Tây Tạng Du Ký – Ngày 6: Tsang (P1)
Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 17-07-2010
5
Như đã có dịp giới thiệu với bạn đọc trong bài Tổng quan về Phật giáo Tây Tạng, ngoài Hoàng Mạo Giáo – phái Cách Lỗ (Gelugpa Sect), Tây Tạng còn 3 tông giáo Hồng Mạo Giáo quan trọng khác là: phái Ninh Mã (Nyingma Sect), phái Tát Ca (Sakya Sect), và phái Ca Nhĩ Cư (Kagyupa Sect). Nếu nói vùng Kham (Bayi, Nyingchi) tiêu biểu cho phái Ninh Mã, vùng U (Lhasa) tiêu biểu cho phái Cách Lỗ, thì khi nhắc đến vùng Tsang, người ta sẽ liên tưởng đến sự pha trộn của phái Cách Lỗ và Tát Ca. Tsang giáp ranh với vùng U, từ lâu đã trở thành người anh em gắn bó mật thiết đến những biến chuyển chính trị, tôn giáo từ Lhasa nói riêng và toàn vùng U nói chung. Hành trình ngày 6 của chúng tôi vào Tsang sẽ đi qua 2 điểm dừng chân quan trọng nhất của Tsang, đó là Gyantse và Shigatse.

1. Vượt qua hồ Yamdrok-tso:
Sáng ngày thứ 6 như thường lệ, chúng tôi trở dậy sớm, nai nịt gọn gàng và rời Lhasa lúc 8am, trời đã sáng tỏ từ bao giờ, ngày hôm nay hứa hẹn thêm một buổi nắng vàng rực rỡ! Quả chúng tôi không lầm, con đường Lhasa – hồ Yamdroktso – Gyantse – Shigatse là 1 trong những cung đường vàng nhất trong chuyến hành trình về phương Tây này.

Chạy băng băng gần 2h không nghỉ vượt hơn 100 cây số theo cao tốc Hữu nghị quan (Southern Friendship Highway), xe hì hục leo đèo; độ cao trung bình 3600m của Lhasa lúc này dường như không thấm vào đâu so với núi Kampala (hơn 5000m). Từ trên cao nhìn xuống, con đường đèo quả là ngoằn nghèo ngoạn mục, những mép vực hiện ra rồi lại biến mất, mỗi lần như thế xe đã lại lên cao được vài chục mét:



Vượt lên đỉnh Kampala, hút vào tầm mắt chúng tôi là hồ Yamdrok-tso uốn lượn dưới chân núi với màu xanh kỳ ảo như ngọc. Nằm ở độ cao 4441m, hồ Yamdrok-tso được coi là 1 trong 4 hồ thiêng nhất toàn Tây Tạng (cùng với 3 hồ kia là Lhamo La-tso, Nam-tso và Manasarovar).

Rộng hơn 600km2 và có hình dáng kỳ lạ, hồ Yamdrok-tso quả không hổ với cái tên là hồ San hô giữa cao nguyên; không gian hồ khoáng đạt nắng gió, chúng tôi ra sức tận hưởng cái mát rượi của hơi nước và chụp ảnh Yamdrok-tso không ngơi tay:


Kỳ vĩ nhất chính là hình ảnh ngọn núi tuyết Nojin Kangtsang cao 7191m sừng sững phía xa:

Những đám mây khổng lồ trôi trên trời để lại những bóng râm kỳ ảo lướt qua hồ và núi:




Cảnh hồ đẹp rực rỡ như thế nên dịch vụ chụp ảnh trên đỉnh đèo nở rộ
khách du lịch có thể chụp với bò Yak hoặc chó Ngao Tạng với giá 10RMB:


Theo xe xuống đèo, chúng tôi lại được ngắm nhìn khung cảnh hồ Yamdrok-tso gần hơn nữa. Sau 15 phút chạy, xe dừng bên cạnh hồ, và chúng tôi tiến sát đến mép nước hơn:


Mặt nước hồ khi nhìn gần thấy gợn sóng lăn tăn; vào mùa đông hồ Yamdrok-tso sẽ đóng băng. Bên hồ là những đống đá nhỏ mà người mộ đạo xếp khi đi hành hương đến đây:


Xa trông là những ngôi nhà nhỏ người Tạng bên kia hồ và tất nhiên không thể thiếu được hình ảnh núi Nojin Kangtsang tuyết phủ trên nền trời trong và hồ xanh thẫm:


Chúng tôi tiếp tục hành trình men theo hồ Yamdrok-tso, khung cảnh 1 bên hồ:



Tạm biệt hồ Yamdrok-tso, xe lại gian nan vượt lên đèo Karola cao 4960m, nhưng từ đây du khách sẽ có dịp chiêm ngưỡng đỉnh băng vĩnh cửu của núi Nojin Kangtsang:




Khách du lịch ai cũng như loá mắt trước màu trắng tinh khiết phản chiếu ánh mặt trời của đỉnh Nojin Kangtsang Glacier, trời tuy nắng gắt nhưng nhiệt độ rất thấp:



Không chống chịu được với cái lạnh thấu xương và không khí như đóng băng trong phổi, chúng tôi chụp vội vài kiểu ảnh rồi lại tiếp tục lên đường hướng đến trấn Gyantse.
2. Trấn Giang Tử (Gyantse):
Sau hơn 1h đồng hồ, chúng tôi đến thị trấn Gyantse – điểm dừng quan trọng trên cung đường thăm thú Tsang. Nằm ở độ cao 4000m, Gyantse tuy nhỏ nhưng đã từng đóng vai trò huyết mạch toàn vùng. Trước kia năm 1904 khi người Anh đưa quân vào Tây Tạng, thị trấn này đã trải qua cơn binh đao, vết tích còn lại là những đoạn tường phòng thủ chạy quanh toàn trấn và đặc biệt là pháo đài Gyantse Dzong trên đỉnh đồi bao quát toàn trấn:



Cuộc chiến ở Giang Tử trấn là 1 chương ít được nhắc đến trong lịch sử Tây Tạng, người ta chỉ biết rằng người dẫn đầu quân Anh là tướng Francis Yonghusband mang theo quân đoàn thiện chiến 3000 lính Anh trang bị hiện đại đổ bộ vào Tsang năm 1904 trước khi nhắm đến Lhasa. Đây là cuộc chiến tranh trên bộ cao nhất (gần 5000m) trong lịch sử quân sự Anh, với ưu thế về vũ khí, quân đội Anh nhanh chóng chiếm giữ Gyantse và làm chủ con đường nối Tsang đi Lhasa. Vượt qua sông Nhã Lung (Yarlung Tsangpo), Yonghusband đưa quân vào chiếm đóng Lhasa, bắt người Tạng phải ký giao ước hiệp thương với người Anh cho các vùng U-Tsang. Không lâu sau, tướng Younghusband rời Tây Tạng, trước khi đi, có lẽ vì nhiều lý do mà phần nhiều là xúc động trước những gì ông được chứng kiến và ảnh hưởng niềm tin tôn giáo trong Lhasa, ông thốt lên: ‘That single hour on leaving Lhasa was worth all the rest of a lifetime‘. Câu chuyện này được ghi trong cuốn sách của Charles Allen: Duel in the Snows: The True Story of the Yonghusband Mission to Lhasa (nguồn dẫn chứng: Lonely Planet – Tibet).
Ngày nay pháo đài Gyantse Dzong đã được khôi phục phần nào, bên trong có bảo tàng nhỏ ghi lại cuộc chiến 1904 của thị trấn Giang Tử anh hùng. Dừng chân ở quảng trường nhỏ, chúng tôi có cơ hội ngắm nhìn kiến trục Tạng của pháo đài kỹ lưỡng hơn:



Cách pháo đài Gyantse Dzong chưa đầy 5 phút đi xe là địa điểm thăm quan nổi tiếng nhất trấn: tu viện Pelkhor Chode, bên trong có Thập Vạn Phật Tháp (Gyantse Kumbum) – cũng là tháp Stupa (Chorten) lớn nhất và độc đáo nhất trên cao nguyên Thanh Tạng ^^
Đường vào tu viện Pelkhor Chode Monastery (người Trung Quốc gọi địa danh này là Baiju Temple):





Bước vào tu viện, du khách có thể nhìn thấy chính điện từ cửa đi thẳng vào:

Chếch bên trái chính điện là tháp Gyantse Kumbum, sau đó liền kề là tu viện nhỏ của tông Tát Ca. Đây là 1 trong những điểm đáng lưu ý làm cho Pelkhor Chode trở nên đặc biệt hơn những nơi khác: trong tổng số 15 tự viện nhỏ nằm trong khuôn viên của Pelkhor Chode thì 9 tự viện thuộc dòng Hoàng Giáo Cách Lỗ (Gelugpa Sect) và 3 tự viện thuộc dòng Hồng Giáo Tát Ca (Sakya Sect) – một sự dung hoà rất hiếm gặp trong Tây Tạng nói chung:


Xây năm 1418, toàn bộ đại tu viện Pelkhor Chode được bao bọc bởi tường đỏ; trong sân là 2 cây cột cuốn phướn ngũ sắc, trước chính điện treo vải bạt trắng với các dấu hiệu của Phật giáo:



Kiến trúc nóc khá đơn giản nhưng đặc trưng cho phong cách của Phật giáo Tây Tạng:



Bên trong chính điện có tượng thờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đại sư Tông Khách Ba, thập lục đại La Hán (chứ không phải thập bát!), và cả những nhân sĩ của phái Tát Ca. Người Tạng sau khi vào lễ ở chánh điện đều đi sang Kumbum – điểm thu hút nhất của toàn khu Pelkhor Chode:


Xa trông ít ai không khỏi ngỡ ngàng bởi kiến trúc đặc sắc có thể xem như chưa từng thấy qua của Kumbum! Người Tạng tài tình đã xây dựng ngọn tháp này mô phỏng kiến trúc của Stupa khổng lồ, còn nếu đem chiếu xuống mặt phẳng thì dễ dàng nhận ra tính đối xứng tuyệt vời của tranh Mandala:


Chắc bạn đọc vẫn còn nhớ trong bài viết về Văn vật Phật giáo Tây Tạng có nhắc đến 8 stupa lớn (Eight Great Stupas); tháp Kumbum chính là Stupa muôn cửa (Stupa of Many Doors). Đi từ dưới lên trên là 4 tầng với các vòng kora nhỏ ứng với Tứ Diệu Đế (Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế, Đạo Đế), du khách sẽ đến được lưng chừng tháp (phần trụ tròn) – tương ứng với Ngũ Căn (Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Ðịnh căn, Huệ căn) và Ngũ Lực (Tín lực, Tấn lực, Niệm lực, Ðịnh lực, Huệ lực), bên trong có thờ tượng Phật Thích Ca cực lớn. Theo cầu thang, du khách sẽ leo lên được 1 tầng nữa (có 4 đôi mắt Phật khép hờ nhìn ra Tứ phương). Từ đây là các bậc thang rất nhỏ hẹp và tối bên trong tháp dẫn lên trên đỉnh tháp; còn phía ngoài được trang trí theo kiểu 13 vòng màu vàng tượng trưng cho đường tới cõi Niết bàn thông qua Bát Chính Đạo. Trên cùng luôn là kiến trúc mặt trăng và mặt trời biểu thị sự minh triết soi sáng mọi vật, đến được thượng tầng tháp cũng là lúc du khách nhìn được bên dưới mái vòm của tháp Kumbum có 8 hoạ hình đầy màu sắc của các vị Bồ Tát:


Không chỉ đặc sắc bởi vẻ ngoài, Gyantse Kumbum còn độc đáo bởi quy mô của nó: xây dựng xong năm 1427, tháp cao 32.4m, trên đỉnh là mái vàng, chia làm 9 tầng, 108 cửa, 77 khám thờ nhỏ; có đến 100,000 bức tranh tường (mural), mandala, và tượng Phật bên trong – vì thế tháp còn có tên gọi là Thập Vạn Phật Tự. Nếu Stupa vốn được coi là nơi gìn giữ linh hồn tương phản với các pho tượng là mô phỏng của thể xác, thì ở tháp Kumbum người ta thấy được các pho tượng được lưu giữ trong stupa lớn, rồi stupa lớn chứa nhiều stupa nhỏ, trong mandala lớn chứa nhiều mandala nhỏ, kết cấu mỗi tầng là trời tròn đất vuông liên kết bằng những vòng kora. Như thế, linh tháp Kumbum thực sự là hiện thân tinh hoa văn hoá Phật giáo Tây Tạng vô cùng thâm diệu.


Tháp Kumbum cho phép chụp ảnh bên trong với giá chỉ 10RMB ^^ Xin giới thiệu với bạn đọc một số hình ảnh của các khám thờ nằm trong 4 tầng lầu khi đi từ dưới lên theo chiều kim đồng hồ:





Có thể nhận ra ngoài hoạ hình và tượng của Đức Phật Thích Ca Mầu Ni, bên trong từng khám thờ nhỏ là tượng của Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokitesvara), Kim Cương Bồ Tát (Vajrapani), Thanh Đa La (Green Tara), Bạch Đa La (White Tara), Minh Vương, La Hán … cùng với tranh tường màu sắc cực kỳ sống động, đôi khi rợn tóc gáy người xem:







Cứ thế lần theo 4 vòng kora, chúng tôi vượt qua 4 tầng của linh tháp, trên đường đi cũng gặp rất nhiều gia đình người Tạng thân thiện cũng đang tham quan và lễ bái:



Dừng chân ở tầng 5 của tháp cũng là phần hình trụ đặc trưng cho phong cách xây dựng của Nepal, du khách có thể quan sát toàn cảnh tu viện Pelkhor Chode cũng như nhìn thấy pháo đài Gyantse Dzong phía xa và một phần thị trấn Gyantse:





Bên trong tầng 5 của tháp là tượng của Tứ Đại Thiên Vương và tượng thân lớn của Phật Thích Ca Mâu Ni khoác lụa vàng, trên trần và tường là hoạ hình mandala cực lớn:



Từ tầng 5 dẫn lên tầng 6 là lối cầu thang gỗ nhỏ và trơn. Tầng 6 có vẽ đôi mắt Phật trong tư thế thiền định đang hiền từ nhìn ra tứ phương:




Khách du lịch ai cũng thích thú ngắm nhìn màu sắc trang trí sống động và kết cấu mái vòm thượng tầng của linh tháp có thể thấy rõ từ đây:



Leo lên đến thượng tầng của tháp, hình ảnh đọng lại chỉ là pháo đài Gyantse Dzong phơi trong nắng cháy. Chúng tôi lần lượt trở xuống. Đến khi ra khỏi linh tháp vẫn chưa nguôi thích thú khi nhìn lại Kumbum độc đáo sau lưng:


Tu viện của phái Tát Ca (Sakya Sect) là điểm dừng cuối cùng trước khi rời Pelkhor, tu viện này cũng xây theo lối lưỡng tông Hồng-Bạch giống như cung Potala. Vì tu viện không cho chụp ảnh bên trong nên chỉ có vài tấm ngoài cửa gửi bạn đọc tham khảo:






Chia tay với đại tu viện Pelkhor Chode cũng là lúc chúng tôi chia tay với Gyantse, ấn tượng về trấn Giang Tử là sự nhỏ bé, đơn độc nhưng giữ vai trò huyết mạch trên cung đường U-Tsang, là hình ảnh pháo đài Dzong uy nghi trên đồi ghi lại cuộc chiến lẫm liệt của người Tạng những năm đầu thế kỷ 20, là ngọn tháp Thập Vạn Phật trải mình dưới nắng gió đã hơn 500 năm vẫn vẹn nguyên màu sắc, và đặc biệt là sự cởi mở thân thiện của người dân địa phương mà tôi tin rằng rất khó gặp bên trong những thành phố lớn của Tây Tạng ^^




Trời lúc này đã về chiều, xe lại rong ruổi gần 90 cây số nữa đưa du khách đến với thủ phủ của vùng Tsang – thành phố Shigatse, và xin hẹn trở lại với bạn đọc trong phần 2 của bài viết ngày 6 ![]()





































































Sau 300 năm từ khi đại sư Liên Hoa Sinh vào Tây Tạng và có công khai tông lập phái cho Ninh Mã; người ta nhắc đến tên tuổi thứ hai: đại sư A Đề Sa (Atisha) đến từ Thiên Trúc, Ấn Độ năm 1042, là người có công chấn hưng Phật giáo lúc đó đang suy vong ở Tây Tạng. Từ đây trở về sau, lịch sử chứng kiến sự ra đời của 3 tông phái lớn còn lại của Tây Tạng mà ít nhiều đều chịu ảnh hưởng trực tiếp từ A Đề Sa.
Phái Cách Lỗ (Gelugpa Sect) được 1 nhà cải cách lỗi lạc Tông Khách Ba (Tsongkhapa) (1357–1419) sáng lập, khi đó nhằm vào thời Vĩnh Lạc Minh Thành Tổ (con trai thứ hai của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương). Xung quanh sự ra đời và tuổi trẻ của Tông Khách Ba có nhiều truyền kỳ và điển tích, người viết sẽ điểm qua trong bài viết ngày cuối khi đi thăm tu viện Taer Monastery ở quê ông thuộc vùng Amdo xưa, nay thuộc Tây Ninh, tỉnh Thanh Hải. Tông Khách Ba vốn xuất thân từ Hồng Giáo, đã tu học qua giáo pháp của cả Kagyupa và Sakya Sect nhưng chú tâm hơn vào chấn chỉnh Phật giáo với mục đích đem các Lạt Ma đã bị thế tục hóa trở về lại đời sống của Tỳ Kheo có đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh. Sự uyên bác về giáo pháp, lại cẩn trọng nghiêm kính chuyên tâm tu học của Tông Khách Ba như thổi luồng gió mới vào Phật giáo Tây Tạng mà các cựu phái chưa có được, đã khích lệ Tăng lữ theo về rất đông. Sử chép trong Đại Tập Hội lần thứ nhất (Monlam Great Prayer Festival) quy tụ gần 12,000 vị Lạt Ma dưới tông Hoàng giáo. Sau này Gelugpa Sect lấy ngày rằm tháng giêng hàng năm làm ngày đại hội nhưng đến giai đoạn thế kỷ 20 đã bị chính quyền Trung Hoa cấm tổ chức. 
