sức và kiệt sức. Có người bị tim mạch, không leo tiếp được, phải dừng lại lưng chừng. Có người lên được đến đỉnh, nhưng khi xuống phải thuê người võng. Hai người địa phương gánh cái võng đã được bó chặt, trèo xuống. Những chỗ dốc đứng, cái võng trông như tử thi bó chiếu lủng lẳng chiều thẳng đứng bên bờ vực. Hàng năm vẫn có người trượt chân rơi xuống vực.

Thế mà vẫn hân hoan đi. Tươi cười đi. Người trên xuống động viên người dưới lên: Sắp đến nơi rồi. Những bà già lưng còng, phải trên dưới tám mươi tuổi, chống gậy leo như không, gặp nhau chào A Di Đà Phật. Sức mạnh của tâm linh.

Thanh niên thì thở như kéo bễ, bò lê bò càng. Vẫn đi. Nhìn lại trên người mình, không còn mang vác một cái gì. Nhìn sang người gánh thuê, tất cả tư trang của mình đã chạy sang bên ấy. Túi xách, ba lô… tất tật. Mình đi giày thể thao bó chắc vào chân. Chị gánh thuê chỉ đi dép lê. Quãng đường mình phải chia làm hai ngày để leo, có khi chị ta chỉ leo từ sáng đến trưa. Nếu trên đỉnh không có ai thuê gánh xuống thì tất bật trở ngay xuống chân núi để làm chuyến nữa. Một người buột miệng: Từ giờ đến chết không quay lại Yên Tử nữa, nếu như không có cáp treo. Chị gánh thuê xuýt xoa: Có cáp treo thì chúng em chết, một năm chúng em chỉ nhờ vào mấy tháng gánh thuê này thôi.

Chính trên đỉnh núi Yên Tử hôm ấy, tôi nhớ đến cái cáp treo lên xuống núi Linh Thứu Gridakuta ở Ấn Độ, nơi còn in dấu chân Phật. Đi thăm suốt ngày thành Vương Xá Rajgir, đến chân núi Linh Thứu thì cũng đã khá mệt. Sáng mắt lên khi nhìn thấy hệ thống cáp treo đưa khách lên thiền viện Nhật Bản trên một sườn núi. Ai trèo núi thì cứ trèo. Ai đi cáp treo thì cứ đi. Được lựa chọn là một đời sống dân chủ. Loại cáp treo ở Linh Thứu Sơn là chair lift, tức là mỗi người một cái ghế, không có lớp vỏ bọc xung quanh, cũng không có mái che. Cứ thế du khách trôi trên những mỏm núi, những ngọn cây, trần ra giữa nắng gió. Chỉ có một thanh sắt chắn ngang trước bụng để khách không tuột ra khỏi ghế. Cứ thế mà lên đến thiền viện Nhật Bản, rồi lên đến đỉnh núi còn dấu tích Phật ngồi thiền. Đấy là nơi Người nhìn thấy vua Bimbisara bị con trai tiếm quyền, bắt giam trong một hang núi phía bên kia. Đấy là nơi Devadatta sai một người lính lên ám sát Phật. Anh lính được cảm hóa, việc ác không thành. Sau đó Devadatta còn cho người lăn một tảng đá to xuống nơi Phật ngồi đây, nơi hệ thống cáp treo bây giờ đang đưa du khách lên.

Hôm anh bạn buột một câu trên đỉnh núi Yên Tử về chuyện cáp treo, ai cũng nghĩ mơ tưởng hão huyền vậy thôi. Còn lâu. Thế mà chỉ ít năm sau, báo chí đưa tin về dự án xây dựng hệ thống cáp treo Yên Tử. Thôi thì bao nhiêu lời bàn vào bàn ra. Bao nhiêu tiếng kêu phản đối của nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ, nhà khoa học. Người ta còn viện đến yếu tố tâm linh. Đến với tâm linh là phải đổ mồ hôi nước mắt, là phải mỏi gối chồn chân mới bày tỏ được lòng thành kính và niềm tin. Người ta còn viện đến khả năng báng bổ đất Phật khi cho khách ngồi trên cáp treo mà bay trên đầu trên cổ Phật tích và người hành hương. Rồi lý do làm hỏng cảnh thiên nhiên, làm hỏng môi trường, làm mất mỹ quan…

Sao vậy nhỉ? Những tưởng giới văn nghệ sĩ, giới khoa học phải xử sự ngược lại. Họ đúng ra phải là những người háo hức cái mới, làm ra cái mới, và hân hoan đón chào cái mới. Không mới sao có sáng tạo, có phát minh? Không mới sao có sinh sắc cho đời sống, cho nghệ thuật, cho khoa học? Giá mà có một phản ứng tưng bừng phấn khởi với cáp treo Yên Tử, chùa Hương, Bà Nà, Nha Trang, Đà Lạt… Giá mà có một không khí tưng bừng reo vui với những công trình mới, phát minh mới, tác phẩm mới, sản phẩm mới… Động viên khích lệ nhau làm cái tốt cái hay cái đẹp cái mới. Người sáng tạo thế mà đơn độc lắm, họ rất cần sự cổ vũ, động viên. Người sáng tạo thế mà nhạy cảm lắm, họ rất cần được tránh cho những tổn thương.

Thì cứ coi những tiếng la ó kia là phản biện. Nhưng phản biện là để thận trọng hơn, lật qua lật lại vấn đề nhiều lần hơn, xem xét và đánh giá kỹ hơn, làm cho công trình hoàn chỉnh hơn. Phản biện đâu phải là nhằm mục đích xóa bỏ. Hoàn toàn. Không phải là chữa bệnh mà rạch thêm một nhát cho chết hẳn, chết đứ đừ. Không phải góp ý mà là rủa xả mạt sát. Phê bình cuốn tự truyện của một nghệ sĩ theo cách phát động quần chúng đấu tố, không phân biệt được rằng phê bình tự truyện (nhân vật trung tâm là một người có thật) phải khác với phê bình một tác phẩm hư cấu (với nhân vật hư cấu). Phê bình con đường gốm sứ bên sông Hồng, cũng đi đến mạt sát rằng người ta “đang bôi bẩn những bức tường”.

Vui nhỉ, khi tháp Eiffel vừa mới dựng lên ở thành Paris, cũng bao nhiêu tiếng gào thét phản đối “con quái vật bằng sắt” xấu xí.

Tôi thì lại thấy cuốn tự truyện kia thật đúng là tự truyện. Bởi lẽ hơn nửa thế kỷ qua ở ta hầu như không có tự truyện hoặc hồi ký đúng nghĩa. Hầu hết đều là những chiếc gương nịnh mặt, soi vào đấy, các nhân vật đều mịn màng, đẹp đẽ, không tì vết. Cuốn sách kia trở thành một tác phẩm hiếm hoi vì nó chân thật, từ một nhân vật mà nhìn thấy được thời đại, lại được chuyển tải bằng văn chương đúng nghĩa.

Tôi nhớ con đường gốm sứ ở thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Nơi trước kia có một con suối bùn rác, người ta phủ bê tông lên trên, làm một con đường, rồi xây một cái cầu vượt phía trên con đường ấy. Đấy là cái giá của sự phát triển đô thị thời kỳ đầu. Mấy chục năm sau, khi đã phát triển, người ta lại quyết định phá cái cầu vượt chắn mất tầm nhìn và thiếu mỹ quan, bóc con đường bê tông lên, khơi lại dòng suối. Như một con kênh. Nước chảy róc rách, hai bên kè bằng những tảng đá, trồng cỏ và lau sậy. Nó trở thành con đường đi bộ đẹp và tự nhiên. Hai bên suối là con đường gốm sứ, mới chỉ gần 200 mét. Bức tranh đức vua Jeongio viếng mồ phụ mẫu. 1700 nhân vật và 800 con ngựa. Một lễ rước tưng bừng, những nghi thức hoàng cung, những tập tục bình dân, trang phục của một thời đại được tái hiện. Đi hết bức tranh, dọc theo dòng suối mà đi tiếp, ta sẽ gặp những nghệ sĩ đường phố. Một cây ghi ta, một dàn trống, đôi ba nhạc cụ dân tộc, một người hoặc nhiều người, họ hát lên những bài ca của mình.

Con đường gốm sứ của ta chưa sánh được. Nhưng mà mấy chục cây số ven sông Hồng, thay cho những bức tường xám loang lổ, giờ là những hình ảnh vui mắt. Không cao siêu gì, thậm chí còn những hình ảnh đơn giản, thô sơ, những biểu trưng lồ lộ của nhà tài trợ. Phản biện là đúng, cần lắng nghe phản biện để điều chỉnh, sửa chữa. Nhưng phản biện hung hãn và cay nghiệt như chỉ nhằm mục đích hủy diệt thì có còn là phản biện? Những lúc ấy, lại cứ thầm nhủ trong lòng, như là đang hô to lên động viên những người thực hiện: Chớ dừng tay, chớ ngừng lại, tiếp đi, làm tiếp đi.

Nhìn ra rõ ràng trong những người phản đối, có cả những họa sĩ. Xin hãy phủ định tác phẩm này bằng một tác phẩm khác. Phân tích, bình luận, phê phán, chỉ bằng lời thôi thì dễ dàng quá. Sao nhỉ, sao mấy vị chê bai có chuyên môn ấy không tự nguyện đến nhập cuộc, tham gia vào, mỗi vị nhận lấy mấy mét tường, đây là cơ hội để bày tỏ khả năng sáng tạo và trách nhiệm công dân của họa sĩ? Và bắt tay vào làm cũng là cách phủ định những cái mà mình cho là chưa hay. Chắc là chính quyền và dân chúng sẽ nhìn các vị một cách khác.

Nhưng thực tế đã chứng tỏ người làm việc có nhiều, và người không làm việc nhiều hơn. Ngồi sẵn đâu đấy trong những công sở, những xa lông, những tiệm ăn, quán cà phê, bãi bia, thậm chí giữa đông đúc chợ người. Ai đi qua là bình phẩm. Ai làm ra một cái gì là chê bai. Một tinh thần nhàn rỗi không chịu làm việc. Một tinh thần tự ti ngược, ngược tức là không làm nổi, nhưng lại ra vẻ không có gì đáng làm. Một tinh thần ngoại đạo nhưng tự cho rằng mình có thể góp ý về mọi lĩnh vực. Một tinh thần đồng nghiệp, khi không làm được nữa thì chê những người đang làm. Một thực tế khá phổ biến: trong một cơ quan, ai cũng thao thao những ý tưởng hay ho, cứ như nếu mình thực hiện thì mọi thứ đều đỉnh. Nói nghe thì hay. Nhưng vấn đề là chỉ thiếu người làm. Bây giờ tìm cho ra người thực hiện mới khó. Tìm người nói hay thì không khó.

Vậy thì đứng lên nào, động chân động tay lên nào, hò dô ta. Ta xây nhà làm đường, xây cáp treo, tàu điện ngầm. Ta phát minh sáng chế. Ta làm kinh tế, làm nghệ thuật, làm văn chương. Thêm một cái mới là thêm một cái quý. Vừa phải thôi, khiêm nhường thôi thì cũng quý. Ta phê bình phản biện để cho nó mới hơn, tốt hơn, không phải để tiêu hủy, để đập bỏ, để chắn ngang đường.

Bây giờ Yên Tử đã có cáp treo. Đoạn đường từ chân núi lên lưng chừng Hoa Yên leo bộ mất ba bốn tiếng đồng hồ, giờ đây đi cáp treo chỉ mười lăm phút. Người già cả có cơ hội. Người bệnh khớp bệnh tim có cơ hội. Người tàn tật thiệt thòi có cơ hội. Ở những xứ phát triển, nếu xây cao ốc mà không xây đường dành riêng cho người ngồi xe lăn thì sẽ bị phạt. Từ Hoa Yên, sắp tới cũng sẽ có cáp treo lên đến tận đỉnh. Loại chair car hay cable car, ngồi trong cái lồng kính bao bọc, không ngại mưa gió. Cái cáp treo lên đất Phật là cơ hội cho mọi người.

Tôi thì vẫn trèo chín trăm mét còn lại lên đến chùa Đồng. Đi qua rừng trúc ướt đẫm sương, mù mịt sương. Gió lộng bạt cả tiếng người. Sương và mây đều bay. Không khí nghìn năm còn nguyên đấy. Không khí tâm linh còn nguyên đấy.

=====

Thơ và Nhạc Trung Hoa trong phim (P8)

Posted by YILKA | Posted in Entertainment, Movies, Reading Stuff | Posted on 30-01-2010

3

Cách đây 15 năm có một bộ phim tâm lý hành động Đài Loan ra mắt khán giả truyền hình Việt Nam và đã gặt hái được thành công vang dội, để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người xem, những cái tên Như Ý, Đoan Khang, Vương Thế Sương từ đó trở thành tâm điểm ái mộ của màn bạc. Chỉ cần nhắc đến thế thôi chắc bạn đọc cũng đã nhận ra bộ phim được đề cập trong bài viết lần này là phim gì

Mạt Đại Hoàng Tôn (1995)

Đóng máy năm 1992 và công chiếu ở Việt Nam năm 1995, Mạt Đại Hoàng Tôn (The Imperial Wanderers) tập trung khai thác bi kịch cuộc sống, những ngang trái trong tình yêu, những khó khăn tranh đấu, những dối lừa man trá của mỗi cá nhân giữa bối cảnh sóng gió chung của dân tộc. Phim đặt vào thời kỳ Thanh mạt khi lịch sử đang sang trang mới, cách mạng Tân Hợi nổ ra làm triều đình phong kiến cuối cùng của Trung Hoa lung lay đến tận gốc rễ. Đoan KhangNhư Ý là con của hai gia đình đại quý tộc gốc Mãn Châu, đem lòng yêu thương nhau nhưng mối tình của họ bị gia đình Đoan Khang phản đối kịch liệt. Trong buổi chạng vạng của thời cuộc, gia đình của Như Ý và Đoan Khang đều lụi bại, mất hết quyền lực và tài sản …

Trong cảnh hoạn nạn, Như Ý được Thế Xương giúp đỡ, sau đó cô quyết định lấy Thế Xương để trả ơn vì tưởng Đoan Khang đã chết. Ít lâu sau, tình cờ hai người gặp lại nhau nhưng giờ đây Như Ý đã là vợ Thế Xương. Biết vợ mình còn nặng lòng với Đoan Khang, Thế Xương ngầm tìm mọi cách hãm hại tình địch. Như Ý cùng Đoan Khang bỏ trốn nhưng không thành, Như Ý bị thương nặng vì muốn tránh liên lụy nên lén bỏ đi …

Sau nhiều nỗ lực tìm kiếm không thành công, mọi người đều cho rằng Như Ý đã chết. Sự hận thù giữa Thế Xương và Đoan Khang vì thế ngày càng sâu đậm. Thời gian qua đi mấy năm, Đoan Khang cảm nhận được tấm lòng của người bạn tâm giao là Tiểu Bảo nên đồng ý lập gia đình với cô. Còn Đoan Mẫn (em gái Đoan Khang) tình cờ được Thế Xương giúp đỡ nên đem lòng yêu anh ta mà không hề biết mối thù của Xương với anh trai mình. Khi đám cưới đã gần kề thì họ bất ngờ gặp đệ nhất ca nữ Khúc Linh Lung trong một buổi xem hát – người có dung mạo giống hệt Như Ý. Kỷ niệm xưa tràn về, bi kịch cuộc sống và tình yêu của 5 con người đến lúc đó lại bùng nổ lên cao trào …

Bài hát cực hay mở đầu phim: Mạt đại hoàng tôn – Open

Clip:
YouTube Preview Image

Các diễn viên chính trong phim:
- Huỳnh Nhật Hoa vai Phú Sát Đoan Khang
- Châu Hải My vai Như Ý
- La Huệ Quyên vai Tiểu Bảo
- Tạ Tổ Vũ vai Trương Lỗi
- Từ Thiếu Cường vai Vương Thế Xương
- Dương Bảo Vỹ vai Đoan Mẫn

Khán giả chắc sẽ còn nhớ mãi một Đoan Khang điển trai hào hoa với tình yêu cháy bỏng dành cho Như Ý đẹp thùy mị đoan trang khuynh đảo màn bạc châu Á thập kỷ trước, một Thế Xương phản diện với cá tính mạnh mẽ đầy mưu mô thủ đoạn, một Tiểu Bảo giàu nghĩa khí sống hết lòng cho huynh đệ và người mình yêu, một Đoan Mẫn băn khoăn lạc lõng giữa lựa chọn gia đình và tình yêu với kẻ thù, một Đoan Phu Nhân vẫn còn đang bàng hoàng trước sự sa sút thế gia để sớm chiều hoài nhớ những phú quý của ngày hôm qua, một Trương Lỗi – thái giám của triều Thanh cuối cùng – không ngừng tranh đấu để tìm chỗ đứng của mình trong cái hỗn loạn của xã hội mới ngày thoát thai … Mạt Đại Hoàng Tôn làm cho người xem tấm tắc bởi diễn xuất rất đạt của từng nhân vật, sự nhuần nhuyễn của lời thoại, cái tỉ mỉ của mỗi cảnh quay, và tất nhiên là cả những giai điệu tuyệt hay trong phim ^^

Bài hát cuối phim: Mạt đại hoàng tôn – End

Clip:

YouTube Preview Image

Người đẹp “không tuổi” Châu Hải My năm nay đã ngoại tứ tuần mà nét xuân sắc của cô gần như không mấy thay đổi Cô còn được yêu mến với các vai diễn như Cửu Muội trong Dương Gia Tướng, Bát Muội trong Trở về thời chưa cưới, Đại Vũ trong Tứ hải tung hoành, Mẫu Dạ Xoa Tôn Nhị Nương trong Thủy Hử

Còn tài tử Huỳnh Nhật Hoa thì chắc đã rất quen thuộc với khán giả Việt Nam với những vai cổ trang như Quách Tĩnh trong Anh hùng xạ điêu, Hồ Nhất Đao trong Tuyết sơn phi hồ, Kiều Phong trong Thiên Long Bát Bộ … Riêng Từ Thiếu Cường thì dường như rất thành công với các vai phản diện trong Tân Sở Lưu Hương, Nhạc Phi truyền kỳ

————-

Phần 8 của chuyên đề Thơ và Nhạc Trung Hoa trong phim đến đây kết thúc, hẹn gặp lại bạn đọc trong phần 9 một ngày không xa

Huế – Đà Nẵng – Hội An (P2)

Posted by YILKA | Posted in Entertainment, Photos, Reading Stuff, Travel | Posted on 10-11-2009

3

Phần 2 – Những sắc màu Hội An

Rời Huế, đi xuống phía Nam, điểm dừng chân đầu tiên cho khách du lịch chắc chắn phải là Đà Nẵng và phố Hội.

IMG_4039

Là thành phố năng động và phát triển, khám phá Đà Nẵng khá dễ dàng kể cả cho du khách mới đến lần đầu. Chỉ cần 1 bản đồ, 1 xe máy là có thể chạy thẳng ra cửa biển; từ đó nếu rẽ trái đi vượt đèo là ngắm được Vịnh Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà còn rẽ phải đi sâu xuống qua khu resort Furama sẽ thấy Ngũ Hành Sơn thấp thoáng trong sương, thăm được làng nghề điêu khác đá và ngắm biển Non Nước. Vài tấm ảnh Đà Nẵng trên đường đi Hội An:

IMG_2681
IMG_2687
IMG_2690
IMG_3891
IMG_3900
IMG_3906
IMG_3927
IMG_3914IMG_3915
IMG_3916IMG_3917

Nằm cách Đà Nẵng hơn 25km về phía Nam, đô thị cổ Hội An khoác trên mình tấm áo thời gian đã vài trăm năm tuổi đánh dấu sự giao thoa của 3 nền văn hoá Nhật – Trung – Việt. Hội An sau 1 thập kỷ được công nhận là di sản văn hoá thế giới vẫn chưa bị vết chân du khách thập phương làm mất đi nét nho nhã cổ kính lâu đời. Xa khỏi những ồn ã phố phường, còi xe khói bụi, du khách đặt chân đến Hội An cảm nhận được sự hài hoà không-thời gian, thích thú trước nét đẹp của mỗi con đường, ngắm những công trình kiến trúc tuổi đời tính bằng thế kỷ, dừng chân vào mỗi nhà thờ cổ hay Hội quán để hiểu hơn văn hoá và cuộc sống của người Hội An xưa và nay.

Dưới đây là những trải nghiệm bằng hình ảnh của người viết bài sau hơn một lần đến Hội An, để ngỏ lời bình cho bạn đọc ghé thăm ^^

Ai đi phố Hội Chùa Cầu
Để thương để nhớ để sầu cho ai
Để sầu cho khách vãng lai
Để thương để nhớ cho ai chịu sầu …

IMG_2719
IMG_2722
IMG_2725
IMG_2727
IMG_2728
IMG_2730
IMG_2736
IMG_2743
IMG_2760IMG_2764
IMG_2748
IMG_2752
IMG_4030
IMG_2755
IMG_7170
IMG_4013
IMG_4014
IMG_4016
IMG_4635
IMG_4642
IMG_3999
IMG_3983
IMG_3978
IMG_3981
IMG_4042
IMG_2771
IMG_4041IMG_4045
IMG_4047
IMG_4725
IMG_4740
IMG_4746

Hội An còn có tên là Hoài Phố Người ta bảo đến đây để cảm nhận được cái hồn xưa cũ, để thở lại nhịp của Hải Phố khi còn tàu bè thương thuyền tấp nập, để ngắm sông Hội buổi nắng mưa, để hiểu hơn hương cao lầu một thưở. Riêng người viết bài thấy thêm một sinh khí mới thôi thúc mình đi và tìm hiểu nhiều hơn nữa; có lẽ đam mê du lịch bốn phương đã được thổi bùng lên nhờ Hội An từ đó ^.^

Gần 60 năm nhìn lại một vụ án

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff | Posted on 28-07-2009

4

Những điều có thể bạn chưa biết … bài học nhãn tiền 60 năm chưa nhạt, đọc mà thấy như chuyện hôm qua … thử cùng đem chuyện năm xưa giở lại bàn

Vụ án Trần Dụ Châu là vụ án tham nhũng nổi tiếng những năm 50 của thế kỷ trước. Vụ này đã được nhà báo Hồng Hà viết trong loạt bài phóng sự điều tra đăng 6 kỳ liền, từ ngày 20/9/1950, trên báo Cứu Quốc, cơ quan tuyên truyền, cổ động, tranh đấu của Trung ương Mặt trận Liên Việt và Tổng bộ Việt Minh, xuất bản hàng ngày. Đây là một bài học về kiên quyết chống tham nhũng trong bất cứ thời kỳ nào.

Báo Cứu Quốc số ra ngày 29 tháng 9 năm 1950 đăng những dòng sau: (Tư liệu: báo CAND)

Nhân vụ án Trần Dụ Châu

Trần Dụ Châu, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu can tội ăn cắp công quỹ làm nhiều điều bỉ ổi đã bị đưa ra trước Tòa án binh tối cao. Ngay ngày hôm sau, tên phản bội quyền lợi nhân dân ấy đã bị bắn để đền tội của y.

Trong tình thế kháng chiến và trong giai đoạn quyết liệt hiện nay, vụ án Trần Dụ Châu có một ý nghĩa lớn lao. Nó làm toàn thể nhân dân bằng lòng và thêm tin tưởng ở chính quyền và đoàn thể nhân dân. Nhân dân đã thấy rõ: Chính quyền và đoàn thể không bao giờ dung túng một cán bộ nào làm bậy, dù cán bộ cao cấp đến đâu đi nữa. Vụ án này còn làm vui lòng tất cả những cán bộ Quân nhu ngay thẳng, chí công vô tư, đã không để Trần Dụ Châu lôi cuốn.

Nó đã cho chính quyền và đoàn thể ta nhiều kinh nghiệm trong việc dùng cán bộ, giáo dục và kiểm soát cán bộ.

Có người e ngại: Chúng ta mở toang vụ án này, công khai vạch rõ nhưng tội lỗi nhơ bẩn của Trần Dụ Châu và bè lũ có thể làm một số dân chúng chê trách, hay kẻ địch bám vào đấy để nói xấu chính quyền, đoàn thể ta. Không! Chúng ta không sợ phê bình và tự phê bình những khuyết điểm của ta. Chúng ta khác bọn phản động và hơn hẳn chúng ở chỗ đó. Đấy là một sự khuyến khích nhân dân thẳng thắn, phê bình những sai lầm của cán bộ, của Chính quyền, đoàn thể vì họ đã hiểu chính quyền, đoàn thể ta là chính quyền, đoàn thể của họ và họ nhất định không tha thứ những kẻ nào đi ngược quyền lợi của họ.

Cái chết nhục nhã của Trần Dụ Châu còn là một lời cảnh cáo những kẻ lén lút đang tính chuyện đục khoét công quỹ của Chính phủ, trục lợi của nhân dân. Tất cả những bọn ấy hãy coi chừng dư luận sắc bén của quần chúng và luật pháp nghiêm khắc của Nhà nước nhân dân!

Chúng ta phải thẳng tay vạch mặt và trừng trị những bọn ấy, những kẻ tham ô, hoang phí, những kẻ mưu sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt người khác, để tiến tới xây dựng một nền tảng chính quyền nhân dân thật vững vàng.

Đây không phải là việc riêng của Chính phủ, của đoàn thể mà đấy là bổn phận của tầng lớp đông đảo quần chúng nhân dân chúng ta”.

***

Xin trích bài viết của nhà báo Hồng Hà trên CAND năm 2005 nhân dịp 55 năm nhìn lại vụ án tham nhũng năm xưa:

Từ một viên thư ký toà sứ Pháp

Mùa hè năm 1950, từ mặt trận đồng bằng sông Hồng, tôi trở về toà soạn báo Cứu Quốc. Cơ quan báo vừa dọn về xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc di chuyển mới này báo hiệu ta hoặc địch sắp có hoạt động quân sự lớn. Anh Xuân Thủy, Chủ nhiệm báo Cứu Quốc, giao ngay cho tôi đi lấy tài liệu viết về một vụ tham ô lớn. Đấy là vụ án Trần Dụ Châu, Đại tá, nguyên Giám đốc Nha Quân Nhu, đang ở giai đoạn điều tra, lấy lời khai.

Lúc này, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra nghị quyết chấn chỉnh tổ chức, kiện toàn bộ máy các cơ quan Bộ Quốc phòng – Tổng Tư lệnh. Sau đó, ngày 11/ 7/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh lập ba cơ quan : Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp. Các Nha trước đây đảm nhiệm việc sản xuất quân trang, quân dụng nay sáp nhập vào các Cục. Nha Quân Nhu sáp nhập vào Cục Quân Nhu trực thuộc Tổng cục Cung cấp, do đồng chí Trần Đăng Ninh, Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng, Trưởng ban Kiểm tra Trung ương, làm Chủ nhiệm Tổng cục.

Trần Dụ Châu ngồi khai trước các cơ quan pháp luật. Sinh năm 1906 tại một tỉnh miền Trung, Châu bước vào đời bằng đi làm thư ký toà sứ Pháp. Thấy Châu vừa đi làm, vừa viết báo “Thanh – Nghệ – Tĩnh”, e lộ chuyện công sở, toà sứ cho Châu thôi việc. Châu chuyển sang làm nhân viên quận Hoả xa Bắc Trung Kỳ.

Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương tháng 3/1945, Châu được cử làm Trưởng phòng Kế toán Hoả xa Bắc Trung Kỳ. Nhờ quen biết người Nhật Bản, Châu lấy được một kho vải ở huyện Đức Phong, bán đi có tiền tậu một biệt thự ở Đà Lạt.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bùng nổ, Châu hiến cho Nhà nước một phần tài sản của mình, rồi hoạt động trong Uỷ ban Công sở Nha Hoả xa Việt Nam và Hội Công nhân Cứu quốc Hoả xa. Ngày toàn quốc kháng chiến, Châu ra Bắc, được giao việc chạy một kho hàng lớn hơn ngàn tấn gạo, muối ở Vân Đình, Hà Đông, đưa lên Việt Bắc cho bộ đội.

Là người tháo vát, năng động, có đầu óc kinh doanh, Châu được vào làm ở Cục Quân Nhu. Sau một thời gian làm tốt việc cung cấp lương thực, trang bị cho bộ đội, Châu được phong tặng quân hàm Đại tá, làm giám đốc Nha Quân Nhu. Lúc đó, Cục Quân Nhu chỉ phụ trách việc quản lý, quản trị, còn Nha Quân Nhu mới có nhiệm vụ trực tiếp sản xuất quân trang, quân dụng. Có địa vị cao, quyền hành rộng, nắm trong tay hàng trăm triệu đồng, cơ chế kiểm tra, kiểm soát lại lỏng lẻo, không biết tự kiềm chế, Châu đi dần vào con đường sa ngã.

Châu lấy cắp của công quỹ một số tiền lớn : 57.959 đồng Việt Nam, 149 đôla Mỹ, các tài sản khác trị giá 143.900 đồng Việt Nam. Giá gạo ở Thái Nguyên – Bắc Cạn năm 1950 là 50 đồng/một kg, còn chiến sĩ ta mỗi ngày chỉ được cấp vài lạng gạo và hơn 10 đồng tiền thức ăn. Ngoài ra, Châu còn nhận hối lộ khá nhiều tiền, chuyên quyền, độc đoán, sống sa đoạ, đồi truỵ. Uỷ ban Tiếp liệu Thu – Đông 49, các kho số 1, 4, 10 thường xuyên nộp cho Châu tiền tiêu, rượu, đồ hộp, hải sản khô, thuốc lá, quần áo, chăn len… Tuyển người, thải người theo sở thích cá nhân, vung tiền bao gái; có lần dùng ôtô công đưa gái đi chơi ở Bắc Cạn. Châu dan díu với một nữ nhân viên xinh đẹp, bổ nhiệm làm “bí thư văn phòng” của Nha, làm việc cùng buồng, ăn ở cùng nhà với Châu. Các cán bộ điều tra có trong tay cuốn nhật ký của nữ “bí thư văn phòng” cùng gần 100 kiểu ảnh lãng mạn chụp với Châu. Giữa lúc nữ bí thư đi dự lớp huấn luyện thì Châu đưa từ Phú Thọ về cơ quan một cô gái giới thiệu là em nuôi, suốt ngày ở trong buồng riêng của Châu. Nữ bí thư từ lớp học về bất chợt bắt gặp và đã xảy ra một cuộc đánh ghen ầm ĩ.

Tiếng tăm ăn chơi của Châu nổi như cồn ở Hanh Cù, Phú Thọ, một thị trấn sầm uất, tối đến cả đường phố dài rực sáng ánh đèn măng sông, với nhiều hiệu ăn sang trọng và cửa hàng đầy ắp hàng tiêu dùng nước ngoài. Mỗi lần về công tác ở Liên khu 10, gồm các tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang…, Châu đều đưa bạn bè đến chè chén ở đây, nhất là ở nhà hàng Ba Đình. Cũng tại thị trấn này, Châu tổ chức đám cưới cho Bùi Minh Trân, Trưởng ban Mậu dịch của Quân giới liên khu Việt Bắc, tiêu tốn hàng vạn đồng. Báo Cứu Quốc đã có bài phê bình kịch liệt đám cưới này mà nhân dân Phú Thọ thì nói rằng “đã làm váng đục cả một khúc sông Thao”. Chính từ thị trấn Hanh Cù, đã bắt đầu có những bức thư tố cáo Trần Dụ Châu gửi đến các cơ quan có liên quan.

Thầy nào trò nấy

Tay chân đắc lực nhất của Châu là Lê Sỹ Cửu, sinh tại một tỉnh miền Trung, kém Châu 10 tuổi. Cửu mồ côi cha mẹ từ năm 8 tuổi. Năm 12 tuổi, hắn ra Móng Cái, đi làm cho một nhà buôn Hoa Kiều; lớn lên tham gia buôn thuốc phiện lậu trên đường Móng Cái – Hải Phòng. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Cửu trở về miền Trung, vào làm công an, nhưng được ít lâu thì bị đuổi, liền quay ra Bắc. Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Cửu gặp và được Châu giới thiệu vào làm ở Ban Vận tải quân giới. Một thời gian sau, lại bị đuổi việc, Cửu lần mò lên Cao Bằng kiếm ăn. Tại đây, tháng 8/1947, gặp lại Châu, Cửu được Châu đưa vào Cục Quân Nhu, làm nhân viên tiếp liệu ở Cao Bằng. Vừa xa Nhà, vừa được Châu che chở, Cửu lộng hành làm bậy, lấy cắp tiền công, ăn tiêu bừa bãi, thường xuyên lui tới các nhà hàng, tiệm hút vùng Cao Bằng.

Nghe được nhiều tiếng xấu về Cửu, Châu vội rút Cửu về Nha, lập ra một tổ chức mới gọi là “Ban Thế phẩm Đay” giao cho Cửu làm trưởng ban. Châu tuyên truyền ầm ĩ rằng, Ban này lo các đồ mặc mùa đông cho bộ đội, từ nay các chiến sĩ ta không phải lo đến cái rét ở rừng núi nữa. Nhưng đây chỉ là một mánh khoé tham ô của Châu : lấy ba phần tư số tiền cấp trên phát cho Ban Thế phẩm Đay, Châu giao cho Cửu đi buôn lậu.

Lê Sĩ Cửu khai trước Ban Kiểm tra của Bộ Quốc phòng : Mỗi khi đi mua vải về cho Ban Thế phẩm, Cửu cho tăng giá thêm từ 20 đến 25 đồng mỗi tấm để lấy tiền đút túi. Trong một chuyến mua vải mộc và vải diềm bâu, Cửu lấy được 50 vạn đồng. Khi xuất kho vải giao cho cơ sở nhuộm, Cửu chỉ tính số tấm, không tính số vuông; cho xẻ đôi những tấm vải dài để nhuộm, khi nhận về kho số vải đã nhuộm, dôi ra 1.225 tấm vải, bỏ túi riêng được 66 vạn đồng. Người bán vải giao hàng tận kho, không tính tiền vận chuyển, nhưng Cửu lại tính với Ban phải trả phí vận chuyển. Khi nhà thầu lĩnh hàng thì phải cung cấp đầy đủ khuy cúc, nhưng Cửu tính với Ban tiền khuy cúc riêng. Với hai thủ đoạn trên, Cửu cũng lấy được 4 vạn đồng.

Cửu cho khắc một con dấu giống dấu của Nha quân nhu để cấp cho một số người buôn lậu, mỗi lần được 2 vạn đồng. Cửu giàu lên nhanh chóng, ăn chơi sa đoạ, sắm được một chiếc thuyền đẹp để gia đình du ngoạn và tổ chức những cuộc dạ hội trên sông. Cửu hối lộ đều đặn theo từng vụ cho Châu, tổng cộng khoảng 40 vạn đồng và nhiều tài sản có giá trị.

Trong Nha, cán bộ nhân viên gọi Châu là “Châu Hổ”, sợ Châu như cọp. Một số cán bộ, đảng viên trong Nha không chịu để Châu lôi kéo, đã mạnh dạn phê bình Châu. Có người do nói thẳng đã bị Châu đẩy khỏi cơ quan. Những điều tiếng xấu về Châu ngày càng nhiều. Châu gọi đó là “những câu chuyện hàm hồ, soi mói vì ghen ghét”. Tối ngày 27/5/1950, Châu gọi một nhân viên tay sai đến nhà, cho uống rượu, ăn cơm. Rồi Châu đọc cho nhân viên đó viết một bức thư gửi Đại tướng Tổng Tư Lệnh, báo cáo rằng “trong Nha Quân Nhu có một tổ chức gây chia rẽ và phá hoại quân đội ta”.

Nghe tin Cửu bị bắt, Châu chạy đến Cục Quân pháp để “minh oan”, xin cho Cửu tự do. Châu còn báo cáo với Bộ Quốc phòng: “Tôi xin cam đoan nhân viên Lê Sĩ Cửu không ăn cắp một xu nhỏ”. Bộ bác đơn của Châu

Quân pháp nghiêm minh

Lê Sĩ Cửu tiếp tục khai với Ban Kiểm tra:

- Những tội lỗi của tôi kể trên một phần do đại tá Châu xúi dục. Sở dĩ tôi làm như vậy vì tôi yên trí rằng đã có đại tá Châu bênh vực, mọi việc không sợ gì cả!

Đến lượt Trần Dụ Châu cũng thú nhận trước Ban Kiểm tra:

- Tôi quả là người không liêm khiết.
Cán bộ kiểm tra hỏi Châu:
- Đã lấy của Lê Sĩ Cửu những gì ?
Châu trả lời:
- Tôi lấy nhiều lắm, không thể nhớ là bao nhiêu. Nhưng lần nào Cửu đến tôi thì cũng có ít nhiều tiền đưa tôi.

Ngày 5/9/1950, tại thị xã Thái Nguyên, Toà án binh tối cao mở phiên toà đặc biệt xử vụ Trần Dụ Châu. Còn lâu mới tới giờ khai mạc mà trong và ngoài toà đã chật ních người. Cửa vào phòng xử án có một bảng khẩu hiệu: “Nêu cao ánh sáng công lý trong quân đội”. Trong phòng xử, trên tường đối diện nhau có hai khẩu hiệu: “Quân pháp vô thân” và “Trừng trị để giáo huấn”. Đúng 8 giờ, đại diện Chính phủ, quân đội và Toà án binh tối cao tới, đi giữa hàng rào bộ đội bồng súng.

Thiếu tướng Chu Văn Tấn ngồi ghế chánh án giữa hai ông hội thẩm viên Phạm Học Hải, giám đốc Tư pháp Liên Khu Việt Bắc và Trần Tấn, Phó cục trưởng Cục Quân Nhu. Thiếu tướng Trần Tử Bình, đại diện Chính phủ, ngồi ghế Công cáo uỷ viên. Tới dự phiên toà còn có các ông: Nguyễn Khang, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc; Võ Dương, Liên Khu Hội trưởng Liên Việt Liên khu Việt Bắc; Đỗ Xuân Dung, giám đốc Công chính Liên khu Việt Bắc; bác sĩ Vũ Văn Cẩn, đại biểu quân đội, đại diện các đoàn thể nhân dân và các nhà báo.

Tiếng gọi các bị cáo vang trong phòng họp. Bị cáo Lê Sĩ Cửu vắng mặt vì ốm nặng. Thiếu tướng chánh án hỏi các bị cáo. Trần Dụ Châu bước ra trước vành móng ngựa, nói nhiều về những công lao và thành tích cách mạng của mình, cho rằng do nhân viên làm bậy là chính mà mình không kiểm soát được.

Thiếu tướng Công cáo uỷ viên, đại diện Chính phủ, đứng lên đọc bản cáo trạng:

“Thưa toà, thưa các vị,

Trong tình thế ta gấp rút chuẩn bị Tổng phản công, mọi người đang nai lưng buộc bụng tích cực phục vụ kháng chiến trước tiền tuyến, quân đội ta đang hy sinh để đánh trận căn bản mở màn cho chiến dịch mới, thì tôi thiết tưởng mà cũng là lời yêu cầu Toà dùng những luật hình sẵn có để xử Trần Dụ Châu và theo chỉ thị căn bản của vị Cha già dân tộc là cán bộ phải cần kiêm liêm chính. Việc phạm pháp của Trần Dụ Châu xảy ra trong không gian là Việt Bắc, nơi thai nghén nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đã làm vẩn đục thủ đô kháng chiến…

… Để đền nợ cho quân đội; để làm gương cho cán bộ và nhân dân; để cảnh tỉnh những kẻ đang miệt mài nghĩ những phương kế xoay tiền của Chính phủ; để xử tử vắng mặt những lũ bầy ra mưu nọ kế kia, lừa trên bịp dưới; để trừ hết loài mọt quỹ, tham ô dâm đãng; để làm bài học cho những ai đang trục lợi kháng chiến, đang cậy quyền, cậy thế để loè bịp nhân dân;

Bản án mà toà sắp tuyên bố đây phải là một bài học đạo đức cách mạng cho mọi người; nó sẽ làm cho lòng công phẫn của nhân dân được thoả mãn, làm cho nhân dân thêm tin tưởng, nỗ lực, hy sinh cho cuộc toàn thắng của nước nhà.

Vì vậy, tôi yêu cầu toà xử phạt:

1- Trần Dụ Châu: tử hình
2- Tịch thu ba phần tư tài sản
3- Tịch thu những tang vật hối lộ trái phép
4- Phạt tiền gấp đôi những tang vật hối lộ và biển thủ”.

Trần Dụ Châu tái mặt, cất giọng yếu ớt xin toà tha thứ. Thiếu tướng chánh án tuyên bố toà nghỉ để họp kín.

15 phút sau, toà trở ra tiếp tục họp. Thiếu tướng Trần Tử Bình đọc công lệnh của Đại tướng Tổng tư lệnh tước quân hàm đại tá của Trần Dụ Châu.

Thiếu tướng chánh án đứng lên tuyên án:

- Trần Dụ Châu can tội biển thủ công quỹ, nhận hối lộ, phá hoại công cuộc kháng chiến: tử hình; tịch thu ba phần tư tài sản.

- Lê Sĩ Cửu can tội biển thủ công quỹ, thông đồng với bọn buôn lậu, giả mạo giấy tờ; tử hình vắng mặt.

Hai chiến sĩ công an dẫn Châu rời nơi xử án trở về nhà giam. 6 giờ chiều hôm sau, Trần Dụ Châu được đưa ra trường bắn trước sự có mặt của đại diện Bộ Tư pháp, Nha Công an, Cục Quân nhu và một số cơ quan khác. Một cán bộ đọc to bức công điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh bác đơn xin giảm tội của Châu…

11 ngày sau, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ quân nhu tận tuỵ và anh dũng của chúng ta đã kịp thời đưa ra mặt trận hàng nghìn tấn lương thực, thực phẩm, quân trang… phục vụ tốt trận đánh tiêu diệt địch ở Đông Khê, mở đầu chiến dịch quy mô lớn và dài ngày giải phóng biên giới.

***

Báo nay nhiều gấp vạn báo xưa, nhưng những hồn “Tia Sáng”, “Sự Thật”, “Cứu Quốc” thì mai một lâu rồi, phải chăng vì giậc nội xâm khó nhận ra hơn kẻ thù ngoài cổng

Hồ Chủ Tịch nói trong sắc lệnh 233: “Tham ô, lãng phí, tệ quan liêu là kẻ thù của nhân dân, nó là kẻ thù khá nguy hiểm vì nó không mang gươm súng mà nó trong tổ chức của ta, làm hỏng công việc của ta …” – những cảnh báo hơn 60 năm trước vẫn mang tính thời sự nóng hổi cho đến hôm nay. Đọc, suy ngẫm, rồi để đấy chăng …

Bỗng nhiên có một ngày

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff | Posted on 24-07-2009

2

Không phải PGS Tô Hải Vân đâu (mặc dù cuốn đó của bác ý sắc sảo, độc đáo) mà là nhà văn Nguyễn Quang Lập với tạp văn Ký ức vụn đã truyền cảm hứng cho bài viết này ra đời. Cũng vài năm rồi, văn học Việt Nam dường như đi ngang, có sách đấy có độc giả đấy, nhưng không cao trào và thiếu sôi nổi, còn những cuốn sách được ưa thích đa phần lại là truyện dịch và tiểu thuyết nước ngoài. Điểm mặt người ta vẫn cảm nhận được sự cố gắng của Văn Mới trong việc tìm tòi tuyển chọn, của sự trở lại âm thầm nhưng quả quyết của Lê Đạt, Trần Dần – những cái tên gần như biệt tích sau buổi Nhân văn giai phẩm đầu năm 60, của sự bùng nổ thiếu đanh thép của dòng văn học mạng và các cây bút trẻ … tất cả vẫn ‘sống’ nhưng hơi thiếu ‘động’.

Colorful Pencils

Bỗng nhiên có một ngày, mà cũng phải 20 năm rồi còn gì, nhà văn Nguyễn Quang Lập mới ‘giấy hoá’ những ký ức của ông từ những ngày tấm bé làng Đông (phần Thương nhớ mười ba) đến những vụn vặt rất đời trong cuộc sống (phần Vui buồn một thưở), và đặc biệt là những mẩu chuyện về các nghệ sĩ bạn văn tên tuổi trong nghề (phần Người từng gặp, Những người bạn khó quên, và Bạn văn). Người ta bắt gặp những tên tuổi lão làng như Trần Dần, Hải Bằng, Bùi Giáng, Nguyễn Khải, Phạm Xuân Nguyên, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Đăng Khoa, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tạo, Hồng Ánh, Thanh Sơn, Bảo Ninh và nhiều nhiều nữa; mỗi người một vẻ, ai cũng là ‘nạn nhân’ của lăng kính hài hước, dí dỏm, đôi khi lại bỡn cợt, phóng túng của Nguyễn Quang Lập. Những “bộ mặt thật” như được vạch trần, đời hơn, đểu hơn, và cuốn hút hơn. Đi suốt tập sách, bạn đọc cảm nhận được hơn sức mạnh của ngòi bút, nhất là khi ngòi bút đó viết ngắn gọn, sắc sảo, không thừa thiếu, chỉ vừa vặn để người ta không bỏ sót phần nào. Ai đó đã nhận xét rằng Ký ức vụn bỗ bã quá, chửi bậy quá nhưng có đọc mới thấy thế mới là tạp văn, thế mới hợp với chất bi hài đầy rẫy trong cuộc sống này, và đặc biệt là trong làng văn. Những nho lâm ngoại sử như thế có thể nhắc đến Thi nhân Việt Nam, Chân dung và Đối thoại, Hậu Chân dung và Đối thoại, Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh … và giờ đã có thêm 1 tác phẩm nữa để đọc và thưởng thức.

nguoisach

Trong lúc mất mùa văn học như hiện nay, Ký ức vụn là 1 cuốn sách hay nên đọc, một miếng ngon giữa làng đã nêm vừa mắm muối, người đọc cứ thế mà xơi thôi Tuy không phải là “cứu tinh” duy nhất cho văn đàn, nhưng mong nó là tín hiệu sớm cho những tác phẩm khác của các tác giả khác sẽ tiếp nối ra đời. Cũng như chính Nguyễn Quang Lập đã kêu gọi bạn văn mạnh dạn đưa truyện lên blog để tiếp cận với độc giả nhanh hơn:

Đa số nhà văn bạn tôi rất ngại máy móc, kỹ thuật (e-mail, blog, mạng), thường bịa ra một lý thuyết nào đó để trốn tránh. Tôi cho là rất phí. Vì không cách gì hay hơn là anh ném tác phẩm ra một đám đông – toàn nickname, không biết mặt – người ta có thể mắng mình như không. Đám đông đó tôi nghĩ mới thật

Nhà văn Bảo Ninh nhân đọc Ký ức vụn đã nhận xét rằng:

Sự thực thì tôi thấy Ký Ức Vụn là một cuốn tiểu thuyết, cuốn ấy viết cho những người cùng thời cùng kiểu với tôi. Bởi tiểu thuyết là thế. Không có đời mình trong đó, nhưng đọc thấy đời mình, đời bạn bè mình, thấy lại trước mắt năm tháng đã qua, những năm tháng hiện hữu trong các câu chuyện và cả ở khoảng trống giữa các câu chuyện. Thời thơ ấu, tuổi học trò, mối tình đầu, tang thương chiến tranh, đời văn, quê nhà, và tha hương lang bạt. Trần Vàng Sao. Hoàng Phủ Ngọc Tường. Đoàn Anh Thắng. Phùng Quán. Bạn bè ở Huế…

Mừng cho Nguyễn Quang Lập vượt được muôn trùng gian khổ trở về chiếm hữu lại văn đàn. Và cả mừng cho văn chương, cho nhà văn nói chung, trong đó có mình. Bấy lâu vẫn tưởng là số lượng độc giả ưa đọc và biết đọc văn học càng ngày càng vơi. Cứ tưởng bây giờ thiên hạ chỉ thiên về ” văn học sân chơi “. Song, cơn sốt, nếu có thể gọi như vậy, cơn sốt đam mê và thán phục của đông đảo độc giả, nhất là độc giả trẻ đối với Ký Ức Vụn đã chứng tỏ tôi nghĩ nhầm. Một tác phẩm văn học đã từ lâu lắm rồi mới thấy, lại được đón nhận rộng rãi bởi một niềm say mê văn học đã từ lâu lắm rồi mới có. Thật là điều quá đáng mừng cho văn học.

Còn người viết bài này thì đồng cảm với nhà văn Nguyễn Quang Lập trong truyện Thương nhớ mười baThương nhớ vỉa hè Thương nhớ gì lại đi thương nhớ vỉa hè, có mà dở hơi. Nhưng mà thương nhớ thật” … đúng là nhớ thật, các bạn ạh Những điều thú vị khác như có người thích ăn ruồi, có người hai đầu gối, kẻ lắm hào quang, người đầy bóng tối, ai xấu ai tốt ai khôn ai dại … sẽ đều được phơi qua những mảnh vụn ký ức để bạn đọc tự chiêm nghiệm ^^

***

nql1Nhà văn Nguyễn Quang Lập sinh ngày 30/4/1956 ở Quảng Bình, hỗn danh là Lập Bọ. Ông xuất bản không nhiều sách, ngoài ra còn viết kịch bản cho phim (Đời cát, Thung lũng hoang vắng, Lập trình cho trái tim) và kịch (Mùa hạ cay đắng, Trên mảnh đất người đời).

Mới đây nhất ông viết kịch bản cho vở diễn Ngàn năm tình sử dựng lại khúc ca bi tráng về anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt được đánh giá cao, sắp tới vở này được diễn rộng rãi, chắc cũng phải đi xem! Ah quên, blog của bác Bọ là trang Quê choa, đọc cũng thú vị

Cuốn Ký ức vụn dày 296 trang, bìa mềm, giá 45,000 VND, có ở khắp nơi.