108 Anh hùng Lương Sơn Bạc (P1)

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff | Posted on 05-12-2006

79

Thủy Hử của Thi Nại Am trải qua bao nhiêu thăng trầm lịch sử vẫn luôn được coi là 1 trong các tuyệt phẩm của Trung Quốc bên cạnh Tam Quốc Chí, Hồng Lâu Mộng, và Tây Du Ký. Mặc dù dựng trên hình ảnh của 1 cuộc khởi nghĩa nông dân nhưng Thủy Hử và các anh hùng Lương Sơn Bạc luôn đại diện cho tiếng nói và niềm khao khát tự do. Bến Lương Sơn, đầm Lục Nhi đã trở thành nơi hội tụ của hào kiệt và tráng chí bốn phương. Mãi cho đến sau này, Tống Giang – vì 1 lòng vị quốc muốn đem cái tài của 108 hảo hán ra để giúp nước mà đồng ý chiêu an, tụ lại dưới cở triều đình. Tống triều khi đó bị bọn gian thần lũng đoạn, cử 108 anh hùng Lương Sơn Bạc đi đánh dẹp Phương Lạp, lần lượt bọn họ hy sinh, số còn lại trở về cũng bị hãm hại cho đến chết.

Phim Thủy Hử trước kia đã được chiếu tại VN, ấn tượng nhất có lẽ là bài hát “Hảo Hán Ca“:
Download Link
(Hảo Hán Ca – Thủy Hử OST)

“Núi Lương Sơn anh hùng múa kiếm
Bến Thủy Bạc hào kiệt mài dao”

Phong Kiều Dạ Bạc (Trương Kế)

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff | Posted on 03-11-2006

1


Đêm trời lạnh. tình cờ đọc bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế (Zhang Ji), bất giác cảm tác mà muốn viết một bài tóm tắt về bài thơ Đường tứ tuyệt trên. Giai thoại kể rằng, một hôm nhà thơ Trương Kế đi chơi thuyền trên sông. Đêm đã về khuya, nhà thơ cao hứng cất lên hai câu thơ tuyệt tác:

Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên
Giang phong ngư hoả đối sầu miên

Chỉ được đến đó, nhà thơ chưa có cảm hứng làm nốt vế sau. Cùng lúc đó, tại chùa Hàn San ngoại thành Cô Tô, sư cụ trụ trì cảm hứng nghĩ ra 2 câu thơ:

Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung
Bán tự ngân câu bán tự cung

Thao thức mãi trong phòng mà sư cụ không nghĩ ra 2 câu tiếp. Tự nhiên có tiếng gõ cửa. Thì ra là chú tiểu cũng trằn trọc vì 2 câu thơ mà mình mới nghĩ ra:

Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn
Bán trầm thuỷ đế bán phù không

nhưng cũng không làm tiếp được và xin thầy giúp. Nghe xong, sư cụ mừng quá vì quả thật 2 câu thơ của chú tiểu ăn khớp với 2 câu của sư cụ thành 1 bài tứ tuyệt mà Trần Trọng San đã dịch như sau:

Mồng ba, mồng bốn, trăng mờ
Nửa dường móc bạc, nửa như cung trời
Một bình ngọc trắng chia hai
Nửa chìm đáy nước, nửa cài từng không

Để tạ ơn Thần Phật, phá lệ thường, sư cụ cho dóng lên một hồi chuông giữa đêm khuya thanh vắng. Phần nhà thơ Trương Kế, vẫn đang trằn trọc với hình ành “Nguyệt lạc ô đề” mà chưa ngủ được; bỗng đâu nghe tiếng chuông chùa vừa thực vừa hư gieo vào lòng ông thi hứng, thi nhân từ đó viết nốt 2 câu cuối, và cũng là 2 câu thơ để lại nhiều tranh cãi luận bàn cho hậu thế:

Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Cả bài thơ tuyệt cú đã thành! Nguyễn Hàm Ninh xưa đã dịch bài thơ sang thể lục bát như sau:

Quạ kêu, trăng lặn, trời sương
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Ngoài ra, bản dịch của nhà thơ Tản Đà thịnh hành và được yêu thích hơn:

Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Trong văn đàn còn lưu truyền bản dịch của Mai Nguyệt:

Quạ kêu trăng xế trời sương
Lửa chài cây bến đối sường Sầu Miên
Hàn San vẳng tiếng chuông chiền
Nửa đêm đưa mãi đến thuyền Cô Tô.

Hình ảnh bài thơ đẹp và thi vị quá! Trải qua 13 thế kỷ, 28 chữ trên vẫn đầy sức sống, vẫn kiến tạc nên 1 không gian hư ảo nhiều chiều, khiến người đọc như thấy được 1 phong cảnh trời nước mênh mang từ thành Cô Tô ra tới chùa Hàn San. Hình ảnh con đò, dòng sông với ánh lửa chài và văng vẳng tiếng quạ kêu sương hiện lên vừa nên thơ, vừa thân thuộc. Thế rồi trong cái cô tịch khuya khoắt của đêm trăng mờ, chợt ngân lên tiếng chuông chùa vừa thái bình lại vừa xáo động. Những yếu tố đó kết hợp với nhau, cùng với những địa danh vùng Tô Châu Thượng Hải, gieo vào lòng người đọc chút gì đó huyền thoại, chút gì đó lắng đọng, tất cả đều thanh tao và thơ mộng.

Chùa Hàn San năm xưa giờ đã khác nhiều, vật đổi sao dời âu cũng là chuyện thường của tạo hoá, có chăng cái hồn năm xưa thì còn mãi. Suốt trong 13 thế kỷ, sau bài thơ của Trương Kế, Hàn San Tự trở nên nổi tiếng, là nơi viếng thăm của dòng người thập phương mến mộ mà tìm đến. Trong dòng người trân trọng cái đẹp nên thơ đó, có 1 người Việt Nam đã đến và ghi lại cảm tưởng của mình như sau:

…Hàn Sơn không phải là một núi lạnh, mà là tên một vị sư kiêm thi sĩ trụ trì tại ngôi chùa này, xây từ thế kỷ thứ VII, sau có được tu sửa lại. Tường chùa màu vàng áo cà sa trên nền cây xanh, trông rất đẹp khi đứng nhìn từ trên chiếc cầu vồng, cầu Phong Kiều, tuy rằng hiện nay không còn cây phong nào bên cầu, mà chỉ còn hai hàng cây phong hai bên con đường nhỏ dẫn tới cầu này…” (1995)

Đọc xong bài thơ cùng các bản dịch, cảm hiểu vì sao Phong Kiều Dạ Bạc lại trở thành 1 trong những bài thơ Đường nổi tiếng nhất qua nhiều thời đại. Thấy được cái đẹp vượt không gian và thời gian; trân trọng cái thanh tao, lãng mạn của kẻ sĩ; nể phục cái thú say sưa bất tuyệt của người xưa; xin mạo muội mượn đôi câu cuối bài Bán dạ tuý thay lời kết của người viết bài:
“Cảm tạ tiền nhân lưu bút tích,
Ngàn năm vọng mãi tiếng chuông ngân.”

Hiệp Khách Hành (Lý Bạch)

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff | Posted on 28-10-2006

13

hkh

Trong suốt 20 năm từ 1950 đến 1970, Kim Dung đã sáng tác hơn 14 tác phẩm kiếm hiệp dài. Các tiểu thuyết của Kim Dung từ lâu đã trở thành 1 hiện tượng của văn học gây tiếng vang rất xa khắp các vùng Đông Nam Á, làm phát sinh những nghiên cứu về tiểu thuyết Kim Dung qua nhiều khía cạnh. Đã có người đánh giá Kim Dung xếp vào vị trí thứ 4 trong hàng chín bậc đại sư: Lỗ Tấn, Thẩm Tòng Văn, Ba Kim, Kim Dung, Lão Xá, Ức Đạt Phu, Vương Mông, Trương Ái Linh, và Giả Bình Ao.

Trong số 14 tác phẩm của ông:

    “Phi Tuyết Liên Thiên Xạ Bạch Lộc
    Tiếu Thư Thần Hiệp Ỷ Bích Uyên” (1)

thì Thiên Long Bát Bộ và Hiệp Khách Hành được đánh giá là nổi bật sắc thái Phật giáo nhất. Đặc biệt Hiệp Khách Hành để lại cho người đọc nhiều cảm xúc nhất; cho đến cuối cùng câu chuyện, Cẩu Tạp Chủng vẫn băn khoăn với câu hỏi “Ta là ai?” – 1 câu hỏi dành cho tất cả mọi người, thức tỉnh để biết rõ mình, hiểu rõ tâm thức và tình cảm bản thân. Những câu hỏi, mà tập truyện là câu trả lời, làm dấy lên trong người đọc niềm thao thức khôn nguôi. Hiệp Khách Hành mở đầu bằng bài thơ cùng tên của Lý Bạch, có thể coi là 1 tuyệt bút, đồng thời cũng chính là bí kíp Thái Huyền Không cất giữ trên đảo Hiệp Khách.


Hiệp Khách Hành (Lý Bạch) – Bản dịch

Khách nước Triệu phất phơ giải mũ
Kiếm ngô câu rực rỡ tuyết sương
Ngân yên bạch mã huy hoàng
Vó câu vun vút như ngàn sao bay.
Cách mười bước giết người chẳng trật
Nghìn dặm xa vùng vẫy mà chi
Việc xong rũ áo ra đi
Ẩn thân rừng núi kể gì tiếng tăm.
Rảnh lại nhớ Tín Lăng tìm đến
Gươm gác đùi chuốc chén đầy vơi
Này nem, này rượu khuyên mời
Bên thời Châu Hợi, bên thời Hầu Doanh.
Ba chén cạn thân mình sá kể
Năm núi cao xem nhẹ lông hồng
Mắt hoa mặt đã nóng bừng
Khí hùng bay bổng lên từng mây xanh.
Chùy cứu Triệu vung tay khẳng khái
Thành Hàm Đan run rẩy kinh hoàng
Nghìn thu tráng sĩ hai chàng
Tiếng tăm hiển hách rỡ ràng Đại Lương.
Người dù chết xương còn thơm ngát
Chẳng hổ ngươi đáng mặt anh hào
Kìa ai ẩn náu trên lầu
Chép kinh đến thuở bạc đầu chưa xong.

—————————
(1)Chú giải:

Phi Hồ Ngoại Truyện
Tuyết Sơn Phi Hồ
Liên Thành Quyết
Thiên Long Bát Bộ
Xạ Điêu Anh Hùng Truyện
Bạch Mã Khiếu Tây Phong
Lộc Đỉnh Ký

Tiếu Ngạo Giang Hồ
Thư Kiếm Ân Cừu
Thần Điêu Hiệp Lữ
Hiệp Khách Hành
Thiên Đồ Long Ký
Bích Huyết Kiếm
Uyên Ương Đao

Bạch Đằng Giang Phú (Trương Hán Siêu)

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff | Posted on 27-10-2006

336

wave

Trương Hán Siêu, tác giả bài Phú sông Bạch đằng nổi tiếng là một nhân vật lớn đời Trần. Ông tên chữ Lăng Phủ, quê ở làng Phúc Am, huyện An Khánh, Ninh Bình. Trương Hán Siêu lúc trẻ làm môn khách của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, tham gia cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai và thứ ba. Ông làm quan trải bốn triều vua Trần (Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông, Dụ Tông), từng giữ các chức Hàn lâm học sĩ, Hành khiển, Tả gián nghị đại phu, Tham tri chính sự. Trương Hán Siêu là một người học vấn uyên bác, thông hiểu sâu sắc đạo Nho, đạo Phật, lại giàu lòng yêu nước và có nhiều công lao đối với triều Trần, vì vậy ông được các vua Trần tôn kính, xem như bậc thầy. Sau khi mất, Trương Hán Siêu được truy tặng chức Thái phó và được đưa vào thờ tại Văn Miếu ngang với các bậc hiền triết xưa. Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam vào giai đoạn nửa sau thế kỷ XIV nảy sinh cuộc tranh giành vị trí, ảnh hưởng giữa Nho giáo và Phật giáo mà Trương Hán Siêu được coi là người đầu tiên lên tiếng phê phán đạo Phật, mở đường cho Nho giáo tiến lên.