Tây Tạng Du Ký – Ngày 7: Sera Monastery

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 27-07-2010

3

1. Ngàn dặm không mây

Trở lại với bạn đọc trong bài viết ngày thứ 7 khám phá Tây Tạng Buổi ban mai của Nhật Khách Tắc (Shigatse) có phần vắng lặng hơn nhiều so với Lhasa. Tuy là thủ phủ vùng Tsang giữa lòng cao nguyên Tây Tạng nhưng nếu để ý kỹ, cuộc sống của thành phố đã mang nhiều màu sắc hiện đại tiểu thị dân của vùng đồng bằng. Ấn tượng đọng lại trước khi rời Shigatse là những con đường đá trơn láng vắng bóng chân người trải một màu xám tiễn chân du khách ra đến cột mốc số 4900 – cột mốc đánh dấu địa phận Shigatse trên tuyến quốc lộ Hữu nghị (Friendship Highway) ^^

Frienship Highway, hay gọi chính xác hơn: Quốc lộ 318 là con đường “vàng” đã có dịp nhắc đến trong bài viết di chuyển từ Nyingchi vào Lhasa, dài gần 5500km xuyên suốt từ cực Đông (Thượng Hải) sang đến cực Tây (Tây Tạng). Đoạn chạy qua Thành Đô có tên là cao tốc Tứ Xuyên – Tây Tạng (Sichuan-Tibet Highway), còn đoạn chạy từ Lhasa đến Zhangmu (biên giới Nepal) được gọi là cao tốc Hữu Nghị (Sino-Nepal Friendship Highway) có vượt qua Shigatse trên đường đi. Riêng từ Lhasa đến Shigatse, bản đồ còn phân ra: Southern và Northen Friendship Highway. Đường Southern Frienship Highway chính là lộ trình ngày 6 vào vùng Tsang: Lhasa – đỉnh Kampala – Hồ Yamdroktso – đỉnh Karola – trấn Gyantse – Shigatse. Còn đường về trong sáng hôm nay chúng tôi đi theo Northen Friendship Highway Theo mốc lộ giới phân cắm, Lhasa ở mốc 4646 còn Shigatse ở mốc 4900, cách nhau đúng 350km cao tốc, ngắn hơn khoảng cách của đường cũ gần 50km.

Trên đường đi, chúng tôi gặp lại người bạn cũ: con sông Nhã Lung (Yarlung Tsangpo) ^^ Trải mình trong ánh nắng hè tháng 6, dòng Yarlung Tsangpo bền bỉ chảy sâu vào lòng Tây Tạng; trái với hình ảnh tráng lệ uốn mình dưới chân ngọn Namche Barwa làm thành hẻm núi xanh độc đáo giữa Nyingchi (Ngày 3: đáo Niyngchi), con sông Nhã Lung chảy dọc theo quốc lộ 318 đoạn nối liền Shigatse – Lhasa mang một sắc thái ôn hoà có phần ảm đạm hơn:

Rất tình cờ, người viết tìm được những điểm tương đồng trong văn chương của Lý Nhuệ với những vùng đất đã đi qua. Nếu như cổ trấn Lệ Giang – đông thành của Vân Nam gợi nhớ đến hình ảnh trấn Ngân Thành mà Lý Nhuệ xây dựng trong tiểu thuyết Ngân Thành Cố Sự; thì ở đây, giữa trời đất bao la của vùng Tsang Tây Tạng, những hình ảnh hiện ra trước mắt làm người ta liên tưởng đến câu chuyện Ngàn dặm không mây của ông:

Thứ đầu tiên đập vào mắt người thầy giáo trẻ tình nguyện đi về vùng sâu dạy học là một miền núi non trùng điệp mênh mông, rặt một màu đất đỏ bazan khô khát. Nhiệt tình cháy bỏng muốn đem ánh sáng văn minh chiếu rọi tới cuộc sống mông muội của người dân thôn Ngũ Nhân Bình trong anh cứ dần lụi tàn trước sự bất di bất dịch của tự nhiên và con người nơi ấy. Chỉ khi ngày lại ngày đối mặt với những dãy núi trải dài câm lặng, anh mới cảm nhận sâu sắc được thế nào là sự cô độc và tĩnh lặng không người thấu hiểu, ngộ ra cuộc đọ sức vĩnh hằng, vô vọng giữa con người và tự nhiên, giữa cái hữu hạn và cái vô hạn …

Đó có lẽ là cảm giác rõ ràng nhất của chúng tôi khi ngắm nhìn những vách núi cheo leo sỏi đá, những bờ sông cháy vàng bụi cát:

Với kế hoạch đổi dòng chảy của sông Nhã Lung nhằm tăng nguồn tưới tiêu cho các vùng phía Bắc Trung Thổ, chính phủ Trung Quốc đang từng bước thực hiện “The Tsangpo Project” bắt đầu từ việc xây các con đập chắn nước và các nhà máy thuỷ điện trong Tây Tạng. Điều đó lý giải quang cảnh công trường xây dựng tất bật trên suốt đoạn đường đi mà du khách đang và chắc sẽ còn chứng kiến trong vài năm tới nữa:

Khi xe chúng tôi dừng chân nghỉ ăn trưa, ai cũng mệt mỏi vì trời oi bức và hành trình gió cát nên không ai mặn mà với các món ăn, chỉ riêng có món cuối cùng khi được bưng lên thì ai cũng ngạc nhiên: đó là những chiếc bánh hình trụ nhỏ bằng gạo nếp nhân đậu gói trong lá lúa nhỏ như bánh tro nước ta. Người dân địa phương giải thích rằng hôm nay là ngày lễ hội ở địa phương nên họ đều mời thực khách món truyền thống này. Hỏi ra mới biết hôm đó chính nhằm ngày Tết Đoan Ngọ mồng 5 tháng 5 âm lịch (tức 16/6/2010 dương lịch). Câu chuyện Sở thần ái quốc Khuất Nguyên năm xưa trầm mình dòng Mịch La vì lời can gián không được vua nghe; người dân thương tiếc ông đã lấy ngày 5/5 âm lịch làm ngày giỗ ông, lại làm nhiều bánh trái mà quăng xuống sông để các loài thuỷ quái cá sông ăn bánh mà không ăn xác Khuất Nguyên. Dòng Mịch La là một nhánh của sông Dương Tử mà điểm xuất phát của Dương Tử giang không đâu khác chính là cao nguyên Thanh Tạng! Không hẹn mà gặp, câu chuyện của mấy nghìn năm lịch sử thời Chiến Quốc tưởng như xa xôi nay trở về sống động giữa đường thiên lý khám phá Tây Tạng, quả thực là một bất ngờ thú vị ^^

Thêm một điểm chú ý khi di chuyển theo Northen Friendship Highway là việc kiểm soát tốc độ giữa các trạm gác! Tổng cộng có khoảng 5 trạm gác trên đường, đến mỗi trạm gác lái xe phải xuống để đóng dấu và ghi lại giờ qua trạm. Khi đến trạm tiếp theo phải qua thời gian nhất định, nếu đến sớm hơn sẽ bị phạt nặng. Vì thế nếu bạn đọc sau này có đi cung đường này cũng không nên lấy làm lạ khi thấy xe tự nhiên đang chạy thì dừng, tài xế sẽ xuống xe tha thẩn hút thuốc nhìn đồng hồ, rồi lại lên xe chạy tiếp, cứ thế vài lần âu cũng là dịp để du khách ra ngoài hít thở khí trời và ngoạn cảnh:

Chẳng mấy mà trời đã xế trưa, xe chúng tôi sau khi vượt các trạm gác và 6 cây cầu cuối cùng đã vào đến địa phận Lhasa, tạm biệt dòng Yarlung Tsangpo để về với phố phường vùng U, điểm đến trong buổi chiều nay sẽ là tu viện Sera ^^

2. Sera Monastery

Xây dựng năm 1419 (nhắm vào thời Vĩnh Lạc Minh Thành Tổ bên Trung Hoa), tu viện Sắc Nhạ (Sera Monastery) là 1 trong 3 tu viện tiêu biểu của dòng Cách Lỗ (Gelugpa Sect) bên trong Lhasa, và là 1 trong 6 tu viện lớn của Hoàng Mạo Giáo (Yellow Hat Sect) trên toàn Tây Tạng. Người có công đầu trong việc kiến lập viện là đại sư Thích Ca Dã Hiệp (Shakya Yeshe), học trò của đại sư Tông Khách Ba (Tsongkhapa). Quần thể tu viện Sera còn có tên gọi là Tu viện hoa hồng bởi khu vực xây dựng tu viện trước kia được bao quanh bởi các vườn hồng dại. Ngoài ra còn một nghĩa nữa trong tên “Sắc Nhạ” là Bạc Tử (mưa đá) vì lúc xây tu viện thì có mưa đá rơi xuống.

Từ bãi đỗ xe, chúng tôi theo con đường nhỏ 2 bên trồng cây xanh và san sát nhà cửa đi bộ hơn 10 phút đến được cổng tu viện, khung cảnh thanh bình cực kỳ, trái với sự đông đúc ồn ã của tu viện Tashilhunpo, Shigatse:

Bước vào tu viện, bên phải đầu tiên du khách sẽ gặp stupa lớn, tiếp theo là các dãy nhà song song tường trắng mái bằng đỏ chạy dài với hai hàng cây xanh:

Kiến trúc Sera Monastery được chia ra làm 5 khu chính: Khu Chính Điện (Great Assembly Hall), 3 đại viện dành cho việc tu học là: Me College (Mai Ba), Je College (A Ba), Ngagpa College (Kết Ba), và hạ viện Homdong Khangtsang (Hòa Kiết) là nơi Tăng chúng sinh sống. Nhìn vào bản đồ toàn đại tự viện Sera, điểm thu hút du khách nằm ở góc xa nhất, đó chính là Vườn Tranh Biện (Debating Courtyard) ^^

Đường dẫn vào Vườn Tranh Biện ngợp bóng cây xanh đẹp như tranh một trong những con đường đi bộ đẹp nhất có thể tìm thấy trong cả Lhasa:

Giờ mở cửa của Debating Courtyard từ 3h đến 5h chiều. Bước vào vườn, điều đầu tiên thu hút khách du lịch là những sắc màu áo đỏ đang say mê tranh luận kinh pháp trên nền sân vườn đá sỏi:

Mục đích của những cuộc tranh biện như thế này không ngoài tranh luận để đồng thuận, trau dồi hiểu biết về Phật điển và đào sâu suy nghĩ về những lời giáo huấn của Phật, cũng là để thăng tiến lên cấp cao hơn trên con đường tu học; vì thế các Tăng chúng trẻ tuổi tham gia rất nhiệt tình. Đối với khách phương xa khi theo dõi việc tranh biện ở vườn Sera đôi khi sẽ có cảm giác như sắp đặt và diễn, nhưng hoạt động này thực chất là 1 hình thức bắt buộc trong việc đào tạo Lạt Ma.

Nguồn gốc việc tranh biện như thế này có từ bao giờ thì khó ai nói được, chỉ biết các tu viện lớn của Hoàng Giáo Cách Lỗ như Sera, Deprung, hay Tashilhunpo rất đề cao. Xin tản mạn với bạn đọc 1 câu chuyện lịch sử có thể ít nhiều liên quan: câu chuyện về cuộc tranh luận Lạp Tát (The Great Lhasa Debate) nổi danh trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng.

Như đã có dịp giới thiệu về tổng quan Phật giáo Tây Tạng thời Tiền truyền, chuyện xảy ra nhắm vào năm 729 thời vua Đường Đức Tông, tương đương với đời Tạng Vương Xích Tùng Đức Tán (hay Cật Phiêu Song Đề, Trisong Detsen). Phật giáo Tây Tạng khi đó chịu ảnh hưởng của 2 tượng đài tôn giáo lớn: Trung Quán Tông truyền từ Ấn Độ và Thiền Tông truyền từ Trung Quốc. Nếu như Hán tăng lấy “trực chỉ nhân tâm khai thị Phật tánh” làm chính (tức là chỉ cần rèn luyện trong tâm sẽ khai thông Phật tính) mà không cần tuân theo y giáo, tu hành không cần đúng cách, dịch kinh sách không cần coi trọng; hoàn toàn trái ngược với quan điểm tu học nghiêm ngặt của Phạn tăng. Cuộc đấu đầu ngấm ngầm giữa 2 trường phái cứ kéo dài cho đến lúc vua Trisong Detsen mở cuộc tranh luận công khai mời Tăng chúng hai bên ra luận phân cao thấp. Đại sư Liên Hoa Giới (Kamalasia) đã chiến thắng Đại Thừa Hòa Thượng (Mahayana HoaSan), đánh dấu sự lên ngôi của Trung Quán Tông, và Phật giáo Tây Tạng từ đó lấy Phật giáo Ấn Độ thời Vãn kỳ làm chủ lưu! Lịch sử gọi đây là cuộc tranh luận Lạp Tát – tính lý luận khúc triết sâu sắc của Phật giáo Đại thừa thời Vãn kỳ được coi trọng hơn và những hoạt động liên quan đến việc tu học như dịch Kinh, chép Kinh, luận Kinh, tụng Kinh cũng vì thế mà trở thành bắt buộc trong đời sống Tăng chúng ^^

Lan man đã dài, xin cùng bạn đọc quay lại với Vườn Tranh Biện của tu viện Sera và cùng ngắm vài hình ảnh những nhà sư trẻ tuổi đang hăng say “dạy dỗ” và “doạ nạt” đồng môn tư thế các nhà sư rất đa dạng, chủ yếu là kết hợp các động tác vung tay múa chân và ngả người vỗ tay dậm chân hay xoay tràng hạt nhằm gây “ấn tượng” với đối thủ và cả người xem:

Cấp bậc trong tu học của các nhà sư được thể hiện ở màu áo vàng mặc bên trong hoặc đai vải cuốn quanh bụng:

Ngộ!

Và nụ cười của người chiến thắng

Phần lớn trong vườn tranh biện là những Tăng ni người Tạng tuổi còn rất trẻ, giao tiếp với nhau bằng tiếng Tạng. Hướng dẫn viên du lịch của nhóm tôi trước cũng đã từng là 1 nhà sư Tạng (sau này đã hoàn tục) từ chối dịch những cuộc đối thoại tranh luận với lý do là Phật điển Mật Tông cực khó dịch thoát nghĩa sang tiếng Anh và phải giữ bí mật nội dung tránh để người ngoài biết được.

Cứ thế chúng tôi nhìn ngắm khu vườn với con mắt tò mò … Dưới những tán cây từng nhóm các nhà sư tụ tập truy bài, xung quanh vườn ở các góc tường là khách du lịch tứ phương đang ngắm nghía và không ngừng chụp ảnh, tất cả tạo nên bầu không khí sống động và độc đáo cho tu viện Sera; và có lẽ là buổi truy bài kỳ lạ nhất mà trong đời tôi từng thấy qua:

Tha thẩn mãi trong vườn rồi cũng đến lúc phải tạm biệt, đồng hồ đã chỉ sang 4h chiều, chúng tôi trở ra khỏi Debating Courtyard. Ngay ở cửa chúng tôi gặp một người Tạng cũng đang quay ra, có lẽ ông hiểu những gì diễn ra bên trong Vườn Tranh Biện nên chỉ thấy mỉm cười thích thú:

Trên đường ra, chúng tôi ghé vào thăm Chính Điện (Great Assembly Hall, hay Tsogchen) của tu viện Sera, cũng là toà lớn nhất trong khuôn viên toàn viện.

Trước cửa chính điện là bức màn trắng lớn thêu biểu tượng cát tường Phật giáo: bánh xe Pháp (Dharma Wheel) và nút trường cửu (Endless Knot):

Trên nóc điện là những trang trí bằng đồng khác cũng mang màu sắc Phật giáo như Lá cờ cuộn (Victory banner – Dhvaja), stupa cách điệu, hai con hươu chầu bên bánh xe Pháp; tất cả đều vàng rực lên trong nắng chiều:

Bước vào trong điện, du khách sẽ có dịp ngắm nhìn những bức thangka khổng lồ, tượng Phật Thích Ca (Shakyamuni), tượng Phật Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokitesvara), tượng đại sư Tông Khách Ba (Tsongkhapa), tượng đại sư Thích Ca Dã Hiệp (Shakya Yeshe) – người có công khai lập xây dựng Sera Monastery, và đặc biệt là tượng Phật Di Lặc (Maitreya) cao 6m chiếm trọn 2 tầng lầu. Phí chụp ảnh bên trong Chính Điện là 30RMB nhưng chúng tôi từ chối mà chỉ chụp ở ngoài điện:

Ngay phía sau Chính Điện là một ngọn đồi thấp với những hoạ hình độc đáo của đại sư Tông Khách Ba, Đạt Lai Lạt Ma thứ 5, Bạch Đa La hay Phật Di Lặc trong tư thế Ấn chuyển pháp được khắc vào các phiến đá lớn với màu sắc tươi mới sống động:

Từ cửa sau Chính Điện, chúng tôi trở lại con đường chạy giữa tu viện Sera, và theo đó quay ra cổng. Đường ra khỏi Sera vẫn ngợp một màu xanh non mát mắt:

Tạm biệt tu viện Sắc Nhạ – một trong ba ngôi Đại Tùng Lâm quan trọng bậc nhất của thủ phủ Lhasa (cùng với Ganden và Deprung Monastery), chúng tôi lên xe trở về khách sạn. Ấn tượng về một tu viện Sera rợp bóng cây xanh với tiếng lạo xạo của vườn đá sỏi cùng không khí tranh biện râm ran giữa nắng hè chang chang chắc tôi sẽ nhớ mãi. Trong số những gương mặt trẻ măng của Vườn Tranh Biện hôm nay sẽ có vài người tu học thành tài trở thành những Lạt Ma đức cao vọng trọng sau này, cũng sẽ có người hoàn tục trở lại với đời, nhưng tin rằng buổi tranh luận kiến giải vỡ lòng với bạn đồng môn dưới mái chùa năm xưa sẽ còn theo họ đi mãi …

Về đến khách sạn Himalaya Hotel (6 East Linguo Road), tôi tranh thủ ăn uống nhanh và tắm rửa một lượt rồi khoác áo cuốn khăn xách máy ra khỏi khách sạn bắt taxi chạy về hướng quảng trường Potala. Đêm nay sẽ là 1 đêm đặc biệt, bởi tôi quyết tâm dành trọn buổi tối đi thăm thú quảng trường chờ trăng lên để chụp ảnh cung Potala dưới ánh đèn đêm, xin hẹn gặp lại bạn đọc trong bài viết ngày 7 phần 2 ^^

Tây Tạng Du Ký – Ngày 6: Tsang (P2)

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 21-07-2010

0

3. Tu viện Tashilhunpo ở Shigatse:

Nhật Khách Tắc (Shigatse) là điểm dừng chân thứ 2 của chúng tôi trong vùng Tsang. Nằm ở độ cao trung bình 3900m so với mực nước biển, là thủ phủ của Tsang và cũng là thành phố lớn thứ 2 sau Lhasa, Shigatse giữ vai trò đặc biệt về mặt chính trị xã hội của toàn Tây Tạng. Nhắc đến Shigatse là nhắc đến đại tu viện Trát Thập Luân Bố (Tashilhunpo Monastery) – cung điện của các đời Ban Thiền Lạt Ma (Panchen Lama) người giữ vai trò quan trọng thứ hai trong cộng đồng chính-giáo Tây Tạng.

Sau khi rời trấn Giang Tử (Gyantse), xe đưa chúng tôi vượt 90km đường đến với Shigatse, khi đến nơi đã gần 4h chiều; vì không muốn nấn ná nên chúng tôi đi thăm tu viện Tashilhunpo luôn để sáng hôm sau lên đường về Lhasa. Tu viện Tashilhunpo được xây năm 1447 bởi Đạt Lai Lạt Ma thứ 1 Căn Đôn Châu Ba (Gendun Drup), môn đệ của đại sư Tông Khách Ba (Tsongkhapa); dần dần được các đời Ban Thiền Lạt Ma thứ 4 và thứ 5 mở rộng. Tashilhunpo Monastery là 1 trong 6 đại tu viện nổi tiếng của dòng Hoàng Mạo Cách Lỗ (Gelugpa Sect), 5 đại tu viện kia là: Sắc Nhạ – Sera Monastery (Lhasa), Triết Phong – Deprung Monastery (Lhasa), Cách Đăng – Ganden Monastery (Lhasa), Lạp Bốc Lăng – Labrang Monastery (Gansu), và Tháp Nhĩ – Ta’er Monastery (Qinghai). Xây dựng trên diện tích hơn 300km2, tu viện Trát Thập Luân Bố ngày nay là nơi sinh sống và tu học của khoảng 800 Lạt Ma và cũng là điểm thu hút khách du lịch ghé thăm ở trung tâm Shigatse.

Khác với dự đoán ban đầu, cổng vào tu viện nhỏ và có phần kém hoành tráng, ấn tượng chỉ là bãi đỗ xe rất to và các đoàn khách du lịch Trung Quốc đứng chen chúc dưới trời nắng để mua vé vào cửa:

Bước vào Tashilhunpo là khoảng sân rất rộng, hai bên là những dãy nhà thấp, có một vài nhóm người đang dọn dẹp chuẩn bị cho sự kiện Ban Thiền Lạt Ma thứ 11 sẽ từ Bắc Kinh đến Tây Tạng. Nếu người viết không nhầm, sự kiện này trùng với dịp ‘Phật sống lên ngôi ở Tây Tạng‘ diễn ra sau đó không lâu đầu tháng 7/2010.

Nhìn vào kiến trúc tu viện có 4 toà lớn, đi từ trái sang phải: toà tháp cao nhất bên trái tường đỏ mái vàng là điện thờ Di Lặc Bồ Tát (Maitreya Temple hay Jamkhang Chenmo), sau đó là điện Sisum Namgyel mái vàng có lăng mộ của Ban Thiền Lạt Ma thứ 10, toà tiếp theo là toà Kundun Lhakhang là khu lăng mộ của Ban Thiền Lạt Ma thứ 4, và toà cuối cùng bên phải là Tashi Langyar lưu giữ lăng mộ của Ban Thiền Lạt Ma từ thứ 5 đến thứ 9. Bên phải toà Tashi Langyar có thể nhận ra bức tường trắng lớn (Thangka Wall) là nơi treo các thangka khổng lồ vào các dịp lễ hội. Phía trước điện Tashi Langyar là khu Kelsang Temple Complex có sân lớn (Great Courtyard) bao bọc bởi các bức tường với mural hoạ hình 1000 Phật Thích Ca trong các tư thế ấn khác nhau:

Phía sau toàn bộ tu viện là con đường kora trên sườn đồi treo vô vàn những chiếc kinh luân bằng đồng:

Từ năm 1980, Tashilhunpo chính thức mở cửa đón khách tham quan và được xếp hạng khu du lịch AAAA cấp quốc gia:

Một vài hình ảnh những ngõ nhỏ bên trong tu viện:

Kiến trúc các khu nhà khá giống nhau với tường đá vôi trắng, cửa sổ và cửa chính viền đen, hiên nhỏ phủ vải trắng, mái bằng màu đỏ sậm. Các khu nhà này là nơi sinh hoạt của Tăng ni và có vẻ không mở cửa cho tham quan:

3 stupa lớn nhìn thấy khi đi bộ trong tu viện:

Toà tháp màu đỏ du khách sẽ gặp đầu tiên là điện Jamkhang Chenmo thờ Phật tương lai (Future Buddha) Di Lặc Bồ Tát (Maitreya) như đã có dịp giới thiệu với bạn đọc trong phần Văn vật Phật giáo Tây Tạng

Bên trong điện là tượng Phật Di Lặc ở tư thế ngồi được đúc vào năm 1914 bởi Ban Thiền Lạt Ma thứ 9; bức tượng này là tượng Phật Di Lặc lớn nhất thế giới: cao 26m, đúc từ 150,000kg đồng và sử dụng hơn 300kg vàng để mạ, riêng mỗi ngón chân của tượng đã dài hơn 1m! Sở dĩ có chi tiết này vì du khách khi bước vào điện sẽ gần như choáng ngợp bởi tầm vóc đồ sộ của tượng, khi bắt đầu đi quanh chân tượng thì nhìn rõ nhất chính là các ngón chân của Ngài Bốn phía điện là các tranh tường trang trí hoạ hình Phật Di Lặc đang thiền định trên nền màu đỏ rực rỡ.

Điện Jamkhang Chenmo đang được lát xi măng lại ở sân ngoài, khách du lịch đều bu lại quanh sân vì thu hút bởi quang cảnh lao động của người dân địa phương: nhóm nhân công chia ra 2 đội đứng ở cánh phải và cánh trái, mỗi đội sẽ lần lượt hát trước và tay sẽ theo nhịp dậm chày nện đất, sau một điệu hát sẽ đến đội bên kia. Cứ thế họ nhịp nhàng san đập khoảng sân bêtông sân trước điện. Quang cảnh này chắc là sẽ luôn gặp khi người Tạng xây cất nhà cửa, đồ rằng bài hát của họ cũng là các câu kinh đã được phổ ra thành nhịp ^^

Đặc điểm chung của các điện thờ trong tu viện Tashilhunpo là cấm ngặt chụp ảnh, biển báo phạt đề rõ phía ngoài: 1800RMB cho máy ảnh, 2500RMB cho máy quay nên tất cả không ai dám ho he gì Sau khi tham quan Jamkhang Chenmo, chúng tôi trở ra và đi bộ tiếp trong Tashilhunpo:

Con đường giữa những bức tường đỏ đưa du khách đến toà điện lớn thứ 2 của tu viện: Sisum Namgyel, bên trong là lăng mộ của Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 viên tịch vào năm 1989. Stupa này được làm từ 615kg vàng ròng, trang trí thêm 868 viên đá quý và hơn 240,000 viên ngọc – một trong những stupa vàng cực kỳ quý giá của Tây Tạng. Nhìn phía ngoài toà nhà, du khách sẽ thấy mái đồng mạ vàng rực rỡ của Sisum Namgyel:

Trang trí trên mái là những biểu tượng của Phật giáo tinh xảo và cũng không kém phần phô trương như tượng vàng chim thần Gruda, bánh xe Pháp luân 8 trục bằng vàng có 2 con hươu hai bên, hay cờ chiến thắng Dhvaja cực lớn đúc bằng đồng treo các chuông nhỏ:

Toà điện thứ 3 trong Tashilhunpo mà chúng tôi vào tham quan là Kundun Lhakhang – khu lăng mộ của Ban Thiền Lạt Ma thứ 4, một trong những Ban Thiền Lạt Ma trứ danh nhất của Tây Tạng bởi ông chính là thầy dạy của Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 vĩ đại Lobsang Gyatso. Stupa của Ban Thiền đời thứ 4 là stupa đầu tiên được dựng trong tu viện Tashilhunpo năm 1662 và hoàn toàn không bị hư hại gì sau Cách mạng Văn hoá. Hình ảnh trước cửa điện:

Nếu để ý kĩ bức mural ngay cửa vào của Kundun Lhakhang sẽ thấy 8 tiểu đồng này tay đều cầm 8 biểu tượng cát tường của Phật giáo (Ashtamangala, hay 8 Auspicious symbols of Buddhism):

Tám biểu tượng này lần lượt là:
- [1] Umbrella (Parasol): Dù lọng – tượng trưng cho phẩm cách cao thượng, không tổn hại.
- [2] Two goldfish: Song ngư – tượng trưng cho sự chuyển luân tự do và hạnh phúc
- [3] Conch shell: Tù và – tượng trưng cho những lời truyền dạy tuyệt luân của Đức Phật
- [4] Lotus: Hoa sen – tượng trưng cho sự tinh khiết, đứng trên mọi uế tạp của trần tục
- [5] Treasure Vase (Urn): Bình thánh thủy – tượng trưng cho sự đầy đủ về sức khoẻ, trường thọ, giàu sang, thịnh vượng, và trí tuệ
- [6] Victory banner (Dhvaja): Lá cờ cuộn – tượng trưng cho sự chiến thắng
- [7] Endless Knot: Nút trường cửu – tượng trưng cho sự kết nối của mọi vật
- [8] Dharma Wheel: bánh xe Pháp luân – tượng trưng cho sự xiển dương không ngừng của Phật pháp

Trên các bức tường đỏ của điện Kundun Lhakhang cũng có vẽ 8 biểu tượng này:

Một chi tiết thú vị nữa mà người viết tình cờ khám phá ra khi ngắm nhìn mái của các điện thờ trong Tashilhunpo: toà điện đầu tiên Jamkhang Chenmo là mái bằng không có đầu cong nhô ra ngoài; toà điện thứ 2 Sisum Namgyel có mái đôi, mái thượng trang trí đầu rồng và mái hạ trang trí đầu bút lông sắc nhọn; còn mái đôi của toà điện thứ 3 Kundun Lhakhang ngược lại, mái thượng trang trí đầu bút lông và mái hạ trang trí đầu rồng nhô ra ngoài Đây có thể dùng làm cách nhận dạng sau khi đã đi thăm Tashilhunpo về và chụp rất nhiều ảnh, cần phân biệt giữa các toà điện với nhau:

Rời khỏi khu lăng mộ của Ban Thiền Lạt Ma thứ 4, chúng tôi lại theo con đường vách đỏ đi tiếp, không quên xoay ống kính hướng về những sắc màu Phật giáo rất thú vị xung quanh:

Tình cờ trong tích tắc khi quay lại nhìn toà Sisum Namgyel, lọt vào khuôn hình là một nhà sư đang đăm chiêu tựa lưng vào cờ chiến thắng Dhvaja trong cái nắng gay gắt cuối ngày trước giờ tu viện đóng cửa:

Xuyên qua 1 con đường hầm nhỏ và tối, du khách sẽ đến được toà điện lớn thứ 4 của tu viện: Tashi Langyar, nơi có lăng mộ của các Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 5 đến thứ 9. Toà điện này đã từng bị phá huỷ trong Cách mạng Văn hoá, và được Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 cho xây lại năm 1989:

Phía trước Tashi Langyar là khu điện Kelsang (Kelsang Temple Complex), khu điện này bao gồm khám thờ Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni), Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokitesvara), và Đa La (Tara); nhưng bắt mắt hơn cả chính là khu sân chung (Great Courtyard) nằm chính giữa:

Được biết đây là khu vực sân dành cho các Lạt Ma trẻ tu học và tranh luận về giáo pháp; khác với các khu vực sân khác thường ở vườn cây như tu viện Sera hay tu viện Deprung (Lhasa), khu vực sân này bố trí quy củ hơn:

Bao quanh sân là các bức tường rực rỡ sắc đỏ với các bức tranh tường hình Phật Thích Ca Mâu Ni pha trộn phong cách Tây Tạng với thời nhà Minh và nhà Đường của Trung Hoa, vì thế mà các mural trở nên sống động và đa dạng hơn:

Tổng cộng có 1000 hoạ hình của Phật Thích Ca với các ấn (mudra) khác nhau, xen kẽ là 8 biểu tượng cát tường. Ấn Phật giáo là những cử chỉ bằng tay đặc biệt mang những dấu hiệu của Phật tính khác nhau. Ngoài Thủ ấn (các ấn nơi tay) còn có các Khế ấn là những tư thế khác khi cầm ngọc hay tọa thiền … Một số Thủ ấn chính thường gặp: Ấn thiền, Ấn giáo hoá, Ấn chuyển pháp, Ấn xúc địa, Ấn vô uý, Ấn tối thượng bồ đề, Ấn trí huệ vô thượng, Ấn hiệp chưởng … Bạn đọc có hứng thú tìm hiểu về Ấn Phật giáo có thể xem thêm minh hoạ ở đây: Explaination of Mudras

Rời khỏi sân của Kelsang Complex, chúng tôi trở lại sân trước của tu viện Tashilhunpo. Đoạn đường ra khỏi tu viện:

Trong ảnh phía xa là bức tường Thangka có chiều cao tương đương với toà nhà 9 tầng, được xây dựng năm 1468 đời Đạt Lai Lạt Ma thứ 1; vào các dịp ngày 14, 15, và 16 tháng 5 hàng năm (lịch Tây Tạng), bức Thangka khổng lồ sẽ được treo ở đây thu hút hàng vạn người hành hương đến Tashilhunpo để chiêm bái:

Ấn tượng của người viết về Tashilhunpo không nhiều, tuy là nơi Ban Thiền Lạt Ma sinh sống và có các lăng mộ của các đời Ban Thiền Lạt Ma đời trước nhưng Tashilhunpo hoàn toàn không quá hoành tráng như tưởng tượng, việc chụp ảnh cũng bị cấm chặt hơn các nơi khác. Tuy nhiên nếu để ý kĩ, những dấu ấn Phật giáo Đại thừa Mật tông thể hiện bên trong Tashilhunpo rất rõ ràng So với những quần thể lớn như cung điện Potala khi du khách không đủ thời gian và tâm trí để quan sát và ghi nhận những chấm phá độc đáo trong kiến trúc cũng như văn vật trên đường du ngoạn thì ở Tashilhunpo hoàn toàn có thể chậm rãi mà khám phá hết. Không khí bên trong tu viện rất trang nghiêm, những khu nhà tường trắng cửa đen và các toà điện tường đỏ mái vàng trăm năm qua đã lưu giữ vô vàn những giá trị văn hoá kết tinh bởi mỗi đời Lạt Ma Tây Tạng. Không phải tự nhiên mà tu viện này trở thành điểm đến hấp dẫn và gần như bắt buộc mỗi khi thăm thú vùng Tsang, đặc biệt cho những ai muốn hiểu thêm về Phật giáo và xã hội Tây Tạng xưa và nay ^^

Đoàn chúng tôi lên xe rời khỏi quần thể tu viện lúc đồng hồ đã chỉ sang 5.30 chiều, ai cũng gần như kiệt sức sau 1 ngày dài di chuyển từ Lhasa đến Shigatse, trên đường đã dừng lại ở hồ Yamdrok-tso, vượt đèo Karola để ngắm đỉnh băng Nojin Kangtsang Glacier, ghé trấn Gyantse để khám phá tháp Thập Vạn Phật Kumbum Stupa, sau là vào tu viện Tashilhunpo ở Shigatse. Điểm dừng cuối cùng trong ngày là Everest Friendship Hotel (địa chỉ: No.12 Deqingpozhang Road, Shigatse), tên cũ là Qomolongma Friendship Hotel. Điều thú vị duy nhất về hotel này là bảng giá! theo Lonely Planet – Tibet thì nhà nghỉ này thuộc loại rẻ và giá bình dân (100RMB-400RMB), nhưng nếu đến trực tiếp nhìn thì không khỏi giật mình: phòng dorm giá chỉ 45RMB còn phòng thường giá trên 2000RMB, riêng phòng sang giá trên 5000RMB chắc là cố ý trêu đùa du khách!

Bài viết ngày 6 đến đây là kết thúc. Sau bữa ăn tối dở tệ, đêm buông xuống trên Shigatse, thành phố này trở nên tĩnh mịch hơn cả trấn Bayi hay thủ phủ Lhasa tuy thời tiết về đêm không quá lạnh. Ngày mai trong bài viết thứ 7, người viết sẽ rời Shigatse quay lại Lhasa, buổi chiều đi thăm tu viện Sera và buổi tối đi ngoạn cảnh Potala cung giữa nền trời đêm ^^

Tây Tạng Du Ký – Ngày 6: Tsang (P1)

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 17-07-2010

5

Như đã có dịp giới thiệu với bạn đọc trong bài Tổng quan về Phật giáo Tây Tạng, ngoài Hoàng Mạo Giáo – phái Cách Lỗ (Gelugpa Sect), Tây Tạng còn 3 tông giáo Hồng Mạo Giáo quan trọng khác là: phái Ninh Mã (Nyingma Sect), phái Tát Ca (Sakya Sect), và phái Ca Nhĩ Cư (Kagyupa Sect). Nếu nói vùng Kham (Bayi, Nyingchi) tiêu biểu cho phái Ninh Mã, vùng U (Lhasa) tiêu biểu cho phái Cách Lỗ, thì khi nhắc đến vùng Tsang, người ta sẽ liên tưởng đến sự pha trộn của phái Cách Lỗ và Tát Ca. Tsang giáp ranh với vùng U, từ lâu đã trở thành người anh em gắn bó mật thiết đến những biến chuyển chính trị, tôn giáo từ Lhasa nói riêng và toàn vùng U nói chung. Hành trình ngày 6 của chúng tôi vào Tsang sẽ đi qua 2 điểm dừng chân quan trọng nhất của Tsang, đó là GyantseShigatse.

1. Vượt qua hồ Yamdrok-tso:

Sáng ngày thứ 6 như thường lệ, chúng tôi trở dậy sớm, nai nịt gọn gàng và rời Lhasa lúc 8am, trời đã sáng tỏ từ bao giờ, ngày hôm nay hứa hẹn thêm một buổi nắng vàng rực rỡ! Quả chúng tôi không lầm, con đường Lhasa – hồ Yamdroktso – Gyantse – Shigatse là 1 trong những cung đường vàng nhất trong chuyến hành trình về phương Tây này.

Chạy băng băng gần 2h không nghỉ vượt hơn 100 cây số theo cao tốc Hữu nghị quan (Southern Friendship Highway), xe hì hục leo đèo; độ cao trung bình 3600m của Lhasa lúc này dường như không thấm vào đâu so với núi Kampala (hơn 5000m). Từ trên cao nhìn xuống, con đường đèo quả là ngoằn nghèo ngoạn mục, những mép vực hiện ra rồi lại biến mất, mỗi lần như thế xe đã lại lên cao được vài chục mét:

Vượt lên đỉnh Kampala, hút vào tầm mắt chúng tôi là hồ Yamdrok-tso uốn lượn dưới chân núi với màu xanh kỳ ảo như ngọc. Nằm ở độ cao 4441m, hồ Yamdrok-tso được coi là 1 trong 4 hồ thiêng nhất toàn Tây Tạng (cùng với 3 hồ kia là Lhamo La-tso, Nam-tso và Manasarovar).

Rộng hơn 600km2 và có hình dáng kỳ lạ, hồ Yamdrok-tso quả không hổ với cái tên là hồ San hô giữa cao nguyên; không gian hồ khoáng đạt nắng gió, chúng tôi ra sức tận hưởng cái mát rượi của hơi nước và chụp ảnh Yamdrok-tso không ngơi tay:

Kỳ vĩ nhất chính là hình ảnh ngọn núi tuyết Nojin Kangtsang cao 7191m sừng sững phía xa:

Những đám mây khổng lồ trôi trên trời để lại những bóng râm kỳ ảo lướt qua hồ và núi:

Cảnh hồ đẹp rực rỡ như thế nên dịch vụ chụp ảnh trên đỉnh đèo nở rộ khách du lịch có thể chụp với bò Yak hoặc chó Ngao Tạng với giá 10RMB:

Theo xe xuống đèo, chúng tôi lại được ngắm nhìn khung cảnh hồ Yamdrok-tso gần hơn nữa. Sau 15 phút chạy, xe dừng bên cạnh hồ, và chúng tôi tiến sát đến mép nước hơn:

Mặt nước hồ khi nhìn gần thấy gợn sóng lăn tăn; vào mùa đông hồ Yamdrok-tso sẽ đóng băng. Bên hồ là những đống đá nhỏ mà người mộ đạo xếp khi đi hành hương đến đây:

Xa trông là những ngôi nhà nhỏ người Tạng bên kia hồ và tất nhiên không thể thiếu được hình ảnh núi Nojin Kangtsang tuyết phủ trên nền trời trong và hồ xanh thẫm:

Chúng tôi tiếp tục hành trình men theo hồ Yamdrok-tso, khung cảnh 1 bên hồ:

Tạm biệt hồ Yamdrok-tso, xe lại gian nan vượt lên đèo Karola cao 4960m, nhưng từ đây du khách sẽ có dịp chiêm ngưỡng đỉnh băng vĩnh cửu của núi Nojin Kangtsang:

Khách du lịch ai cũng như loá mắt trước màu trắng tinh khiết phản chiếu ánh mặt trời của đỉnh Nojin Kangtsang Glacier, trời tuy nắng gắt nhưng nhiệt độ rất thấp:

Không chống chịu được với cái lạnh thấu xương và không khí như đóng băng trong phổi, chúng tôi chụp vội vài kiểu ảnh rồi lại tiếp tục lên đường hướng đến trấn Gyantse.

2. Trấn Giang Tử (Gyantse):

Sau hơn 1h đồng hồ, chúng tôi đến thị trấn Gyantse – điểm dừng quan trọng trên cung đường thăm thú Tsang. Nằm ở độ cao 4000m, Gyantse tuy nhỏ nhưng đã từng đóng vai trò huyết mạch toàn vùng. Trước kia năm 1904 khi người Anh đưa quân vào Tây Tạng, thị trấn này đã trải qua cơn binh đao, vết tích còn lại là những đoạn tường phòng thủ chạy quanh toàn trấn và đặc biệt là pháo đài Gyantse Dzong trên đỉnh đồi bao quát toàn trấn:

Cuộc chiến ở Giang Tử trấn là 1 chương ít được nhắc đến trong lịch sử Tây Tạng, người ta chỉ biết rằng người dẫn đầu quân Anh là tướng Francis Yonghusband mang theo quân đoàn thiện chiến 3000 lính Anh trang bị hiện đại đổ bộ vào Tsang năm 1904 trước khi nhắm đến Lhasa. Đây là cuộc chiến tranh trên bộ cao nhất (gần 5000m) trong lịch sử quân sự Anh, với ưu thế về vũ khí, quân đội Anh nhanh chóng chiếm giữ Gyantse và làm chủ con đường nối Tsang đi Lhasa. Vượt qua sông Nhã Lung (Yarlung Tsangpo), Yonghusband đưa quân vào chiếm đóng Lhasa, bắt người Tạng phải ký giao ước hiệp thương với người Anh cho các vùng U-Tsang. Không lâu sau, tướng Younghusband rời Tây Tạng, trước khi đi, có lẽ vì nhiều lý do mà phần nhiều là xúc động trước những gì ông được chứng kiến và ảnh hưởng niềm tin tôn giáo trong Lhasa, ông thốt lên: ‘That single hour on leaving Lhasa was worth all the rest of a lifetime‘. Câu chuyện này được ghi trong cuốn sách của Charles Allen: Duel in the Snows: The True Story of the Yonghusband Mission to Lhasa (nguồn dẫn chứng: Lonely Planet – Tibet).

Ngày nay pháo đài Gyantse Dzong đã được khôi phục phần nào, bên trong có bảo tàng nhỏ ghi lại cuộc chiến 1904 của thị trấn Giang Tử anh hùng. Dừng chân ở quảng trường nhỏ, chúng tôi có cơ hội ngắm nhìn kiến trục Tạng của pháo đài kỹ lưỡng hơn:

Cách pháo đài Gyantse Dzong chưa đầy 5 phút đi xe là địa điểm thăm quan nổi tiếng nhất trấn: tu viện Pelkhor Chode, bên trong có Thập Vạn Phật Tháp (Gyantse Kumbum) – cũng là tháp Stupa (Chorten) lớn nhất và độc đáo nhất trên cao nguyên Thanh Tạng ^^

Đường vào tu viện Pelkhor Chode Monastery (người Trung Quốc gọi địa danh này là Baiju Temple):

Bước vào tu viện, du khách có thể nhìn thấy chính điện từ cửa đi thẳng vào:

Chếch bên trái chính điện là tháp Gyantse Kumbum, sau đó liền kề là tu viện nhỏ của tông Tát Ca. Đây là 1 trong những điểm đáng lưu ý làm cho Pelkhor Chode trở nên đặc biệt hơn những nơi khác: trong tổng số 15 tự viện nhỏ nằm trong khuôn viên của Pelkhor Chode thì 9 tự viện thuộc dòng Hoàng Giáo Cách Lỗ (Gelugpa Sect) và 3 tự viện thuộc dòng Hồng Giáo Tát Ca (Sakya Sect) – một sự dung hoà rất hiếm gặp trong Tây Tạng nói chung:

Xây năm 1418, toàn bộ đại tu viện Pelkhor Chode được bao bọc bởi tường đỏ; trong sân là 2 cây cột cuốn phướn ngũ sắc, trước chính điện treo vải bạt trắng với các dấu hiệu của Phật giáo:

Kiến trúc nóc khá đơn giản nhưng đặc trưng cho phong cách của Phật giáo Tây Tạng:

Bên trong chính điện có tượng thờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đại sư Tông Khách Ba, thập lục đại La Hán (chứ không phải thập bát!), và cả những nhân sĩ của phái Tát Ca. Người Tạng sau khi vào lễ ở chánh điện đều đi sang Kumbum – điểm thu hút nhất của toàn khu Pelkhor Chode:

Xa trông ít ai không khỏi ngỡ ngàng bởi kiến trúc đặc sắc có thể xem như chưa từng thấy qua của Kumbum! Người Tạng tài tình đã xây dựng ngọn tháp này mô phỏng kiến trúc của Stupa khổng lồ, còn nếu đem chiếu xuống mặt phẳng thì dễ dàng nhận ra tính đối xứng tuyệt vời của tranh Mandala:

Chắc bạn đọc vẫn còn nhớ trong bài viết về Văn vật Phật giáo Tây Tạng có nhắc đến 8 stupa lớn (Eight Great Stupas); tháp Kumbum chính là Stupa muôn cửa (Stupa of Many Doors). Đi từ dưới lên trên là 4 tầng với các vòng kora nhỏ ứng với Tứ Diệu Đế (Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế, Đạo Đế), du khách sẽ đến được lưng chừng tháp (phần trụ tròn) – tương ứng với Ngũ Căn (Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Ðịnh căn, Huệ căn) và Ngũ Lực (Tín lực, Tấn lực, Niệm lực, Ðịnh lực, Huệ lực), bên trong có thờ tượng Phật Thích Ca cực lớn. Theo cầu thang, du khách sẽ leo lên được 1 tầng nữa (có 4 đôi mắt Phật khép hờ nhìn ra Tứ phương). Từ đây là các bậc thang rất nhỏ hẹp và tối bên trong tháp dẫn lên trên đỉnh tháp; còn phía ngoài được trang trí theo kiểu 13 vòng màu vàng tượng trưng cho đường tới cõi Niết bàn thông qua Bát Chính Đạo. Trên cùng luôn là kiến trúc mặt trăng và mặt trời biểu thị sự minh triết soi sáng mọi vật, đến được thượng tầng tháp cũng là lúc du khách nhìn được bên dưới mái vòm của tháp Kumbum có 8 hoạ hình đầy màu sắc của các vị Bồ Tát:

Không chỉ đặc sắc bởi vẻ ngoài, Gyantse Kumbum còn độc đáo bởi quy mô của nó: xây dựng xong năm 1427, tháp cao 32.4m, trên đỉnh là mái vàng, chia làm 9 tầng, 108 cửa, 77 khám thờ nhỏ; có đến 100,000 bức tranh tường (mural), mandala, và tượng Phật bên trong – vì thế tháp còn có tên gọi là Thập Vạn Phật Tự. Nếu Stupa vốn được coi là nơi gìn giữ linh hồn tương phản với các pho tượng là mô phỏng của thể xác, thì ở tháp Kumbum người ta thấy được các pho tượng được lưu giữ trong stupa lớn, rồi stupa lớn chứa nhiều stupa nhỏ, trong mandala lớn chứa nhiều mandala nhỏ, kết cấu mỗi tầng là trời tròn đất vuông liên kết bằng những vòng kora. Như thế, linh tháp Kumbum thực sự là hiện thân tinh hoa văn hoá Phật giáo Tây Tạng vô cùng thâm diệu.

Tháp Kumbum cho phép chụp ảnh bên trong với giá chỉ 10RMB ^^ Xin giới thiệu với bạn đọc một số hình ảnh của các khám thờ nằm trong 4 tầng lầu khi đi từ dưới lên theo chiều kim đồng hồ:

Có thể nhận ra ngoài hoạ hình và tượng của Đức Phật Thích Ca Mầu Ni, bên trong từng khám thờ nhỏ là tượng của Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokitesvara), Kim Cương Bồ Tát (Vajrapani), Thanh Đa La (Green Tara), Bạch Đa La (White Tara), Minh Vương, La Hán … cùng với tranh tường màu sắc cực kỳ sống động, đôi khi rợn tóc gáy người xem:

Cứ thế lần theo 4 vòng kora, chúng tôi vượt qua 4 tầng của linh tháp, trên đường đi cũng gặp rất nhiều gia đình người Tạng thân thiện cũng đang tham quan và lễ bái:

Dừng chân ở tầng 5 của tháp cũng là phần hình trụ đặc trưng cho phong cách xây dựng của Nepal, du khách có thể quan sát toàn cảnh tu viện Pelkhor Chode cũng như nhìn thấy pháo đài Gyantse Dzong phía xa và một phần thị trấn Gyantse:

Bên trong tầng 5 của tháp là tượng của Tứ Đại Thiên Vương và tượng thân lớn của Phật Thích Ca Mâu Ni khoác lụa vàng, trên trần và tường là hoạ hình mandala cực lớn:

Từ tầng 5 dẫn lên tầng 6 là lối cầu thang gỗ nhỏ và trơn. Tầng 6 có vẽ đôi mắt Phật trong tư thế thiền định đang hiền từ nhìn ra tứ phương:

Khách du lịch ai cũng thích thú ngắm nhìn màu sắc trang trí sống động và kết cấu mái vòm thượng tầng của linh tháp có thể thấy rõ từ đây:

Leo lên đến thượng tầng của tháp, hình ảnh đọng lại chỉ là pháo đài Gyantse Dzong phơi trong nắng cháy. Chúng tôi lần lượt trở xuống. Đến khi ra khỏi linh tháp vẫn chưa nguôi thích thú khi nhìn lại Kumbum độc đáo sau lưng:

Tu viện của phái Tát Ca (Sakya Sect) là điểm dừng cuối cùng trước khi rời Pelkhor, tu viện này cũng xây theo lối lưỡng tông Hồng-Bạch giống như cung Potala. Vì tu viện không cho chụp ảnh bên trong nên chỉ có vài tấm ngoài cửa gửi bạn đọc tham khảo:

Chia tay với đại tu viện Pelkhor Chode cũng là lúc chúng tôi chia tay với Gyantse, ấn tượng về trấn Giang Tử là sự nhỏ bé, đơn độc nhưng giữ vai trò huyết mạch trên cung đường U-Tsang, là hình ảnh pháo đài Dzong uy nghi trên đồi ghi lại cuộc chiến lẫm liệt của người Tạng những năm đầu thế kỷ 20, là ngọn tháp Thập Vạn Phật trải mình dưới nắng gió đã hơn 500 năm vẫn vẹn nguyên màu sắc, và đặc biệt là sự cởi mở thân thiện của người dân địa phương mà tôi tin rằng rất khó gặp bên trong những thành phố lớn của Tây Tạng ^^

Trời lúc này đã về chiều, xe lại rong ruổi gần 90 cây số nữa đưa du khách đến với thủ phủ của vùng Tsang – thành phố Shigatse, và xin hẹn trở lại với bạn đọc trong phần 2 của bài viết ngày 6

Tây Tạng Du Ký – Ngày 5: Potala Palace

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 14-07-2010

4

4. Thăm cung điện Potala:

Rời khỏi Đại Chiêu Tự, chúng tôi hướng đến trái tim Lhasa – cung điện Potala – trong lòng khấp khởi sắp được đặt chân vào hành cung uy nghi nhất, đẹp nhất, ý nghĩa nhất trong mọi chuyến hành hương Tây Tạng. Nếu Jokhang Temple được coi là điểm đến tâm linh Phật giáo thì Bố Đạt La cung có thể coi là viện bảo tàng sống động nhất cho văn hoá Tây Tạng và là biểu tượng quyền lực gắn liền với các đời Tạng Vương và Đạt Lai Lạt Ma. Nhìn trên bản đồ, thủ đô Lhasa gần như được phân thành 2 khu rõ rệt: khu phía Tây tập trung người Hán và khu phía Đông tập trung người Tạng. Tuyến phố lớn Beijing Donglu nối liền 2 khu vực này, chính giữa 2 khu là quảng trường Potala cực rộng và cung điện Potala sừng sững trên ngọn Hồng Đồi tại trung tâm ^^

Về mặt lịch sử, Potala Palace hay Bố Đạt La cung được khởi công từ thời vua Songtsen Gampo nhưng lúc đó mới ở dạng hành cung nhỏ. Đến đời Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 Losang Gyatso thì Potala mới chính thực được chọn làm cung điện của Hoàng Mạo Giáo và nơi đây được kiến thiết lại với quy mô cực lớn, xây cất trong suốt 50 năm mới hoàn thành, tính đến nay đã hơn 6 thế kỷ mà không bị biến động thiên tạo hay nhân tạo nào làm hư hại. Sau này, cùng với sự ra đời của cung điện mùa hè Norbulingka, nơi đây chính thức trở thành cung điện mùa đông của các đời Lạt Ma.

Về mặt kiến trúc, Potala toạ lạc trên đỉnh Hồng Đồi (Red Hill hay Marpori) cao 300m so với mặt bằng thành phố – ngọn đồi được tin là tượng trưng cho Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokiteshvara); là 1 trong 3 ngọn đồi thiêng của thủ đô Lhasa: hai ngọn đồi còn lại là: đồi Chokpori tượng trưng cho Kim Cương Thủ Bồ Tát (Vajrapani), và đồi Pongwari tượng trưng cho Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (Manjushri).

Nhìn vào chính giữa cung Potala là Hồng Cung (Red Palace), tường đắp màu son đỏ mà theo văn hoá người Tạng đó là biểu trưng quyền lực:

Trên nóc của Hồng Cung là nơi lưu giữ thi hài của các Đạt Lai Lạt Ma:

Bên phải Hồng Cung là Bạch Cung (White Palace) có tường đá trát đất sét trắng, được người Tạng coi là biểu tượng của hoà bình, cũng là nơi sinh hoạt của các Lạt Ma khi còn tại vị. Kiến trúc lưỡng tông Hồng-Bạch này còn áp dụng cho tất cả các cung điện lớn nhỏ khác xây trong Tây Tạng:

Nhìn sang 2 bên ở chánh Tây và chánh Đông là các vọng gác; cánh trái trên hình là Namgyal Dratsang – nơi sinh hoạt của Tăng ni:

Tổng thể cung điện Potala cao 117m, từ Đông sang Tây có chiều dài 360m, chiều rộng theo trục Bắc-Nam đo được 270m; diện tích hơn 360,000m2 bao gồm 13 tầng, bên trong chia thành hơn 1000 phòng nhỏ với gần chục ngàn Phật điện; vật liệu xây dựng cung là gỗ, đá, và bùn; độ cao trung bình so với mặt nước biển là 3600m, là cung điện xây dựng ở độ cao ấn tượng nhất thế giới. Phải nói rằng đó là một kỳ quan tôn giáo không chỉ riêng trong Lhasa mà của toàn nhân loại!

Lộ trình khám phá cung điện Potala cho mọi du khách: xuất phát từ cửa vào phía Đông bên phải, leo các bậc đá đi lên, du khách sẽ đến được Bạch Cung. Sau khi thăm hết Bạch Cung sẽ theo đường liên thông (trên nóc toà nhà có màu vàng nằm giữa 2 cung) để đi sang mái của Hồng Cung. Thăm Hồng Cung từ tầng cao nhất xuống dưới rồi ra ở cửa sau Hồng Cung, từ đó men theo con đường kora phía Tây để đi ra khỏi Potala. Chú ý: vọng gác và khu điện Namgyal Dratsang không mở cửa cho khách thăm quan; từ cửa vào Bạch Cung cho đến lúc ra cửa sau của Hồng Cung du khách sẽ không được chụp ảnh; các phòng điện nhạy cảm của Potala đều đóng cửa; trong mỗi khu điện thờ mở cửa và ở các hành lang đều gắn camera theo dõi chặt chẽ!

Trước đây phía ngoài Potala cung là hồ nước lớn, giờ đã bị lấp đi, xây thành quảng trường lớn. Con đường mới đang được trồng tỉa lại, chạy trước mặt cung điện:

Bỏ qua đường vào ở cổng chính, chúng tôi vào từ cổng chánh Tây của Potala … và như thế tôi đã đến đây … Sau lần đại trùng tu năm 1989-1994, chính phủ Trung Quốc chính thức đưa nơi đây vào khai thác du lịch. Trên tấm bia đá ghi: Cung điện Potala được Unesco đưa vào danh sách Di sản thế giới năm 1994 ^^

Ở cổng này có bàn kiểm tra hộ chiếu khách du lịch, nếu bạn mang hộ chiếu Việt Nam thì thủ tục kiểm tra nhanh chóng đến bất ngờ sau đó là khu vực máy scan an ninh – mọi thứ chất lỏng dạng chai lọ cỡ vừa và lớn cùng với đồ dao kéo, đồ bắt cháy … đều phải bỏ lại. Sau cửa này du khách mới thực sự đặt chân vào quần thể cung Potala, hình ảnh chánh Tây của cung – khu vực này không mở cửa cho khách vào thăm:

Con đường từ của phía Tây hợp lưu với đường vào từ cổng chính đi đến trạm soát vé thứ hai:

Từ đây ngước nhìn lên, cung Potala cao vời vợi … chỉ vài trăm bậc đá nữa là tới được cửa vào Bạch Cung; mới nghe tưởng dễ dàng nhưng có leo từng bậc Potala mới thấy cái khắc nghiệt của thời tiết Lhasa; trong điều kiện không khí loãng bằng 68% mức thông thường, ở độ cao hơn 3600m, du khách ai cũng thở khò khè trong gió khan và nắng cháy, lại không được quên chụp ảnh xung quanh

Con đường trắng tưởng như vô tận sẽ kết thúc ở cửa lớn dẫn vào khu vực tiền sảnh Bạch Cung. Lên đến đây, ai cũng phải dừng lại thở lấy sức, đồng thời đợi các đoàn đi trước vào hết bên trong để khỏi chen chúc:

Từ đây đã có cái nhìn bao quát hơn về quảng trường phía trước Potala cung:

Tiền sảnh Bạch Cung:

Cổng lớn ở tiền sảnh Bạch Cung trang trí gỗ mun đỏ thắm buộc vải ngũ sắc, phía trên cánh cổng khổng lồ là phù điêu 7 con sư tử trắng với dòng chữ: Cánh cổng dẫn đến sự phồn vinh (The gate of storing prosperity). Nếu được vào cửa chính Hồng Cung, du khách sẽ gặp cổng lớn khác cũng bằng gỗ đỏ nhưng buộc lụa trắng, phía trên là dòng chữ: Con đường dẫn đến sự giác ngộ tâm thức hoàn toàn (The path to perfect spiritual enlightenment). Tuy nhiên cổng chính Hồng Cung thì hiếm ai được ngắm, lý do vì lộ trình đi thăm Potala xuất phát từ Bạch Cung rồi đi thông vào Hồng Cung từ trên nóc, đến lúc xuống thì ra bằng cửa hậu nên không qua cửa chính. Thông tin vừa nêu được người viết tham khảo từ sách The Potala do Unesco xuất bản.

Hai bên cổng là mural của Tứ Đại Thiên Vương (Four Guardian Kings), được xem là tứ tướng hộ pháp của Đại thừa Mật tông. Vị mặt vàng là Bắc Vương Đa Văn Thiên tay cầm lọng, vị mặt đỏ là Tây Vương Quảng Mục Thiên tay cầm stupa, vị mặt xanh là Nam Vương Tăng Trưởng Thiên tay cầm kiếm, và vị mặt trắng là Đông Vương Trì Quốc Thiên tay cầm đàn. Những bức hoạ hình này là những mural lớn nhất, đẹp nhất, và chi tiết nhất về bốn Thiên Vương có thể nhìn thấy trong Tây Tạng:

Trong truyện Phong thần của Hứa Trọng Lâm có tích Ma Giai Tứ Tướng với câu chuyện bốn anh em họ Ma (Ma Lễ Thanh, Ma Lễ Hải, Ma Lễ Hồng, và Ma Lễ Thọ) phò Trụ Vương Ân Thọ đánh Tây Kỳ có nét tương đồng với tứ đại thiên vương. Tuy nhiên khắc hoạ của Ma Giai Tứ Tướng mang phong cách của Đạo giáo chứ không phải Phật giáo, xét về niên đại cũng ra đời trước rất lâu – khi đó nhắm vào cuối thời Ân Thương trước công nguyên và nhà Chu dựng cơ nghiệp đất Thần Châu; còn Phật giáo phải đến thời Đường sau công nguyên mới trực tiếp ảnh hưởng vào Tây Tạng. Các bức tranh tường của bốn vị Hộ pháp ở cung Potala thể hiện thuần tuý quan niệm của người Tạng chứ không hề có sự lai tạp nào.

Tiếp tục đi qua các dãy hàng lang ngắn, du khách sẽ đến được sân trong của Bạch Cung (tiếng Tạng gọi là Deyangshar) vốn là nơi tổ chức các hoạt động lễ hội Phật giáo; bên phải sân là khu nhà 2 tầng màu vàng là nơi sinh sống của Tăng ni, bên trái là phòng tu học của Tăng ni, còn ở giữa là chính điện Bạch Cung:

Bạch Cung nhô cao kỳ vĩ giữa nền trời xanh thẳm, tuy chỉ có 5 tầng lầu nhưng kiến trúc Bạch Cung tiêu biểu cho lối xây thượng thu hạ thách độc đáo mang màu sắc Tây Tạng, những tường xây bằng đá phiến trát đất sét trắng nghiêng vào bên trong chứ không thẳng đứng, mỗi tầng lầu là các cửa sổ lớn và ban công phủ vải bạt đen, trên mái vòm vuông vức sử dụng màu đỏ và màu vàng để trang trí. Tổng hoà 3 màu sắc trắng, đỏ, vàng tượng trưng cho hoà bình, quyền lực, và sự viên mãn. Chỉ tiếc từ cánh cổng này trở vào trong cho đến khi ra cửa sau của Hồng Cung đều cấm chụp ảnh, người viết chỉ chụp lén được vài tấm khi đi thăm quan bên trong và ở đoạn mái nối liền 2 cung:

… Như bị lường gạt, các đoàn khách đi lướt qua các gian điện thờ, ngắm nhìn các pho tượng và tranh tường trong chớp mắt, chưa kịp hiểu mình đang ở đâu thì đã bước tới cửa sau của Hồng Cung:

Ra đến ngoài cửa sau của Hồng Cung, khách du lịch ai cũng thấy hụt hẫng! Nội cung chiến thành vĩ đại của người Tạng đó sao? cung điện mùa đông của Đạt Lai Lạt Ma chỉ là nhiêu đó? Có lẽ do chủ ý của Trung Quốc làm khách thăm quan không ai chiêm ngưỡng được vẻ đẹp quý báu thực sự của Potala: hàng người này đến hàng người khác xô đẩy luồn lách trong những hành lang nhỏ tối om om; giọng hướng dẫn viên oang oang vẳng vào từng góc nhỏ; những căn phòng đóng cửa, những ổ khoá im lìm, camera bí mật bố trí ở tất cả các cửa ra vào; ánh sáng vàng vọt le lói trên cao không đủ soi tỏ bệ thờ, những pho tượng nghìn tuổi được khoá sau những hàng rào gỗ cao quá đầu người, những tấm thangka và tranh tường khuất sau lưới sắt, những mandala 3D cất trong tủ kính mờ, những câu kinh Phạn-Tạng cuộn thành từng gói nằm phủ bụi trên kệ; những tấm biển chú thích sơ sài dưới chân những Stupa vàng ròng cực lớn … Người ta không cảm thấy được sự thâm nghiêm và cao quý của nơi đây, cái hồn xưa cũ của Potala dường như đi vắng!

Người viết may mắn trong lúc sắp rời khỏi Hồng Cung đã kịp mua cuốn sách The Potala của Unesco, ấn bản 1993 giá 160RMB, dành riêng để giới thiệu về cung. Cuốn sách này không bán ở bất cứ đâu ngoài khu vực cung Potala! sau khi mua, cuốn sách được đóng một triện màu đỏ 3 thứ tiếng Anh-Tạng-Trung: A Souvenir of the Potala Palace ^^ Sách dày 165 trang, tất cả đều in màu chụp lại toàn bộ các điểm nhấn kiến trúc của Potala, các điện thờ quan trọng của Hồng Cung và Bạch Cung, những Stupa chính cùng các pho tượng Phật quý giá cất bên trong cung, kiến trúc mái vòm kinh điển của cung … Đây là 1 tài liệu tham khảo cực kỳ quý giá để khách phương xa hiểu được những giá trị văn hoá và thấy hết vẻ đẹp mà cung Potala sở hữu. Xin được giới thiệu với bạn đọc một số hình ảnh chụp lại từ sách, những hình ảnh này hầu như chưa xuất hiện trên mạng, và kể cả có đi thăm Potala ngày nay chắc cũng khó lòng mà mục kích được:

- Bên trái là cổng tiền sảnh Bạch Cung, bên phải là cổng tiền sảnh Hồng Cung:

- Hành lang nội cung sơn son thếp vàng, trên tường là những thangka hoạ hình Đạt Lai Lạt Ma:

- Mái cung Potala toát lên sự oai nghiêm quyền lực:

- Ảnh là đỉnh mái vàng (Golden Dome) của Stupa lớn chứa thi hài Đạt Lai Lạt Ma thứ 13, xây năm 1936. Kiến trúc mái vòm Potala được trang trí đầu chim thần garuda, bên dưới mái là kết cấu ngàm đỡ nhiều tầng vô cùng chắc chắn, đảm bảo vòm chịu được chấn động và gió lớn:

- Ngoài tượng thân của 13 vị Đạt Lai Lạt Ma giữ bên trong cung, Potala còn có tượng vua Songtsen Gampo và các quan đại thần Thổ Phồn:

- Tượng Đức Phật Thích Ca (Shakyamuni) bằng vàng ròng tạc song song với tượng Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 Losang Gyatso bằng bạc từ thế kỷ 17:

- Tượng đồng của Phật A Di Đà (Amitabha hay Amitayus):

- Và tất nhiên không thể thiếu được tượng bạc của đại sư Tông Khách Ba (Tsongkhapa) là người sáng lập Hoàng Mạo Giáo (Gelugpa Sect) tạc từ thế kỷ 17:

- Bức tượng quan trọng nhất trong cung Potala: Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokitesvara) được mang vào Tây Tạng từ thế kỷ thứ 7:

- Stupa Tomb của Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 Thubtan Gyatso: cao 12.97m, rộng 7.83m, làm từ 18,870 lượng vàng ròng, bên trong có chứa cả di hài của Phật Thích Ca Mâu Ni. Đây chỉ là 1 trong hàng chục Stupa bằng vàng ròng được lưu giữ trong cung Potala:

- Trong 4 bậc của Stupa tượng trưng cho Tứ Diệu Đế (có dịp điểm qua với bạn đọc ở bài trước), người Tạng trang trí bằng kim cương, đá quý, hồng ngọc, lục ngọc; mỗi viên có kích thước lớn và đều là tài sản vô giá:

- Những Mandala 3D độc nhất vô nhị bằng đồng được đúc cách đây hàng trăm năm:

- Thangka cổ kể lại lễ hội năm 1695 sau khi cung Hồng Cung được xây dựng xong:

- Thangka cổ hoạ hình Đạt Lai Lạt Ma thứ 1 và thứ 3 – tác phẩm của trường phái Menthang:

- Thangka vẽ từ thời nhà Đường cũng thuộc trường phái Menthang:

- Hình tượng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (Manjushri) qua bút pháp của trường phái Khen-tse từ thế kỷ 17:

- Các báu vật khác trong cung: giáo huấn của Phật viết bằng tiếng Phạn trên giấy cọ (palm tree leaves):

- Khèn làm bằng vàng của người Tạng để thổi báo hiệu giờ nghỉ khi tụng kinh:

- Những pho sách cổ nhất lưu giữ trong cung:

Hy vọng vài hình ảnh trên cho bạn đọc cái nhìn chính xác hơn về những báu vật liên thành đang được bảo quản bên trong bảo tàng văn hoá Potala Quay trở lại với bài viết, chúng tôi men theo con đường phía sau để đi xuống. Được biết con đường này vốn dành cho các nhà sư cưỡi ngựa lên Potala, riêng Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 còn lái xe ôtô lên xuống!

Khu vực công viên phía sau Potala nhìn từ trên cao:

Cánh cổng cuối cùng của quần thể cung Potala, ra khỏi đây, chúng tôi lại bắt đầu một cuộc đi dạo mới, đó là đi hết vòng Kora lớn theo tường bao ngoài dưới chân cung điện:

Con đường này đẹp tuyệt vời! hàng trăm chiếc kinh luân màu đồng óng ả in nổi câu kinh Om Mani Padme Hum xếp dọc theo tường, chốc chốc lại có người đi tra dầu bôi trơn cho từng chiếc, những đoàn người Tạng vừa đi vừa đẩy kinh luân xoay theo chiều kim đồng hồ giữa cái nắng trưa oi ả. Ở đây, người viết gặp nhiều người Tạng hơn cả, khác với bên trong cung điện Potala đa phần là khách thập phương:

Ngước nhìn lên có thể thấy phía sau của cung Potala:

Ba stupa lớn trong công viên phía sau cung Potala:

Con đường Kora kết thúc cũng là lúc du khách đến bến xe buýt trước cửa cung Potala. Lúc này cả đoàn ai cũng đã thấm mệt, mọi người lên xe đi ăn trưa:

5. Món quà Lhasa:

Sau bữa ăn trưa, chúng tôi đi thăm Bảo tàng Tây Tạng (Tibet Museum) nằm đối diện với cung điện mùa hè Norbulingka. Bảo tàng này không lớn nhưng quy tụ khá đầy đủ các thông tin giới thiệu về văn vật Tây Tạng, điểm thú vị nữa là hướng dẫn viên bảo tàng nói tiếng Anh rành rọt, còn về phần trưng bày chắc bạn đọc cũng đoán ra: đó là các phòng giới thiệu về đồ thủ công mỹ nghệ, thảm dệt, lục ngọc hồng ngọc đá quý san hô Tây Tạng, vòng đeo tay và trang sức … nhưng thu hút người viết nhất chính là phòng trưng bày Thangka và Mandala Tây Tạng. Tuy không phải bức nào cũng là tranh cổ, giá cả thì vô cùng – từ vài trăm RMB đến vài chục nghìn RMB – nhưng phần lớn các Thangka treo ở đây đều khá đẹp và được Tăng ni trong tu viện Tây Tạng vẽ trực tiếp, tiền bán tranh sẽ được chia lại 70% cho tu viện. Vốn đam mê nghệ thuật tạo hình Tây Tạng thể hiện qua các bức tranh, người viết đã có món quà thứ hai của Lhasa – đó là bức Mandala vẽ bằng bột vàng trên nền giấy bồi đen, vài hình ảnh xin chia sẻ cùng bạn đọc:

Đi từ vòng ngoài vào trong, Mandala này tạo hình nhiều lớp, mỗi lớp lại được vẽ bằng tay và đánh bột màu tỉ mỉ:

Chính giữa tranh là chữ Om:

Viền ngoài của tranh là các bánh xe Pháp Luân có 8 trục. Theo quan niệm Phật giáo Tây Tạng, bánh xe Pháp có 6 trục là biểu hiện của Lục Đạo (Trời, Người, A tu la, Súc sanh, Ngạ Quỉ, Ðịa ngục), nếu 8 trục là tượng trưng cho Bát Chính Đạo – con đường giải Khổ (Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tinh tiến, Chính niệm, Chính định), còn 12 trục là biểu hiện của Thập Nhị Nhân Duyên. Những bánh xe Pháp thường gặp trong Tây Tạng như bánh xe Pháp trên nóc chùa Đại Chiêu (Jokhang Temple), trên nóc tu viện Sera ở Lhasa hay tu viện Tashilhunpo ở Shigatse đều là loại 8 trục:

Trang trí ở các góc của tấm Mandala:

… Vậy là tôi đã được thoả nguyện, ước mơ bấy lâu đã thành sự thực, tôi đã có được những món quà mà chỉ tới Tây Tạng mới tìm thấy được! Trở về khách sạn mà vẫn còn lâng lâng trong dạ, Lhasa đã gần 8h tối nhưng ráng chiều vẫn dệt vàng trên những đỉnh núi, mở cửa trông ra tôi chỉ thấy cái tĩnh tại của núi xám và đặc biệt là thấy Potala cung lặng im trên đỉnh đồi phía xa.

Chắc phải lâu lắm nữa tôi mới có dịp đứng ngắm Potala như thế này. Chưa thấy ai viết tặng Potala mấy vần thơ, tôi xin mượn ý thơ trong Thăng Long thành hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan sẽ hợp tâm trạng hơn:

    Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
    Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
    Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,
    Nền cũ lâu đài bóng tịch dương …

Chưa đến Potala thì chắc tôi không hình dung được bên cạnh dáng vẻ uy nghi hoành tráng, nơi đây đang trải qua những biến động ngầm, thách thức sự tồn vong của nền văn hoá cao nguyên lâu đời. Người Tạng thường làm ra những Mandala cát rất đẹp và công phu rồi lại quét bỏ đi như một cách biểu hiện tính vô thường của hiện hữu; phải chăng những gì họ tạo dựng được hàng nghìn năm qua đang phải đối mặt với một giai đoạn mới trầm luân hơn, như 1 quy luật của tạo hoá có thịnh có suy? Nói về Potala cung, vị đáo bình sinh hận bất tiêu (đi mà chưa đến cả đời hận khôn nguôi), nhưng liệu đắc đáo hoàn lai hận khả tiêu (đến rồi khi về có thực sẽ nguôi ngoai)?

Bài viết ngày 5 gồm 4 phần giới thiệu tổng quan về Phật giáo và văn vật Tây Tạng cùng hai nơi quan trọng trong Lhasa (chùa Đại Chiêu và cung Potala) đến đây là kết thúc. Khi màn đêm buông xuống trên Lhasa cũng là lúc tôi pha ly trà nóng vừa thưởng vừa đọc cuốn The Potala. Ngày mai lại là một ngày mới đầy nắng gió và tôi sẽ ở trên con đường 250 cây số nối liền Lhasa với Shigatse – thủ phủ vùng Tsang; xin hẹn bạn đọc trong bài viết ngày thứ 6

Tây Tạng Du Ký – Ngày 5: Jokhang Temple

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 11-07-2010

3

3. Đi thăm Đại Chiêu Tự:

Sáng ngày thứ 5 thức giấc, ấn tượng qua 1 đêm là hình ảnh cung Potala chập chờn trong giấc ngủ và cơn nhức đầu khó chịu nhất từ lúc bắt đầu vào Tây Tạng. Ở độ cao trung bình 3500m, thủ phủ Lhasa quả không phải là nơi để khách phương xa dễ dàng thích nghi, chưa kể thời tiết tháng 6 là nóng nhất trong năm (~ 23 độ C ngoài trời), chưa đến 7h sáng mà ánh nắng đã chan hoà trên những rặng núi cao và lan dần vào thành phố

Chỗ chúng tôi ở là khách sạn Himalaya (6 East Linguo Road), phòng khá sạch đẹp, có nước ấm 24/24, trong phòng cũng có máy thở oxi đề phòng khách du lịch chưa quen với không khí loãng trong Lhasa (giá thuê máy là 50RMB), tầng trệt của khách sạn cũng có cửa hàng bán đồ lưu niệm. Nhược điểm lớn nhất của hotel là vị trí hơi xa trung tâm quảng trường Potala, từ đây cần khoảng 15′ đi bộ để đến được khu phố Bakhor. Kế hoạch trong ngày 5 là dạo quanh Lhasa, đi bộ khu chợ Bakhor và vào thăm Đại Chiêu Tự (Jokhang Temple) buổi sáng, đến trưa sẽ đi thăm cung điện Potala, và chiều về thăm bảo tàng Tây Tạng (Tibetan Museum).

Sau bữa sáng nhẹ của khách sạn, chúng tôi bắt đầu lên đường khám phá Lhasa Vài hình ảnh khách sạn Himalaya:

Ấn tượng đầu tiên khi đi dạo phố ở Lhasa là người dân ở đây dậy rất sớm, có lẽ bởi mặt trời ló dạng đằng Đông sớm hơn các vùng khác. Trên đường phố ở đâu cũng bắt gặp đoàn người hành hương và người bản xứ đang cùng song hành hướng về một phía – chắc bạn đọc cũng đoán ra – quảng trường Potala. Không khí ban mai của thủ đô trong lành, mát mẻ, có phần se se lạnh. Trời tuy nắng nhưng gần như không thấy ai mặc áo ngắn tay. Lòng vòng trong những con đường tắm nắng, ngắm nghía những ngôi nhà, góc phố, cùng người dân Tạng, du khách có thể thoải mái chụp ảnh, chỉ trừ các bốt gác lưu động trên đường với súng ống và đồ trực chiến của quân đội Trung Quốc! Một vài hình ảnh qua ống kính người viết về buổi sáng thường nhật nơi đây:

Nét cũ mới chen nhau ở Lhasa chắc không còn xa lạ gì trong những thập kỷ gần đây. Những khung cửa sổ trang trí mandala nhiều tuổi kế cận với những ngôi nhà người Hán mới xây càng minh chứng rõ ràng hơn cho cuộc sống đa sắc tộc trong lòng Lhasa:

Chúng tôi vào thăm một tự viện nhỏ nằm kín đáo bên trong các ngõ hẻm của khu chợ Bakhor, vì tự viện không cho chụp ảnh nên chỉ có vài hình ảnh phía ngoài chia sẻ cùng bạn đọc:

Sáu chiếc kinh luân (pháp khí của Mật tông) ứng với Lục Tự Đại Minh Chú – Om Mani Padme Hum:

Bên trong tự viện, tôi bắt gặp ở gian thờ Phật dắt trên khung cửa là những tờ tiền 2,000 hay 5,000 đồng Việt Nam, đầy phấn khích tôi cũng để lại một tờ tiền Việt làm kỷ niệm mùa hè đến thăm nơi đây ^^ Người Tạng mua những túi cây khô như thế này để đốt, khói trắng từ stupa lan toả trên nền trời xanh thẳm:

Nụ cười người Tạng: tay phải là chiếc chuyển kinh luân xoay theo chiều kim đồng hồ, tay trái là bọc tiền lẻ Nhân Dân Tệ. Tôi mất 1 RMB để chụp được bức ảnh này, tuy nhiên không nên lấy đó làm lạ, cũng chẳng hoài công xét đoán làm gì! Có chăng lại nhớ câu chuyện 2 vị tôn giả A Nan, Ca Diếp xưa cũng từng đòi Đường Tăng phải đổi bát tộ vàng thì mới trao cho Kinh pháp; nhìn theo góc độ học đạo thì đạo pháp không thể truyền thụ dễ dàng cho nên kẻ muốn thọ giáo phải đánh đổi. Thêm nữa, kiến giải của A Nan, Ca Diếp là phải có ăn để sống mà viết ra kinh, còn với tay trắng mà đòi lấy kinh truyền đời thì người sau có mà chết đói. Có thực mới vực được đạo, cái sự tưởng chừng như đơn giản mà khó lãnh hội biết bao! Câu chuyện cũ lướt qua trong tôi giây lát, rồi lại về với thực tại phố phường Bakhor:

Rời tự viện, chúng tôi rảo bước trên con đường dẫn đến Đại Chiêu Tự. Trong tiếng Tạng, Bakhor Square có nghĩa là Bát Giác Nhai, nơi đây lấy Jokhang Temple làm tâm điểm, là nơi nhộn nhịp thứ nhì trong trung tâm Lhasa, chỉ sau quảng trường Potala. Đường đến Jokhang đầy nắng và gió, hai bên đường là các quầy hàng bán đồ lưu niệm Tây Tạng sặc sỡ sắc màu:

Những người dân Tạng đi vòng quanh Đại Chiêu Tự theo chiều kim đồng hồ, coi đó là vòng Kora khổng lồ bao ngoài tự. Ngay trước cửa Jokhang Temple là 2 cây cột lớn quấn kỳ ngũ sắc của Phật giáo. Theo lời của hướng dẫn viên du lịch sau này chỉ cho chúng tôi biết, những nơi nào có 2 cột lớn như vậy là biểu trưng thánh địa được Phật giáo hộ trì, bên trong sẽ thờ tượng Đức Phật cùng chư vị Bồ Tát và các Hộ Pháp nhà Phật:

Ngay bên ngoài Jokhang Temple, ở hai phía tả hữu là dòng người hành hương mộ đạo làm lễ ngũ thể nhập địa tiêu biểu nhất trong các nghi lễ bái Phật của Tây Tạng: trước tiên là 2 tay chụm lại làm thành hình như búp sen chưa nở, sau đó chạm lên đầu, chạm xuống phía dưới cằm, rồi chạm xuống ngực, thân hình theo đó mà cúi thấp xuống, 2 tay đưa về phía trước rồi đầu gối quỳ xuống cho đến khi chạm toàn thân xuống đất, khi đã nằm song song với mặt đất thì 2 tay lúc này ở phía trên đầu, ngón tay có thể lần 1 hạt trong tràng hạt hoặc bấm vào 1 máy nhỏ đeo ở cổ tay; như vậy là làm xong 1 lần lễ. Người Tạng đến Đại Chiêu Tự bày tỏ lòng thành bằng hình thức bái lạy như thế, ít nhất là lần hết 108 hạt trong tràng hạt hoặc làm đến 10,000 lần! (có sự tích đằng sau con số 10,000 này mà người viết sẽ chia sẻ với bạn đọc trong bài viết ngày cuối ở Thanh Hải )

Không ai bảo ai, trong cái nắng ban mai đang chiếu rọi trên nóc chùa Đại Chiêu, chúng tôi im lặng chôn chân trước nghi lễ tôn giáo khổ hạnh nhưng mang niềm tin tâm linh mạnh mẽ đó:

Như đã có dịp điểm qua với bạn đọc, Đại Chiêu Tự được xây vào giai đoạn 642 sau Công nguyên bởi vua Tùng Tán Cương Bố (Songtsen Gampo). Thực ra ban đầu chùa được vua dựng để thờ tượng Phật mà công chúa Nepal Ba Lợi Khố Cơ mang vào Tây Tạng, nhưng sau tượng này được chuyển sang Tiểu Chiêu Tự còn Đại Chiêu Tự lúc đó bắt đầu thờ tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Thập Nhị Tuế Đẳng (Twelve-years old Shakyamuni, hay Jowo Rinpoche) do công chúa Đường quốc Văn Thành mang vào Tây Tạng từ thế kỷ thứ 7.

Bước vào sân chùa Đại Chiêu, du khách sẽ bị cuốn hút bởi sự trang nghiêm toát lên từ kiến trúc rực rỡ pha trộn tinh hoa Ấn Độ, Nepal, Tây Tạng, và cả nhà Đường của Trung Hoa. Màu sắc mỗi cây cột dọc hay xà ngang càng nổi bật hơn khi có ánh nắng chiếu vào. Trên đầu mỗi cột đều có hình Đức Phật Thích Ca với các tư thế toạ thiền và tay ấn khác nhau, còn trên các xà con giữa các thân cột là những câu kinh Tạng:

Mỗi bức tường của Jokhang đều là những bức tranh mural khổng lồ với hoạ hình Phật Thích Ca đẹp cổ kính, màu sắc trải qua hơn 10 thế kỷ nhưng nhìn vẫn lạ lẫm và cuốn hút:

Trước cửa của chính điện Jokhang là tấm màn che lớn có hình ảnh quen thuộc của Phật giáo: Bánh Xe Pháp Luân – tượng trưng cho Phật giáo muôn đời (Buddhism Forever), 2 con hươu trong truyền thuyết Phật Thích Ca thuyết giảng nơi vườn Lộc Uyển (Sarnath), và ngoài cùng là tháp Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya) nơi Đức Phật giác ngộ và giải thoát. Những hình ảnh này còn được tạc thành tượng vàng đặt ngay trên nóc chính điện của chùa. Dưới mặt đất là chữ Vạn (Svastika) bằng đá lớn xoay theo chiều kim đồng hồ mà người Tạng tin rằng sè mang đến phúc lộc an khang:

Chùa Đại Chiêu xây theo hướng Tây, cao 4 tầng và rộng tổng cộng 25,000m2; bên trong chùa ngoài tượng Đức Phật Thích Ca dát vàng được bảo vệ cẩn mật, còn có các bức tượng và gian điện thờ sư tổ Hoàng Mạo Giáo – đại sư Tông Khách Ba (Tsongkhapa) cùng các đại đệ tử, tượng các Tạng Vương Thổ Phồn, tượng các Hộ Pháp của phái Cách Lỗ (Gelugpa Sect) có kích cỡ bằng người thật, và tất nhiên cấm chụp ảnh! Một vài hình ảnh của chùa, kể cả những hình người viết lén chụp được:

Đại Chiêu Tự có rất nhiều phòng như thế này được giăng lưới sắt để bảo vệ, bên trong là những pho tượng lâu đời quý hiếm nhất của toàn Tây Tạng:

Ánh sáng bên trong chùa lấy ánh sáng tự nhiên là chính, kết hợp với những ngọn đèn nến làm từ mỡ bò Yak khiến màu sắc bên trong chùa lung linh huyền ảo hơn. Khác với chùa của Trung Quốc hay Việt Nam, các chùa ở Tây Tạng không nghi ngút khói hương, thay vào đó là mùi nồng nồng của mỡ bò bởi theo người Tạng, mỡ bò Yak khi đốt không tạo ra khói nhờ đó không gây hư hại đến các bức tượng hay tranh thangka treo trong chùa, ngược lại, mỡ bò Yak như phủ một lớp bóng đặc trưng lên các pho tượng. Những người hành hương mộ đạo khi vào lễ bái các tu viện và chùa chiền đều không quên mang theo một chiếc phích chứa mỡ bò Yak mà họ sẽ thành kính rót vào các lư đèn như một sự dâng hiến nhỏ vinh danh Phật pháp:

Vì là chùa linh thiêng nhất và lâu đời nhất trong Lhasa, Jokhang Temple như bị bao vây bởi đoàn người hành hương cũng như khách du lịch tứ phương kéo về, sức chen lấn cũng không kém gì hội chùa Hương! chỉ khác là không ai mang lễ vật hương hoa; riêng người Tạng thì mỗi bước đi đều lẩm nhẩm câu kinh Phạn-Tạng, khiến cho bầu không khí tuy đông nhưng hết sức thâm nghiêm. Nếu nhắm mắt mà tưởng tượng, người ta có thể nghe thấy bài ca tôn giáo nghìn lời hoà chung đang ngân nga dưới mái chùa Đại Chiêu trong ánh nắng vàng tưởng chừng như vô tận của Lhasa; bài ca đó thay tiếng trống chiêng, thay âm chuông mõ, cứ ngân nga nhịp nhàng đều đặn, mới đó mà đã 1300 năm rồi … bao nhiêu triệu triệu con tim đã đến rồi đi, ai cũng để lại Jokhang một chút hồng trần và mang đi một phần thanh tịnh …

Đi hết 1 vòng Đại Chiêu Tự, chúng tôi trở ra ngoài, quay lại chợ Bakhor để hướng về quảng trường Potala. Lúc này trời đã sắp sang trưa.

Điểm đến tiếp theo sẽ là Potala cung ^^