Nepal Du Ký – Phần 1: Nồng nàn Sarangkot

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 07-12-2010

4

Rời Pokhara, chúng tôi bắt taxi chạy lên Sarangkot – ngôi làng nằm trên đồi cao cách Pokhara 15km, nơi có thể ngắm toàn cảnh thung lũng Pokhara và đặc biệt là các đỉnh núi trong dãy Himalayas. Du khách thường lên Sarangkot lúc chiều tà để tận hưởng 1 đêm thanh bình của cao nguyên, quan trọng hơn là sáng hôm sau dậy sớm ngắm bình minh; và chúng tôi cũng không ngoại lệ

Thoả thuận xong giá cả với bác tài xế (taxi lên Sarangkot ngày đầu và đón xuống vào sáng sớm ngày hôm sau, tổng cộng 20 USD), chúng tôi yên tâm khởi hành. Đường lên Sarangkot chạy qua những khu làng nhỏ, con dốc trước mặt ngập tràn ánh nắng chiều ^^ Khi xe đã vào làng, chính giữa làng là 1 ngọn đồi cao, từ đây trở lên khách du lịch buộc phải leo núi. Với những người quen leo trèo thì quãng này cần hơn 2 tiếng đồng hồ. Đỉnh đồi có Tháp quan sát (Sarangkot View Tower), trước kia là tháp canh của quân đội, ngày nay biến thành địa điểm cho du khách cắm tripod và chờ mặt trời lên mỗi buổi đầu ngày Chúng tôi lại đeo balo và xách máy ảnh hì hục leo, tuy rất mệt nhưng bù lại phong cảnh từ Sarangkot nhìn xuống thật sảng khoái!

Đường lên dích dắc những bậc đá lớn nhỏ nhưng địa hình Sarangkot không cheo leo, nhờ thế ai cũng có thể trèo lên ngắm cảnh và tìm cho mình những góc chụp ưng ý mà không sợ nguy hiểm.

Số liệu thống kê của Wikipedia cho biết Sarangkot có hơn 1,000 nóc nhà với dân số chỉ vỏn vẹn hơn 5,000 người nhưng tôi tin là con số thực tế còn thấp hơn nhiều. Và phần lớn các ngôi nhà chúng tôi gặp trên đường đều đã chuyển sang kinh doanh dịch vụ nhà nghỉ khách sạn.

Hiếm hoi lắm mới bắt gặp những ngôi nhà nhỏ của người Nepal xây bằng bùn đỏ bên cạnh những thửa ruộng cạn xanh um như thế này:

Leo mãi leo mãi, đến khi chúng tôi đuối sức thì cũng đặt chân đến nhà nghỉ Superview mà tôi đã đặt chỗ trước qua HostelWorld, nhà nghỉ này nằm phía dưới View Point, chỉ cần 20′ leo từ đây là lên đến được Tháp quan sát. Chúng tôi quyết định dừng chân nghỉ mệt để sáng hôm sau dậy sớm lên Tháp. Một vài hình ảnh của khách sạn Superview:

Tuy không xuất sắc về chất lượng phòng cùng giá cả (15USD/đêm) nhưng Superview giành được thiện cảm của du khách bởi vị trí đắc địa nhìn bao quát xuống thung lũng:

Lúc này ráng chiều đang miên man về trên phố núi:

Trời nhập nhoạng tối cũng là lúc các quầy hàng đóng cửa, người dân Sarangkot cũng trở về nhà:

Chiếm một bàn ngay sát mép đá nhìn ra vùng hồ Phewa dưới chân, chúng tôi thư thái ngắm hoàng hôn buông xuống trên Pokhara:

Khi bóng tối đã trùm lên nuốt chửng thung lũng, Pokhara dưới chân Sarangkot trở nên lung linh huyền ảo hơn …

… cũng là lúc chúng tôi thưởng thức bữa tối ấm cúng bên ngọn đèn nến với bia Everest nổi tiếng của đất nước này ^^

Không có nhiều món ăn đêm như Hà Nội hay cái tấp nập đèn còi của đêm Sài Gòn, lại thiếu đi sắc màu ấm cúng như đêm Lệ Giang hay cái kỳ ảo của đêm Lhasa, đêm Sarangkot có nét tương đồng với đêm Cửu Trại Câu, tiết trời thu khiến vùng cao nguyên trở rét đậm khi không có ánh mặt trời. Mới hơn 9 giờ tối mà phần lớn các ngôi nhà đã tắt đèn đi ngủ, cuộc sống của họ dường như bắt đầu rất sớm mỗi ngày và cũng kết thúc rất sớm. Cả vùng đồi Sarangkot trở nên tĩnh mịch, tôi trở về phòng, không quên chụp vài tấm ảnh thung lũng Pokhara và vùng hồ vẫn đang rực sáng dưới kia:

Và trước khi kịp nhận ra mình đã ngủ 1 giấc say sưa quên đời, tiếng ì xèo bên ngoài hành lang đánh thức tôi dậy, đồng hồ chỉ 5h45 sáng … chỉ còn 30′ trước khi mặt trời mọc trên Sarangkot theo kinh nghiệm của những người ở đây. Trước cửa phòng tôi lúc này là 1 biển sương trắng mịt mờ với dải màu hồng nhạt báo hiệu mặt trời đang lên.

Các cửa hiệu người Nepal cũng đã chong đèn mở cửa từ tờ mờ đất:

Rời khách sạn Superview, chúng tôi hăm hở leo theo những bậc thang đá còn ướt sương nhắm lên View Point, vô số các bạn trẻ Nepal cũng đang từ dưới đồi leo lên:

Tuy chỉ gần 20 phút leo thang nhưng vào lúc 6h sáng khi trời còn chưa tỏ mặt người cộng với không khí se lạnh tràn vào phổi khi gắng sức leo những bậc đá dốc, chúng tôi ai nấy đều tái mét và mệt đứt hơi may sao những bậc cuối đã hiện ra:

Lên được đến Tháp quan sát, tôi dựng tripod và bắt đầu chụp những bức ảnh đầu tiên cho dãy Annarpurna và đỉnh Fish Tail khi mặt trời chưa ló dạng. Cả thung lũng lúc này có màu sắc rất huyền ảo do được bao phủ bởi biển sương khói chưa tan hết:

Không chỉ có chúng tôi mà rất nhiều khách du lịch và người địa phương đã lên đây từ sớm cùng đón mặt trời:

Không cần đợi quá lâu, 6h15 phút sáng, mặt trời phương Đông đã nhô lên với ánh sáng dìu dịu, chúng tôi không ngần ngại cùng nâng máy lên nhắm thẳng chân trời mà chụp:

Ánh sáng lan toả nhuộm hồng từng đỉnh núi của dãy Hy Mã và rọi sáng vùng thung lũng dưới chân núi:

Tôi đã có dịp ngắm mặt trời mọc nhiều lần, nhưng đây là lần đầu tiên ngắm sự chuyển màu của những đỉnh núi tuyết trắng từ xám sang hồng sinh động đến thế! Trong chưa đầy 10 phút, cảnh sắc toàn bộ vùng Pokhara đã hiện ra rõ mồn một dưới ánh sáng chan hoà. Chúng tôi cũng sửa soạn xuống núi để bắt kịp chuyến xe buổi sáng từ Pokhara về thủ đô Kathmandu. Đường xuống núi buổi sáng sớm cũng rất đẹp:

Người dân Sarangkot đang rất mải mê với việc lấy nước trong buổi sớm cao nguyên thanh bình:

Cảnh vật và con người Sarangkot trở nên rực rỡ khác hẳn cái ảm đạm lạnh lẽo về đêm:

Tháp quan sát đã lùi lại sau lưng chúng tôi rất xa, tôi đứng lại tranh thủ chụp xung quanh lần cuối trước khi từ biệt Sarangkot. Đây là ngọn View Tower nhìn từ dưới lên:

Xa kia là đỉnh Fish Tail sừng sững và lòng chảo Pokhara vừa tỉnh giấc:

Dưới chân tôi là những đoạn dốc đá cuối cùng trước khi rời nơi đây tiếp tục cuộc hành trình:

Xuống đến chân núi, bác tài xế tốt bụng đã đợi sẵn để đưa chúng tôi ra bến xe:

Đường đi rất vắng, mất hơn 40′ chúng tôi đã có mặt ở bến xe trung tâm của Pokhara, quang cảnh bến xe lúc này:

Lúc này mới 7 giờ 30 phút sáng, cũng là khi chúng tôi nói lời tạm biệt với thành phố xanh và cao nguyên Sarangkot nồng đượm cùng những người dân Pokhara chất phác để đến với thủ đô Kathmandu. Không quá phát triển và còn thiếu nhiều tiện nghi, cuộc sống còn khó khăn đôi khi có phần nhàm chán nhưng Pokhara để lại trong tôi ấn tượng về sự sạch sẽ, thanh bình và thư thái trong tâm hồn. Quanh quanh là núi, chính giữa là hồ, thung lũng Pokhara như thu mình lại tránh bon chen, lại đẹp dịu dàng níu chân khách phương xa. Tôi nhớ mãi sự so sánh hài hước của bác tài xế khi biết chúng tôi sắp rời Pokhara để đi Kathmandu: “You’re living heaven for hell” mà phải đến sau này khi đã có dịp chứng nghiệm Kathmandu tôi mới hiểu ẩn ý đằng sau câu nói đó, nhưng mọi chuyện phải đợi hạ hồi phân giải ^^

Bài viết Phần 1 hành trình Nepal xin kết thúc ở đây, hẹn gặp lại bạn đọc trong các phần tiếp theo dành trọn khám phá Kathmandu và các vùng phụ cận.

Nepal Du Ký – Phần 1: Trong trẻo Pokhara

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 29-11-2010

6

Nepal hấp dẫn khách du lịch bởi những ngọn núi cao, những thung lũng sâu, những thác ghềnh trắng xoá, những khu rừng Quốc gia, và cả những di tích lịch sử văn hoá lâu đời. Nói đến Nepal, người ta nghĩ đến tháng ngày ròng rã leo núi vượt đèo, những phút giây say sưa ngắm Hy Mã Lạp Sơn ẩn hiện trong mây, những hứng khởi bay ngang nóc nhà thế giới, hay lúc thót tim chèo thuyền nhảy dù cưỡi voi và cả khi tấm tắc chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc đậm nét Nepal – kết quả pha trộn đầy màu sắc của văn hoá cao nguyên Tây Tạng và Ấn Độ.

Trong khuôn khổ chuyến đi ngắn ngày của mình tới Nepal, tôi tự chọn cho mình một vài địa danh trong số rất nhiều điểm dừng chân được ưa thích ở Nepal. Bài viết của tôi không có tham vọng giới thiệu hết về đất nước hình thang này mà chỉ muốn ghi chép lại những điều được thấy trên đường thiên lý. Điểm đến đầu tiên của tôi là thành phố xanh Pokhara nằm ở phía Tây của thủ đô Kathmandu trong lòng thung lũng Pokhara – nơi hội tụ của những độ cao từ 1,000m cho đến 8,000m; cũng là thành phố lớn thứ 2 của đất nước. Bản đồ thành phố khá đơn giản chia làm khu phố mới (New Pokhara), khu phố cũ (Old Pokhara), và trái tim toàn thành phố là vùng hồ Phewa (Phewa Tal). Thông thường khách du lịch còn leo lên khu làng Sarangkot nằm cách Pokhara hơn 15km về phía Tây Bắc để ngắm được toàn cảnh thung lũng cũng như các đỉnh núi cao. Bài viết của tôi xin mượn tựa sách “Ngẫu hứng Sáng Trưa Chiều Tối” của nhà văn Tạ Duy Anh để dẫn truyện

1. Pokhara – Ngẫu hứng Chiều:

Pokhara đón chúng tôi trong tiết trời se lạnh nhiều mây mù cho dù lúc này đã xế trưa. Khách sạn tôi đặt là Hotel Travel Inn (Lakeside-6, Baidam) vị trí khá trung tâm ở khu phố mới với giá 20 USD/ngày, có nước nóng và Internet, cách sân bay khoảng 30′ chạy xe. Lấy phòng khách sạn xong, chúng tôi tranh thủ ăn trưa và bắt đầu khám phá Pokhara ngay đầu giờ chiều.

Vốn là điểm hội tụ của khách du lịch, đường phố Pokhara dường như chỉ có 1 nhiệm vụ duy nhất: kinh doanh ^^ Các cửa hàng cửa hiệu bán đồ lưu niệm, đồ dùng du lịch và quán ăn nối nhau san sát:

Các quán ăn ở Pokhara nói riêng và Nepal nói chung có thực đơn khá đầy đủ chia ra làm món Á, món Âu, và món truyền thống (Newari) nên du khách luôn có nhiều lựa chọn. Giá cả trung bình từ 6-8 USD mỗi người mỗi bữa (có cả tiền đồ uống). Chọn 1 quán có tầm nhìn tốt và không gian ấm cúng, tôi ăn bữa trưa đầu tiên trên nước bạn, cũng là tận hưởng sự thanh bình kỳ thú từ ban công nhìn xuống phố phường. Cũng xe máy, cũng ôtô con, cũng dây điện chằng chịt dọc ngang y hệt quê mình, có chăng là vắng tiếng còi xe và khói bụi tôi cảm tưởng như mình đang ở Việt Nam những ngày giáp Tết ^^

Từ khu phố mới ra đến hồ Phewa chỉ mất 10′ đi bộ. Hồ Phewa là hồ lớn thứ 2 của toàn Nepal, cũng có lẽ là nơi đẹp thu hút nhất trong toàn bộ Pokhara, tuy rằng hồ cũng không thơ mộng là mấy. Những hình ảnh đầu tiên của Phewa làm tôi nhớ đến bến đò chùa Hương ở Mỹ Đức, Hà Tây nhiều hơn

Những chiếc đò trên bến Phewa ngang dọc nhiều màu sắc, nam thanh nữ tú Nepal nô nức lên đò qua hồ, lý do vì giữa hồ có đền thờ Barahi Temple. Giá đò từ bến sang đền và quay lại là 50 NPR/người, còn nếu thuê theo giờ đi vòng quanh hồ là 600 NPR/thuyền.

Chúng tôi cũng nhập hội với các nhóm này để thuê đò sang đảo thăm đền. Hồ Phewa tuy mát mẻ nhưng nước hồ không sạch, cá trong hồ nhiều và được đánh bắt để phục vụ kinh doanh ăn uống. Trên đường chèo thuyền, chúng tôi gặp nhiều nhóm bạn trẻ Nepal rất bạo dạn và nghịch ngợm, hầu hết đều nghĩ tôi là khách du lịch Trung Quốc

Đền thờ Barahi Temple trên đảo giữa hồ đem lại cảm giác thất vọng tràn trề vì quy mô nhỏ bé và kiến trúc đơn giản, hơn cả là vì không hiểu rõ lắm đạo Hindu và đền không dành cho người ngoại đạo vào nên chúng tôi chỉ đứng ngoài chụp ảnh và quanh quẩn trên đảo đợi chuyến đò về

Trời đã về chiều, từ phía đảo chúng tôi nhìn được thấp thoáng đỉnh Machapuchare nổi tiếng (tên khác là: Fish Tail) cao 7,000m nằm trong dãy Annapurna sừng sững phía xa:

Lái đò lại lần lượt trả khách về bến; trong bóng chiều lảng bảng, Phewa dần tối và trở nên cô tịch hơn, lòng người cũng theo đó mà chùng xuống. Chúng tôi quyết định sáng mai sẽ còn trở lại bến đò khi mặt trời lên với hy vọng nhìn được đỉnh Machapuchare rực rỡ hơn!

Sang, về ? (Bảo Sinh)
Cùng chung một chuyến đò ngang
Kẻ thì sang bến,người đang trở về
Lái đò lái mãi thành mê
Sang về chẳng biết mình về hay sang

Bước trở lại khu phố mới, từ rất xa trên đỉnh đồi xanh trước khi nắng tắt, tôi còn nhìn được bóng dáng của Stupa khổng lồ nổi tiếng của Pokhara mà tôi sẽ giới thiệu cụ thể hơn trong phần Ngẫu hứng Sáng của ngày du hý tiếp theo.

2. Pokhara – Ngẫu hứng Tối:

Pokhara về đêm lạnh hơn ban ngày và cũng vắng vẻ hơn hẳn, du khách dường như đã chui hết vào các quán ăn hay quán Internet cafe, để lại đường phố tĩnh mịch hắt ánh sáng từ những cửa hiệu bán đồ lưu niệm:

Internet ở Nepal tốc độ chậm và không ổn định có giá 50 NPR/giờ:

Bên trong các cửa hiệu Pokhara là vô số sách báo, tranh ảnh, bưu thiếp, bản đồ du lịch vùng Himalayas. Đây quả là thiên đường mua sắm đồ giả cổ cho những ai hứng thú với Phật giáo và Hindu giáo, nhưng phải luôn nhớ: mặc cả nhiệt tình, ép giá tối đa phần lớn các món đồ đều có thể trả giá bớt 50% thậm chí 70% so với giá gốc! Đây cũng là kinh nghiệm nhớ đời cho tôi vì mua hớ vài món đồ, đến khi về Kathmandu thì trình độ mặc cả đã được nâng lên một bậc ^^

Một số cửa hiệu này được bán bởi người Tạng từ Tây Tạng sang và giờ đã định cư tại Nepal. Điểm chung trong các cửa hiệu này nếu bạn bước vào sẽ nhận ra ngay: đó là lá quốc kỳ Tây Tạng Sư tử trắng bờm xanh và ảnh Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 Tenzin Gyatso được treo ở vị trí trang trọng nhất giữa nhà. Điều này chúng tôi còn được diện kiến nhiều hơn trong ngày mai khi đi thăm 1 ngôi làng người Tạng ở Pokhara (xin giới thiệu với bạn đọc ở mục tiếp theo).

3. Pokhara – Ngẫu hứng Sáng:

Bình minh Pokhara bắt đầu từ khoảng 6h15 sáng, mặt trời lên rất nhanh nhuộm hồng ngọn Fish Tail. Sau giấc ngủ khoan khoái qua đêm trong tiết trời se lạnh 15 độ, chúng tôi nhanh nhẹn trở dậy và đi đón ánh dương ^^

Phố phường Pokhara cũng đang dần tỉnh giấc, hôm nay hứa hẹn sẽ là 1 ngày đẹp trời đầy nắng:

Như đã định từ hôm trước, chúng tôi rảo bước ra hồ để chào Phewa Lake. Quang cảnh bến đò vắng khách trong nắng sớm yên ắng và phong quang hơn nhiều:

Đỉnh Fish Tail và dãy Annapurnas có thể nhìn thấy rõ từ phía bờ hồ:

Hít thở không khí trong lành quanh hồ xong, chúng tôi bắt đầu lịch trình dạo chơi Pokhara sáng nay: leo lên World Peace Pagoda, ghé qua Old Pokhara, và thăm đền thờ Bindabasini Temple ^^

a) World Peace Pagoda – Tháp Hoà Bình – hay còn có tên khác là Shanti Stupa được xây dựng trên đồi nhìn xuống hồ Phewa và toàn thành phố Pokhara nhờ vào công sức các nhà sư Nhật nằm trong hiệp hội Japanese Nipponzan Myohoji với mục đích vừa hoằng trương Phật pháp cũng là thể hiện mong ước 1 thế giới hoà bình. Cho đến nay đã có hơn 80 tháp như vậy được xây dựng trên khắp thế giới (tham khảo). Từ khu phố mới New Pokhara, du khách có thể đi thuyền vượt hồ Phewa Tal rồi leo tiếp theo đường rừng với thời gian hơn 1 tiếng để lên đến đỉnh đồi hoặc thuê xe taxi chạy vòng qua hồ để lên đến gần đỉnh đồi rồi đi bộ 15′ sẽ tới nơi.

Đường xe chạy lên đồi là những khúc quanh gấp và nhỏ hẹp trên đường đá sỏi gập ghềnh, nhưng phong cảnh loang loáng trong nắng sớm nhìn từ trên cao xuống quả là đẹp tuyệt vời! Sau 20′ chạy xe, chúng tôi dừng lại ở bãi đậu và đi bộ từ đây leo lên đỉnh đồi.

Càng lên cao Pokhara càng thu vào tầm mắt xinh đẹp và xanh hơn. Đường lên đồi thoai thoải có trải đá nên đi lại không mấy khó khăn, tôi tranh thủ chộp được thành phố rẻo cao vẫn còn ướt sương sớm:

Sau 15′ leo đồi chúng tôi đã đền gần cổng vào khu World Peace Pagoda, xung quanh đây có vài nhà hàng nhỏ bán bữa sáng kèm chỗ ngồi ngắm cảnh:

Một em bé gái người Nepal chúng tôi gặp đang trên đường đi lấy nước từ Stupa xuống đồi:

Trước mặt chúng tôi giờ là khuôn viên của World Peace Pagoda:

Ngay chính giữa đỉnh đồi nổi bật lên kiến trúc màu trắng sáng với đỉnh mạ đồng vàng của Tháp Hoà Bình, mô phỏng lại hình dáng của Tháp Niết Bàn (Stupa of Nirvana) nằm trong bộ Như Lai Bát Tháp (Eight Great Stupas) của Phật giáo, lúc này đang vươn mình giữa trời trong cao xanh thăm thẳm:

Bước lên trăm bậc đá trắng, du khách sẽ được chiêm ngưỡng rõ hơn các trang trí ở 4 phía thân tháp hay chính là 4 sự kiện trọng đại trong đời của Đức Phật Thích Ca (Tứ Động Tâm):

- Lâm Tì Ni (Lumbini) nơi sinh của thái tử Tất Đạt Đa (Siddhartha):

- Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya) nơi Phật đắc đạo:

- Lộc Uyển (Sarnath) nơi Phật thuyết pháp lần đầu tiên:

- Câu Thi Na (Kusinara) nơi Phật nhập Niết bàn:

Nhưng đẹp nhất, lớn nhất và ấn tượng nhất vẫn là bức tượng Phật thuyết pháp với tay ấn chuyển pháp và nét mặt hiền từ được người Nhật xây dựng theo phong cách riêng của họ không lai tạp với hình tượng Phật Thích Ca của Ấn Độ, Tây Tạng, hay Trung Quốc. Tôi nhớ ra mình đã từng nhìn thấy hình ảnh này trong câu chuyện Chim Lửa của Osamu Tezuka, đã lâu lắm rồi …

Nhưng World Peace Pagoda không chỉ hấp dẫn du khách bởi kiến trúc Tháp Hoà Bình mà đây còn điểm ngoạn cảnh nhìn xuống toàn cảnh hồ Phewa và nhìn sang những đỉnh núi trắng của dãy Himalayas.

Lòng chảo Phewa phía dưới chân đồi trở nên xanh kỳ lạ với màu xanh của nước hồ, màu xanh của cây lá, và cả màu xanh của trời:

Cận cảnh một mép bờ hồ:

… Có tiếng động cơ ù ù trên cao, ngước lên chúng tôi gặp 2 máy bay cá nhân nhỏ đang lượn trên bầu trời Pokhara ngang qua World Peace Pagoda. Đây là môn thể thao Microlight Flights khá thịnh hành ở Pokhara, còn giá cả thì đắt kinh người (vài trăm EUR cho nửa tiếng bay!)

Ngắm cảnh và chụp ảnh chán chê, chúng tôi leo xuống đồi, tạm biệt ngọn đồi World Peace Pagoda và những màu xanh kỳ ảo để tiếp tục đến với khu phố cũ Old Pokhara.

b) Old Pokhara:

LonelyPlanet giới thiệu Old Pokhara (hay Old Bazaar) như 1 điểm đến để gần gũi với cuộc sống của người dân Nepal trước khi bị thương mại hoá bởi khách sạn và nhà hàng phục vụ du lịch nhưng bản thân tôi thì không nhận thấy vậy. Old Pokhara hay khu phố cũ Pokhara giờ là sự nhập nhằng giao thông, bụi bặm đường sá, và mai một văn hoá. Anh tài xế cho chúng tôi biết giờ người ta ít đến Old Pokhara hơn vì chính quyền thành phố không thành công trong việc bảo tồn các khu nhà cổ, nếu muốn tìm hiểu về kiến trúc Newari thì nên đến thủ đô Kathmandu và các vùng phụ cận Kathmandu sẽ xem được nhiều hơn.

Vài hình ảnh về Old Pokhara lúc gần trưa:

Bên trong khuôn viên các khu nhà này thường là sân lớn và nhiều gia đình quần tụ, cũng hao hao như các khu nhà tam gian hay gặp vùng đồng bằng Bắc Bộ với nhiều thế hệ sống chung:

Không ấn tượng với những dãy phố Old Pokhara, chúng tôi lại bắt taxi chạy thêm 15′ nữa ghé thăm đền Bindabasini Temple của đạo Hindu, cũng là điểm đến cuối trong buổi sáng nay.

c) Bindabasini Temple:

Xây dựng từ thế kỷ 17, trải qua nhiều lần tôn tạo và làm mới, đền Bindabasini là 1 đền thờ quan trọng ở Pokhara thờ nữ thần 8 tay Durga – biểu tượng sức mạnh của nữ giới đạo Hindu. Đền nằm trên 1 quả đồi thấp và được người dân địa phương đến cúng lễ rất đông.

Theo đoàn người đến viếng đền, chúng tôi cũng leo lên thăm quan; vì không phải là người theo đạo Hindu nên tôi chỉ đứng phía ngoài ngoạn cảnh đền. Một đặc điểm dễ nhận ra là kiến trúc khu đền này khá đơn giản và tương tự nhau, màu sắc đơn điệu không toát lên được vẻ trang nghiêm và ý nghĩa thứ bậc, một phần cũng là vì khách du lịch ít ai biết tiếng Nepal hay Hindi để mà tìm hiểu:

Những khuôn mặt trẻ thơ tôi gặp theo gia đình đi lễ:

Thấy tôi chụp ảnh này, bà mẹ đề nghị tôi chụp vài tấm kỷ niệm cho gia đình họ, nhưng bà quên nói đấy là đại gia đình chứ không phải là gia đình nhỏ! Hỏi ra mới biết họ đều là người Ấn Độ mới qua Nepal du lịch và đi lễ dịp Tihar (Lễ Ánh Sáng) của đạo Hindu:

4. Pokhara – Ngẫu hứng Trưa:

Tạm biệt gia đình người Ấn, chúng tôi lúc này đã đói cồn cào sau cả buổi sáng ngược xuôi nên bắt xe chạy về phố mới để ăn trưa. New Pokhara lúc này đã sầm uất náo nhiệt hơn, cửa hàng cửa hiệu mở ra buôn bán nhìn rất thích mắt ^^

Giá cả các loại bánh này khá rẻ nhưng ăn ngon tuyệt, tôi mua 4 cái hết 210 NPR tức là 3 USD hay 60,000 VND! đến giờ nhắc lại vẫn còn thòm thèm …

Chúng tôi chọn ăn trưa ở 1 quán ngay mặt đường có không gian bài trí rất đẹp cả trong lẫn ngoài: nhà hàng Once Upon A Time. Nếu sau này có bạn đọc nào ghé chơi Pokhara nhớ thử món ăn ở quán này bởi vị trí, phong cách phục vụ, chất lượng món ăn và đặc biệt là giá cả không có điều gì phải phàn nàn!

Phía ngoài nhà hàng:

Phía trong nhà hàng:

Và bữa ăn thịnh soạn phong vị Ấn Độ (chicken masala + cơm gạo dài) và Nepal (Nepali Set Lunch) kèm theo trà chanh nóng thoạt trông đã khó kìm chế được Một bữa ăn 2 phần như thế này có giá là 800 NPR, tương đương với 12 USD.

Phía trước nhà hàng Once Upon A Time là tán cây bồ đề lớn được treo rất nhiều cờ ngũ sắc Phật giáo. Dưới tán cây này chúng tôi gặp một người Tạng sinh ra ở Lhasa và sau này chuyển đến Nepal sinh sống đã vài chục năm, có lẽ là cùng thời đoạn năm 58 khi Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đi lưu vong khỏi Tây Tạng.

Sau bữa trưa no say, chúng tôi đi thăm một khu làng người Tạng ở Pokhara. Xung quanh Pokhara có 2 làng lớn mà người Tạng di cư từ Tây Tạng sang Nepal sống tập trung là: Tashi Palkhel ở phía Bắc, và Tashi Ling ở phía Tây Nam. Nơi đây cũng là nguồn sản xuất các mặt hàng giả cổ theo phong cách Tạng để bán cho du khách đến thăm Nepal nói chung và Pokhara nói riêng. Từ sau chuyến đi Tây Tạng mùa hè, tôi luôn có ấn tượng sâu đậm với những gì đến từ cao nguyên Tây Tạng huyền thoại, đó là lý do vì sao tôi ghé thăm Tashi Palkhel. Đường vào Tashi Pakhel dễ đi, chỉ vài cây số từ khu phố mới Pokhara, chúng tôi đặt chân vào làng lúc này đang yên tĩnh sau giờ nghỉ trưa:

Nếu như bạn có thời gian và hứng thú sưu tầm quà Tây Tạng thì Tashi Pakhel là lựa chọn số một trong Pokhara, ở đây bạn không gặp cái huyên náo ồn ào của những người bán hàng Ấn Độ, không có ai chèo kéo săm soi, bạn thả sức ngắm nghía lựa chọn và trò chuyện với người bán hay chính là những người tự tay làm ra các sản phẩm này:

Và giữa nhà tất nhiên sẽ là quốc kỳ Tây Tạng cùng ảnh của Lạt Ma Tenzin Gyatso như muôn năm nay chưa bao giờ thay đổi:

Đi sâu vào làng, chúng tôi gặp trường học, bệnh viện, sân bóng, và chợ – một quần thể nhỏ và sinh động người Tạng đã dựng lên để sống lại cuộc đời nơi đất khách:

Nổi bật nhất giữa Tashi Pakhel là tu viện Jangchub Choeling rực rỡ với kiến trúc điển hình:

Chính điện của tu viện màu sắc bắt mắt với kiến trúc nóc theo phong cách Tây Tạng trang trí bằng biểu tượng quen thuộc của Phật giáo: 2 con hươu chầu bên bánh xe Pháp. Phía trước sân là dãy đại kỳ, bên hông là khu tiếp đón khách du lịch:

Tu viện Jangchub Choeling không thu phí tham quan, du khách đến đây được thoải mái chụp hình ^^

Bên trong chính điện là sự trang nghiêm tĩnh mịch với tông màu mạnh mẽ phô trương mà tôi từng nhiều lần diện kiến. Nhưng chưa lần nào tôi bước vào một gian điện thờ Tây Tạng mà vắng bóng du khách như lần này. Có lẽ tôi cũng không tưởng tượng được rằng ở 1 ngôi làng nhỏ bé xa xôi giữa vùng ngoại ô Pokhara của đất nước Nepal còn nghèo nàn lạc hậu, tôi gặp lại những hình ảnh đẹp mê hồn về Phật giáo, những bức tượng thân của Phật Thích Ca (Shakyamuni), Bạch Đa La (White Tara), Phật Quán Âm nghìn tay mười một mặt (Avalokitesvara), những bức ảnh của Đạt Lai Lạt Ma và Ban Thiền Lạt Ma nghiêm cẩn trên bệ thờ… Xin gửi đến bạn đọc loạt ảnh tôi may mắn chụp được trong chính điện của Jangchub Choeling:

Và cả những vật dụng được dùng trong giờ giảng kinh tranh tụng:

Tôi mải mê chụp ảnh và tận hưởng không gian một mình, đến khi trở ra thì có nhà sư của tu viện đến đóng cửa chính điện:

Rời chánh điện, chúng tôi ghé vào ngôi điện nhỏ xây bên cạnh, trong là vòng xoay kinh luân khổng lồ giữa 4 phía tường bao có nghìn bức tượng Phật rất sống động. Nếu như ai đã có dịp viếng thăm Tây Tạng sẽ nhận ra nét thân quen này. Ở các tu viện như Sera Monastery, Lhasa hay Tashilhunpo, Shigatse luôn có các bức tranh tường mural hoạ hình Phật trong hàng nghìn tư thế pháp ấn và thủ ấn khác nhau; còn ở đây tôi bắt gặp những bức tượng nhỏ bằng đồng đặt trên giá nhiều tầng thay vì tranh vẽ:

Chúng tôi đi xoay kinh luân 3 vòng; trên nóc kinh luân có 1 thanh gậy, khi đi hết 1 vòng gậy sẽ đánh vào chuông nhỏ trên trần tạo ra tiếng kêu đinh đang ^^

Phía sau khu chính điện là khu nhà ở của tăng chúng tu học bên trong Jangchub Choeling, nhìn sơ cứ nghĩ là ký túc xá sinh viên

Thăm thú Tashi Pakhel đã quá lâu, chúng tôi trở ra để tiếp tục hành trình, kế hoạch trong buổi chiều tối nay là lên Sarangkot – khu làng trên núi của Pokhara để sáng mai đón mặt trời lên và thưởng ngoạn không khí vùng cao. Trước khi đi, tôi còn kịp mang theo khoảnh khắc quý giá – những nụ cười người Tạng chào đón khách phương xa:

Con đường chạy lên Sarangkot đi qua một khúc quanh nhìn ra bờ sông mà người tài xế chỉ cho chúng tôi có tên là ‘White River‘, bắt nguồn từ những đỉnh núi xa xôi trong dãy Himalayas. Chúng tôi dừng lại vài phút hít hà cái mát lạnh tinh khiết thổi lên từ khúc sông và ngắm nhìn người dân Nepal quần tụ bên sông:

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang nhưng dường như không ảnh hưởng mấy đến các bạn trẻ Nepal đang lần lượt kéo ra đây tâm sự mỗi lúc một đông

Đến lúc tạm biệt bến sông, chúng tôi tiếp tục chạy lên Sarangkot, cũng vừa là kết thúc phần 1 ở đây và xin hẹn bạn đọc trong phần du ký tiếp theo: Nồng nàn Sarangkot

Nepal Du Ký – Phần 0: Nghìn dặm xa

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 26-11-2010

11

Đường đến Nepal quả không gần! vượt ngàn cây số qua 3 sân bay ở 3 nước, bay trên vịnh Bengal và dãy Hy Mã hùng tráng rạng ngời, tôi đặt chân xuống Nepal sau gần 30 tiếng rời Việt Nam, đồng hồ trên tay chỉ 9.20 sáng trong tiết trời đậm sương mù.

- Ngày 1: bay AirAsia chặng Sài Gòn – Bangkok (9.45am – 11.10am). Lang thang sân bay Suvarnabhumi, Bangkok đến chiều. Bay JetAirway chặng Bangkok – Delhi (18.25pm – 21.30pm).

- Ngày 2: sau khi transit ở sân bay Indira Gandhi International Airport, Delhi đáp chuyến bay sớm của JetAirways chặng Delhi – Kathmandu (7.30am – 9.20am). Tiếp tục đón chuyến bay nội địa của Buddha Air từ sân bay Tribhuvan, Kathmandu đi Kathmandu – Pokhara (12.00pm – 12.30pm). Thực sự nghỉ ngơi và đón gió núi vào lúc 1h chiều ngày thứ 2, tạm quên đi phố thị và còi xe ^^

Thay lời muốn nói, hình ảnh dạo qua các sân bay nước bạn (nước mình thì chắc không có gì để chụp, đa số là các gian hàng giá khủng mà thôi )

1. Sân bay Suvarnabhumi, Bangkok, Thailand

Sân bay quốc tế Suvarnabhumi chắc không còn xa lạ với cộng đồng du lịch Việt Nam ^^ Được mệnh danh là hub trung chuyển giá rẻ hàng đầu châu Á, Suvarnabhumi không làm người ta bất ngờ bởi quy mô và sự chuyên nghiệp của đội ngũ nhân viên hải quan. Nhưng xét trên tính thương mại và thuận tiện thì Suvarnabhumi vẫn chỉ ở mức trung bình khá Đồ ăn trong sân bay ít và giá cả (cực kỳ) đắt đỏ so với trong thành phố. Du khách Việt Nam cũng sẽ cảm nhận được điểm tương đồng này so với sân bay Tân Sơn Nhất hay Nội Bài

Lượn quanh sân bay Suvarnabhumi mà trong đầu chỉ nghĩ đến New Delhi và Nepal, chẳng mấy mà thời gian đã tới chiều. Chuyến bay tiếp theo là của hãng hàng không JetAirways chặng Bangkok – Delhi – Kathmandu ^^

2. Sân bay Indira Gandhi, Delhi, India

Đôi dòng khen ngợi cho JetAirways: phong cách phục vụ chuyên nghiệp, nhanh gọn, thông tin rõ ràng và trợ giúp hành khách nhiệt tình. Là hãng hàng không lớn nhất nhì Ấn Độ, JetAirways có mạng đường bay phủ sóng gần như toàn thế giới. Hành khách đi JetAirways chắc chắn sẽ hài lòng với thực đơn đồ ăn (nấu theo kiểu Bắc Ấn) và thức uống (đầy đủ bia rượu nước giải khát) phục vụ trên chuyến. Nếu ai có nhu cầu ăn món chay có thể đặt trước từ website đặt vé, nhân viên đội bay sẽ lưu ý và phục vụ riêng

Chú ý:
- Hành khách transit ở Delhi trước khi bay qua Nepal không cần xin visa Ấn Độ mà có thể vào transit lounge để đợi bay
- Hành lý gửi sẽ được JetAirways tự động chuyển giữa các chuyến
- Kiểm tra hành lý xách tay rất nghiêm ngặt
- Giá vé JetAirways không cần mua quá sớm, tất nhiên không nên mua quá muộn trước 2-3 tuần giá vé không tăng nhiều, thậm chí còn giảm nhẹ. Riêng chặng Delhi – Kathmandu, ngoài đường bay chính JetAir (dùng máy bay Boeing và có bữa ăn miễn phí) thì còn có đường bay phụ JetLite (dùng Airbus và không kèm theo ăn uống) cũng là hãng con của JetAirways nên thường không hết vé
- Dịch vụ giải trí trên máy bay của JetAirways rất tốt với phim nhạc, bản tin cập nhất mới, chưa kể các thông tin về điểm du lịch trong Ấn Độ

Chuyến bay dài hơi gần 5 tiếng đã hạ cánh xuống Delhi. Ấn tượng với sân bay Indira Gandhi là các gian hàng phong phú mở cửa thâu đêm suốt sáng và giá cả dễ chịu hơn nhiều so với Bangkok, cảm tưởng như đây là 1 Changi thu nhỏ với nhiều hiệu sách, hàng ăn, cà phê và các dãy ghế mềm đủ nằm cả người

“Món” tôi ưa thích:

Không nói chắc ai cũng biết, Ấn Độ luôn tự hào là nơi khởi nguồn của nghệ thuật Kamasutra Sách dịch tiếng Anh, Pháp, Đức với vô số minh hoạ Đông Tây dày mỏng khác nhau có giá từ 20$-40$:

Ngâm ngợi đêm khuya:

Sân bay Indira Gandhi im ắng hơn, có rất nhiều dãy ghế và các khu vực trống để du khách thoải mái ngả lưng chờ lượt bay kế tiếp:

3. Qua dòng sông, qua núi đồi

Tờ mờ sáng, trên loa gióng tiếng gọi bay, chúng tôi hối hả xếp hàng ra cầu cảng, sương mù vẫn giăng kín Delhi. Cảm giác sắp được chạm ngõ Nepal khi mặt trời thức giấc làm ai nấy đều chộn rộn ^^

Sau bữa ăn sáng nhẹ, tôi tranh thủ xem lại LonelyPlanet để nhặt nốt những chi tiết rơi rớt đâu đó về mảnh đất dưới kia:

Những hình ảnh đầu tiên về Nepal hiện ra dữ dội và trùng điệp như thế này đây ^^

Núi ngoằn nghèo và xanh rì chứ không xám trắng như Tây Tạng, có lẽ đây chỉ là các đỉnh trung và thấp, thi thoảng thấy nhà dân và khu resort chễm trệ trên cả quả đồi:

Ra khỏi máy bay, những ai lần đầu đến Nepal chắc chắn sẽ cảm thấy bất ngờ bởi sân bay quốc tế Tribhuvan của nước bạn đơn sơ quá sức, nếu không muốn nói là nghèo nàn về cơ sở vật chất. Tuy không quá lộn xộn nhưng Tribhuvan vẫn cần được kiến thiết lại để khách du lịch dễ dàng di chuyển và tiết kiệm thời gian xếp hàng hơn

Thủ tục thông quan Nepal khá đơn giản: 1 ảnh hộ chiếu và phí 25$ (cho thời hạn 30 ngày) kèm theo mấy phút xếp hàng, nhân viên hải quan sẽ vui vẻ dán một miếng giấy ghi ngày nhập cảnh vào hộ chiếu của bạn ^^

Chú ý:
- Nhận tiền phí visa bằng đô la Mỹ hoặc các loại tiền khác với mệnh giá tương đương: đô Sing, đô Úc, Yên Nhật, bảng Anh, Nhân Dân Tệ, Malaysia Ringgit, India Rupee … (trừ tiền Việt và tiền Rupee Nepal !!!)
- Trong sân bay quốc tế có quầy đổi tiền, tỉ giá nghe tuy cao: 100 USD = 7,000 NPR (Nepali Rupee) nhưng lại tính hoa hồng 200 NPR nên thu về chỉ còn 6,800 NPR. Còn nếu đổi trong thành phố thì không tính hoa hồng và có tỉ giá dao động 6,900 – 6,950 NPR cho mỗi 100 USD
- Nền sân bay Tribhuvan khá bẩn, tốt nhất không nên mang valy sáng màu vì sẽ dính đất cát ngay lập tức

4. Lần thứ tư vào ra máy bay

Vì kế hoạch đi xa về gần, chúng tôi lại kéo hành lý từ bên ga bay quốc tế sang ga bay nội địa của Tribhuvan để đáp chuyến bay trưa đi Pokhara. Mới nghe tưởng gần nhưng sân bay nội địa của Tribhuvan thực ra nằm trên 1 quả đồi nhỏ đi bộ khoảng 15′ và hoàn toàn không có biển chỉ dẫn! may mà có nhân viên an ninh chỉ đường cho tôi ì ạch đẩy xe hành lý leo dốc (>_<)

Chuyến bay thứ 4 liên tiếp trong 2 ngày, tôi đặt vé của hãng Buddha Air với mức giá đắt đỏ: trung bình 100 USD/chiều cho tuyến Kathmandu – Pokhara với thời gian bay chỉ vỏn vẹn 30 phút! Có một vài lựa chọn bay nội địa Nepal như: Buddha Air, Yeti Air, Gorkha Air, Agni Air, Nepal Airlines, Sita Air, Tara Air và đều giống nhau ở chỗ: vé đắt, số chuyến có hạn, máy bay nhỏ

Chú ý:
- Hình thức mua vé trên các website là offline credit card: sau khi hành khách ‘đặt’ vé, nhân viên hãng sẽ gửi email thông báo thanh toán kèm theo mẫu thanh toán để hành khách điền thông tin thẻ credit card. Sau đó hành khách sẽ scan 2 mặt của thẻ kèm theo hộ chiếu gửi lại cho hãng để hãng rút tiền từ thẻ và xuất vé gửi lại qua email (không mất phí dịch vụ). Toàn bộ thời gian qua lại mất từ 3-5 ngày, thông tin hoàn toàn được bảo mật an toàn.
- Vé máy bay là vé điện tử, có thể in sẵn ra mang theo.
- Giá vé giữa các hãng đều được đăng trên các site nên khó có cơ hội giảm giá, trừ khi mua theo nhóm đông người. Ngược lại cũng không lo bị tăng giá nếu đặt muộn
- Hành lý gửi nội địa là 20kg
- Trên chuyến bay thường không có ăn mà chỉ được uống nước lọc âu cũng là thời gian bay thường ngắn
- Sân bay nội địa thường có các porter lượn lờ. Thực chất công việc của họ là mang hành lý từ chỗ check-in lên máy bay, khi có thời gian rảnh, họ sẽ đi lại trước cửa ga nội địa. Nếu họ xách giùm bạn hành lý thì sẽ hỏi tiền boa khi xong việc (có thể là 50-80 NPR/người), nếu bạn không có nhu cầu thì phải nói ngay để họ không xách.
- Tuyến nội địa của Nepal thu thuế mỗi hành khách là 170 NPR, phí này nộp khi checkin chứ không gộp trong tiền vé! Nếu bay quốc tế thì phí này sẽ gộp sẵn trong tiền vé.

Nepal còn khá nghèo nên dịch vụ nội địa rất sơ sài, có thể nói là gần như không có. Sau khi du khách kiểm tra an ninh xong sẽ theo xe chạy ra máy bay. Quang cảnh sân bay nội địa của Kathmandu:

Cứ tưởng được đi mấy chiếc này …

… đến khi dừng lại hoá là màu xanh:

Và còn chưa kịp uống xong cốc nước, chiếc máy bay đời cũ của Buddha Air tửong như vừa cất cánh đã ầm ầm hạ cánh xuống điểm đến Pokhara

Sân bay Pokhara nhỏ và đẹp, nhỏ hơn cả sân bay Buôn Mê Thuột hay sân bay Cam Ranh, nhưng không khí thì trong lành tuyệt vời! Không có tiếng í ới chen lấn, không có cảnh taxi nhộn nhạo, khách phương xa đua nhau chụp ảnh kỷ niệm, thời tiết giữa trưa 12h nơi đây mát mẻ đến kỳ lạ, mệt nhọc sau 2 ngày di chuyển của tôi dường như tan biến. Nhờ lái xe khách sạn đón từ trước, chúng tôi thong thả chạy xe rời sân bay Pokhara để đi vào thị trấn. Bây giờ tôi mới thở phào, cuối cùng Nepal cũng thực sự ở dưới chân ta!

Hành trang khám phá vương quốc dưới chân Hy Mã:

Vài dòng tiền trạm đã xong, xin hẹn bạn đọc trong bài viết tiếp theo Phần 1: Trong trẻo Pokhara ^^

Nepal Du Ký – Lời ngỏ

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 21-11-2010

6

Hà Nội của các cậu như 1 cái làng lớn!“, nhiều năm trước tôi thích thú với nhận định này của khi xem bộ phim “Hà Nội trong mắt ai” của đạo diễn Trần Văn Thủy đến mức tôi không tin có nơi nào khác ngoài Hà Nội có nét kỳ thú đó. Âu cũng là cái vị kỷ dân đất Bắc, cộng với tầm nhìn còn chưa quá lũy tre làng, bẵng đi cho đến một ngày …

Giấc mơ Tây Tạng tôi đã thực hiện mùa hè năm 2010, bụng bảo dạ điểm đến tiếp theo sẽ là Nepal. Mong đợi mãi rồi cũng đến mùa thu và tới ngày du hý nơi đây ^^ Và rồi khi kết thúc chuyến đi, tôi rút thêm ra được 1 nhận định nữa: “Nepal nước bạn cũng là 1 cái làng lớn!“. Lonely Planet (2009) ưu ái dành tặng cho Nepal những dòng chói ngời “điều đầu tiên bạn làm sau khi rời Nepal về nhà là chuẩn bị cho chuyến viếng thăm lần thứ 2“. Đây có thể coi là chào mời du khách phương xa dừng chân ghé lại Vương quốc dưới chân Hy Mã, nhưng xét về mặt nào đó là cách ngoa dụ quá lời!


(Thị trấn Pokhara trong sương sớm …


… và lúc chiều tà)

Hơn 1 tuần rong ruổi những phố phường Nepal, bon bon trên chuyến xe xuôi ngược giữa những di tích cổ mang màu sắc Ấn giáo, 2 lên lên núi ngắm bình mình tô hồng rặng Hy Mã Lạp Sơn, tận hưởng không khí náo nhiệt ồn ào trong phố chợ thủ đô, nhấm nháp cái thi vị mát mẻ tiết trời thu tháng 11 giữa mùa lễ Ánh Sáng (Tihar); hôm nay tôi mới có dịp dành đôi dòng viết về Thiên đường du lịch này (hay ít ra đã từng như thế).


(Bình minh trên hồ Phewa, Pokhara)


(Trên cao xa ngắm núi sông)


(Chập chùng tuyết trắng trong mây)

Du lịch Nepal, khi đi đừng quay đầu lại bởi vì cảnh đẹp lắm, núi non hoành tráng lắm, đường phố bụi bẩn lắm, người đông lắm, giá rẻ lắm, chém cũng đẹp lắm, đồ ăn ngon lắm, cái gì cũng lắm, cũng nhiều, khen chê âu cũng là việc nên làm của người xứ khác ^^


(Trời thu xanh trong vắt ở Patan, Kathmandu)


(Phố phường chật hẹp người đông đúc)


(Bồng bế nhau lên nó ở non)

Nhật trình Nepal sẽ lần lượt được gửi đến bạn đọc qua các phần sau:

- Phần 0: hơn 30 giờ lòng vòng Bangkok – Delhi – Kathmandu – Pokhara
- Phần 1: trong trẻo Pokhara, nồng nàn Sarangkot
- Phần 2: ồn ào Thamel hay thiên đường của dân du lịch
- Phần 3: lạ lẫm Changu Narayan, xưa cũ Bhaktapur, hùng tráng Patan
- Phần 4: Kathmandu quên lối về
- Phần 5: đắm say Nagarkot, rung động Swayambunath, rực sáng Boudhanath
- Phần 6: Nepal trong mắt ai hay khúc vĩ thanh

Tây Tạng Du Ký – Khúc vĩ thanh

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 25-08-2010

18

Quả thật khó cho tôi khi muốn viết lại Khúc vĩ thanh Tây Tạng, bao nhiêu hình ảnh chuyến hành trình 11 ngày cứ đầy ăm ắp, ấn tượng với Tây Tạng vô cùng sâu đậm, những thắc mắc năm xưa nay đã tìm được lời giải đáp trên vùng đất Phật nhưng kéo theo đó là muôn vàn điều mới mẻ và lòng càng băn khoăn hơn … Xin trích đôi dòng từ cuốn Mùi hương trầm (tác giả Nguyễn Tường Bách): “Cảnh quan thiên nhiên tuyệt đỉnh của Tây Tạng không chỉ làm hứng khởi tầm nghe nhìn của chúng ta vốn thường bị mây mù, khói đục và tiếng ồn che phủ, mà còn tích cực hơn, nó dẫn đường mở lối cho nhận thức và ý niệm về cái miên viễn đang hiện hình trước mắt ta. Tâm ta biết rằng cái miên viễn không phải đi tìm đâu xa, nó nằm ngay trước mắt, nó hiện diện ngay trong lòng, chỉ mắt vướng bụi nên không nhìn thấy nó, chỉ lòng chưa tỉnh nên không nhận ra nó. Nhưng cái miên viễn cũng không phải trần trụi sờ sờ ra đó để ai cũng có thể ngắm nghía mà muốn tới với nó phải đi hết đoạn đường phi hữu phi không, phải tự tay mở cánh cửa vô môn, phải nghe được thứ tiếng không lời, phải vào chốn ẩn mật chỉ dành cho những người dâng hết tâm ý, biết buông rơi chính mình. Cảnh quan Tây Tạng là bước khởi đầu, không phải là đoạn kết thúc.” Phải rồi! chỉ là bước khởi đầu, chưa phải là đoạn kết thúc, tôi đang viết cho bước khởi đầu của chính mình

1. Đô Thành mù sương

Tôi có duyên nhiều với Thành Đô (Chengdu) và cũng rất yêu thích thành phố này bởi nó có cái trong mát yên bình của đô thị quanh năm bao phủ bởi sương mù, kèm theo bề dày lịch sử văn hoá của cố đô Thục Hán đến nay đã vài mươi thế kỷ, cũng lại mang dáng dấp tân kỳ đô hội phát triển không thua kém bất cứ nơi đâu. Cũng vì thế tôi chọn Thành Đô, Tứ Xuyên làm điểm xuất phát của cuộc hành trình. Tuy chỉ lưu lại Thành Đô 1 ngày nhưng tôi đã may mắn cảm nhận được phần nào cuộc sống nơi Thiên Phủ Chi Quốc với những ghế kiệu, phòng trà, bạch viên, thi quyển:

Những vẻ đẹp làm mê lòng khách đến Thành Đô: này là Vọng Giang Lầu êm đềm trong sương sớm, này là Văn Thù Miếu giấu trong lòng nó những gì tinh hoa của vùng Tứ Xuyên. Bước chân vào Đệ nhất danh trà quán, người ta thấy một nốt trầm trong đời sống phồn hoa của nơi đây, không líu lo điện thoại, không tíu tít bán hàng, người dân Thành Đô vào đây độc ẩm, đối ẩm, quần ẩm bên những ly trà luôn bóc khói nóng; đáng yêu và thú vị như tiết trời sương khói mát mẻ bao đời của mảnh đất này vậy. Không chỉ có thế, Văn Thù Miếu còn có riêng 1 thư viện Phật học cực lớn bên trong khuôn viên bởi với những ai nghiên cứu Phật giáo thì đều biết rằng hình tượng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là tượng trưng cho trí huệ mênh mông, điều mà sau này tôi được chứng ngộ khi đặt chân vào Tây Tạng.

Thành Đô tiễn tôi bằng 1 cơn mưa nhẹ và màn Xuyên kịch đặc sản khi trời chiều lảng bảng. Phố đẹp, đường đẹp, lầu gác đẹp và người cũng đẹp; Thành Đô trong mưa là 1 ấn tượng khó phai với khách phương xa. Ngồi trong rạp dựng ngoài trời ngay dưới cơn mưa xem hý kịch Trung Hoa lại càng thú vị hơn nữa. Tôi sẽ không lạ nếu mai này bên sông Cẩm Giang người ta chơi thêm hồ cầm đàn địch, để nếu có dịp ghé thăm tôi lại được thả hồn mơ mộng, hỏi rằng có phải đang tấu khúc Hồ trường Dạ Vũ Tiêu Tương?

Xin hẹn Thành Đô không xa lần tiếp theo du ký Trung Hoa sẽ gặp lại cố nhân

2. Tuyết Quốc trong mây

Có rất nhiều cái tên đẹp để dành riêng gọi cho mảnh đất của những độ cao này: Tây Tạng, Tibet, Land of the Snows, Nóc nhà thế giới, hay chỉ đơn giản là Tuyết Quốc. Một sớm mùa hè như mọi ngày nhưng có ý nghĩa đặc biệt với tôi, hôm nay tôi sẽ bay trên rặng Tuyết Sơn để đặt chân vào thánh địa Phật giáo, học theo dấu chân minh triết của người xưa lần tìm về xứ sở huyền thoại.

Rời Thành Đô, tôi đến với cửa ngõ màu xanh của Tây Tạng: Nyingchi (thuộc địa giới vùng Kham cũ). Nhấc từ đồng bằng lên cao nguyên trung bình 3000m so với mực nước biển sau vài tiếng bay, tôi choáng váng bởi không khí loãng và càng choáng váng hơn bởi những hình ảnh đầu tiên về Tây Tạng hiện ra xanh đến thế ^^ Chẳng thế mà những khách du lịch khi khám phá vùng Kham đã đặt cho nơi đây cái tên ‘Wild Wild East’ bởi sự khác biệt cực kỹ rõ nét về cảnh quan tự nhiên và điều kiện thời tiết: này là rừng cây thác nước, kia là núi tuyết thảo nguyên; thiên đường xanh Tây Tạng kỳ thú lắm!

Đường nay mây trắng gió ngàn:

Nếu như đỉnh Phan Xi Păng cao 3143m, trèo lên đến nơi là chạm vào nóc nhà Đông Dương thì ở Nyingchi cũng độ cao tương tự, tôi được chạm vào lá vào hoa của Khả Đình Câu, chạm vào thân cây Đại Bách 2600 năm tuổi, được dừng trên đỉnh Sejila cao 4702m để chạm vào sương gió ngay giữa trưa nắng hè, được hít thở cái mát rượi của rừng Lulang từ vọng lâu nhìn ra đỉnh Namche Barwa cao 7786m, đặc biệt là được chạm vào nét sơ khai của cổ giáo Ninh Mã do đại sư Liên Hoa Sinh sáng lập mà dấu tích còn lưu lại trên tu viện Tsozong giữa hồ Basum-tso:

Tạm biệt tiểu Thuỵ Sĩ vùng Kham, tôi lên đường đến với thành phố của chư thiên, trái tim của Tây Tạng: thủ phủ Lhasa. Hỏi rằng chư Phật nơi đâu? có phải là bức tượng Đức Thích Ca Thập Nhị Tuế Đẳng bên trong đền Jokhang tuổi đời chục thiên niên kỷ hay ngay trước mắt tôi kia dòng người mộ đạo bước đi giữa cái huyên náo của khu chợ Barkhor tay xoay kinh luân còn trong lòng tịnh không, hướng Phật:

Thiên kinh vạn quyển đọc bao nhiêu cho đủ? chỉ một lần lặng im đứng giữa Bát Giác Nhai sẽ dấy lên niềm kính phục nghi lễ tôn giáo khổ hạnh tràn đầy niềm tin của người Tạng dưới mái chùa Đại Chiêu buổi bình minh đầu ngày. Phải chăng người xưa có câu Nhất tu thị, nhị tu sơn để dành cho những con người này? Đời trong đục nào có hề chi, bởi họ đã đem đạo về đây giữa phố phường Lạp Tát hơn nghìn năm có lẻ, kể từ cuộc hôn phối giữa công chúa Văn Thành và Tạng Vương Tùng Tán Cương Bố thế kỷ thứ 7.

Đặt chân đến Lhasa chắc chắn ai cũng phải đến chiêm ngưỡng kiến trúc đồ sộ mang phong cách Tạng của hành cung Potala và tôi không phải ngoại lệ. Chưa bao giờ tôi tưởng tượng được trong đời mình sẽ có dịp leo mấy trăm bậc đá trắng trên độ cao 3600m để bước vào nơi thâm nghiêm cao quý nhất của cộng đồng chính-giáo Tây Tạng; và cứ như thế, tôi hăm hở thở và leo.

13 bức tượng của các Đạt Lai Lạt Ma đời trước, căn phòng của Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 sử dụng khi ngài còn tại vị, những stupa sơn son thếp vàng nạm đầy ngọc quý, những hành lang phô phang màu sắc, những cánh cổng đỏ sậm đầy quyền uy, những cầu thang lên xuống như ma trận, những bức tường được mural nhuộm thắm, những chiếc cột đen nhánh mỡ bò yak treo thangka khổng lồ, mùi nến mùi người mùi gỗ mùi ẩm mốc và mùi tiền … tất cả làm đầu óc của kẻ người trần mắt thịt như tôi rối bời!

Hiếm ai ra khỏi cung điện Potala mà lòng không hụt hẫng, lý do thì muôn vẻ nhưng tựu chung lại là cảm giác xa lạ, mất mát. Đã hơn 50 năm rồi hành cung Bố Đạt La vắng bóng chủ nhân thực sự của nó. Người Tạng cũng không còn lui tới đây thường xuyên, có chăng chỉ đi vòng kora khổng lồ dưới chân điện. Có sinh có diệt, vạn vật vô thường, Đức Thích Ca cũng từng truyền dạy điều đó áp dụng cho cả Phật pháp; mới nghe sao thấy dễ dàng nhưng đến Lhasa đối diện với thực tại đang diễn ra từng ngày thì lòng cay đắng lắm! Nhưng nếu ai hỏi tôi ấn tượng nhất với Lhasa là gì, tôi vẫn sẽ trả lời: “Potala!”. Nếu bạn một lần đến Lhasa, xin hãy bỏ sức leo lên cung, cũng như bạn đã từng không ngần ngại leo Yên Tử, leo chùa Hương, leo Côn Sơn Kiếp Bạc; bởi tôi xin cam đoan với bạn một điều rằng trên cao gió bạt tiếng eo sèo.

Potala kể từ ngày đầu được vua Tùng Tán Cương Bố đặt nền móng năm 637 cho đến lúc Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 mở rộng năm 1645 đã kinh qua bao biến thiên đổi dời; ngày nay trở thành bảo tàng độc đáo cho kiến trúc và văn hoá Phật giáo của người Tạng trên cao nguyên. Và khi đêm về trăng lên là lúc phô bày vẻ đẹp lưỡng tông Hồng-Bạch huyền ảo bí ẩn đó:

Trong cái nắng hè oi ả của kinh đô ánh sáng lúc nào cũng ngập tràn ánh mặt trời, tôi đến thăm tu viện Sera, 1 trong 3 ngôi đạo tràng quan trọng bậc nhất của thủ phủ Lhasa. Ấn tượng của tôi về ngôi đại tùng lâm này là hàng cây rợp bóng trong khuôn viên tu viện và nét mặt hứng khởi của những Tăng sĩ tuổi còn rất trẻ đang sôi nổi truy bài trong vườn Biện Kinh:

Nội dung của những cuộc tranh luận khẩu chiến này tôi không được biết, nôm na người đời bảo đó là cách để đào sâu hiểu biết về Phật điển, nâng cao tri thức trong quá trình tu học, và cũng là cách tinh tiến để đạt cảnh giới cao hơn. Tổng cộng có 6 cấp bậc trong giới Tăng sĩ Tây Tạng và việc vấn đáp sát hạch là bắt buộc để đạt được tới cấp thứ 4! Hoá ra có cách ngồi tập trung thiền định thu mình vào trong để tự giác ngộ, cũng lại có cách biện giải huyên náo để lĩnh hội giới luật như thế. Hoàng Mạo Giáo là tông giáo chú trọng nhất vào việc học đạo đúng cách, đề cao sự rèn luyện của Tăng chúng; hôm nay tôi đã được thấy phần nào điều đó:

Rời Lhasa tôi lại rong ruổi trên con đường thiên lý đến thăm thành phố lớn thứ 2 của Tây Tạng: Shigatse. Ngày đi Shigatse cũng là ngày nhiều sự kiện với tôi khi được tận mắt ngắm những kỳ quan thiên tạo và nhân tạo tuyệt diệu của Tây Tạng. Có ai không nín thở khi đứng trên đèo Karola cao hơn 5000m để ngắm màu xanh ngọc kỳ lạ của hồ San hô Yamdrok-tso đẹp ngỡ ngàng đang uốn lượn dưới chân đỉnh băng vĩnh cửu Nojin Kangtsang sừng sững ở độ cao 7191m:

Vị nữ thần nào năm xưa đã hoá thân vào hồ Yamdrok kỳ ảo này để ngày hôm nay tôi đứng đây chôn chân trong nắng gió ngắm nhìn cảnh quan mà lòng cảm khái trào dâng, thêm giận mình bất tài không tả được cái đẹp siêu nhiên chốn này!

Con đường xuống đèo chạy song song với bờ hồ mang lại góc nhìn khác về Yamdrok-tso, một góc nhìn tâm linh. Ai đến hồ cũng sẽ để ý thấy hàng ngàn ụ đá nhỏ có theo hình dạng stupa rải rác gần mép nước mà người Tạng hàng năm đi hành hương qua đây đều cung kính xếp lại như để lưu dấu trong cõi trần ai này, họ đã đến đảnh lễ chốn hồ thiêng vinh danh Phật pháp.

Khi xe chạy qua lên đỉnh đèo Karola (4960m) là lúc tôi được nhìn gần Nojin Kangtsang hơn, ngắm nhìn cái chói chang của đỉnh băng trong nắng trưa và rùng mình trong cái lạnh không cắt nghĩa được, cũng là dịp khẳng định một điều tôi đã tâm niệm từ lâu về Tây Tạng: Tuyết nơi đây trắng sạch nhất thế gian!

Dấu ấn thiên tạo của Tsang là thế, còn dấu ấn nhân tạo thì sao? tôi dừng chân bên trấn anh hùng Gyantse nghe lại câu chuyện pháo đài Gyantse Dzong nơi bao người Tạng ngã xuống đền nợ nước trong buổi đầu xâm lược của thực dân Anh năm 1904. Một thế kỷ đã qua rồi, pháo đài Dzong ngày nay vẫn sừng sững giữa thị trấn, tiếng súng gươm đã lùi vào quá khứ nhưng cuộc tranh đấu âm thầm lặng lẽ liệu đã thôi âm ỉ?

Gyantse là thị trấn nhỏ và nghèo, đường đi vắng lắm, những ngôi nhà lầm lũi như khô cháy dưới nắng cao nguyên, bóng người Tạng thấp thoáng dưới mái hiên, con đường giữa trấn như hoàn toàn tách biệt bởi dòng xe du lịch cứ chạy rầm rập, ngồi trên xe là khách thập phương tứ xứ như chúng tôi đây, chắc không có ai dừng lâu nơi này để nói được lời chào đúng nghĩa. Chạnh lòng nghĩ đến câu của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: “người vô tâm nhiều như gió bụi trên đường”

Cách pháo đài Dzong không xa là quần thể tu viện Pelkhor Chode – nơi hoà quyện tâm linh và dung dưỡng của 2 tông giáo Tát Ca và Cách Lỗ của Tây Tạng, một hình thức tổng hoà độc đáo mà tôi bấy giờ mới có dịp diện kiến. Chưa chạy đến cổng tu viện đã thấy thấp thoáng phía xa công trình kiến trúc “dị thường” nhất của toàn vùng Tsang nói riêng và cả Tây Tạng nói chung: tháp Thập Vạn Phật

Đếm sao cho đủ chi tiết mười vạn tranh tường, bích hoạ, tượng Phật, khám thờ … bên trong tháp; chỉ biết rằng ai đến đây cũng giật mình bởi kiến trúc Stupa Muôn cửa khổng lồ đã được người Tạng nghiêm cẩn dựng lên thành kỳ quan giữa cao nguyên! Kia là 4 tầng đáy của Tứ diệu đế và 4 đôi mắt hiền từ của đức Thế Tôn đang nhìn ra bốn phương; trên nữa là 13 nấc thang phấn đấu của đời người dẫn lên cõi Niết bàn; trên thượng tầng tháp là sự minh triết, là vòm trời xanh với trăng sao mây trắng nắng vàng. Kiến thức bản thân còn hạn hẹp mà biển trí huệ thì bao la, tôi chỉ biết gửi gắm những điều mình thấy qua vài bức ảnh.

Màu sắc của Kumbum – Thập Vạn Phật tự bên trong và cả bên ngoài phải dùng tính từ dữ dội để diễn tả! Nếu sắc bao quát trắng-đỏ-tím bên ngoài tháp chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiến trúc Nepal thì bên trong mỗi khám thờ tôi bắt gặp cách phối màu rực rỡ và có phần siêu thực của người Tạng. Mỗi gian điện lần lượt là các bức tượng thờ Quán Thế Âm, Thanh Đa La, Bạch Đa La, Tu di, Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền Bồ Tát thì trên tường và trần là sẽ là vô vàn hoạ hình tương ứng. Tôi còn nhớ mãi khi đó trong lúc mắt quáng tay run chân mỏi, tôi bước vào 1 khám thờ rất tối và khi ngước lên bắt gặp tượng thân của Đức Phật Thích Ca toàn một màu đỏ sậm khoác y vàng đang nhìn xuống. Lòng tôi vừa kính sợ vừa thích thú, lễ tạ Ngài xong tôi đi lùi ra cửa mà không dám nâng máy lên chụp. Đây có lẽ là gian điện duy nhất tôi không dám chụp ảnh dù được phép.

Trên đường leo lên tháp, tôi gặp nhiều gia đình người Tạng 2-3 thế hệ cũng đang đi tham bái Kumbum, chúng tôi cùng lần từng bước lên những bậc thang nhỏ hẹp quanh co để khi lên đến đỉnh thì trao nhau nụ cười và cái gật đầu thay lời chào giữa những người không cùng ngôn ngữ. Tôi leo Kumbum mà cứ thắc mắc mãi, người Tạng vốn khá cao to mà sao những cầu thang họ làm nhỏ thế để vừa leo vừa lo đụng đầu? thế rồi tôi tự tìm cho mình lời giải đáp: Có phải chăng từ lúc sinh thời họ đã gắn bó với Phật giáo, khi còn nhỏ họ đã đến thăm viếng nơi đây và khi đã tuổi già xế bóng thì con cháu lại đưa họ tìm về chốn cũ? Nếu xa xưa lúc còn thơ bé đã có dịp vào nơi này thì chẳng phải thế giới quan hoá ra rất rộng lớn hay sao!

Đứng trên Kumbum lúc này chính ngọ, tôi nhìn bao quát toàn trấn Gyantse đang được mặt trời dát vàng ở cao độ xấp xỉ 4000m mà thầm cảm phục câu nói đầy tính triết lý của thi hào Goethe: “Über allen Gipfeln ist Ruh” – Trên tất cả những đỉnh cao là bình yên.

Rời Kumbum, con đường xuyên vùng Tsang đưa tôi đến điểm dừng cuối: tu viện Tashilhunpo ở trung tâm thành phố Shigatse, là nơi tiếp diễn sự truyền thừa của dòng Ban Thiền Lạt Ma. Những tranh chấp phức tạp nhiều thế hệ hiển hiện trong lòng xã hội chính trị-tôn giáo Tây Tạng và cả sự ganh đua giữa 2 đô thị Nhật Khách Tắc và Lạp Tát sẽ là đề tài thu hút bất cứ ai đặt chân đến đây.

Trát Thập Luân Bố ngày nay là nơi tu học của Tăng sĩ vùng Tsang, cũng là điểm du lịch không thể bỏ qua. Câu chuyện dòng Đạt Lai Lạt Ma và Ban Thiền Lạt Ma; người là học trò, người là thầy dạy; cả 2 dòng đều là những đệ tử lỗi lạc của Hoàng Mạo Giáo thờ chung thầy là đại sư Tông Khách Ba; cả 2 dòng đều có tái sinh; mỗi dòng vừa có nhiệm vụ tiếp tục truyền thừa vừa thụ ấn người tái sinh của dòng kia. Mới nghe sao mà rắc rối và biết bao điều cơ mật đi kèm, kẻ hậu sinh như tôi quả không dám lạm bàn!

Bước đi trong Tashilhunpo, tôi bị thu hút bởi tông màu đỏ rực đầy uy quyền của 4 toà điện lớn nhất trong khuôn viên viện cùng những mái vàng ròng phô bày xa hoa minh chứng cho tài nghệ xuất chúng của người Tạng.

Hình ảnh bức tượng Phật tương lai Di Lặc cao 27m với đôi mắt xanh hiền hoà trong điện Jamkhang Chenmo cùng với sân Kelsang rộng lớn bao bọc 4 phía bởi nhưng bức tường đầy màu sắc hoạ hình đức Phật trong muôn ngàn ấn thủ chắc sẽ còn đeo đuổi tôi mãi …

Thiên nhân đồng điệu ^^ tạm biệt những công trình nhân tạo đượm màu tôn giáo vùng Tsang, tôi đi dọc theo dòng Nhã Lung trở lại vùng U để ngắm những nét thiên tạo khốc liệt khác mang bản sắc cao nguyên. Đứng trên triền dốc nhìn ra con sông Yarlung Tsangpo đang chảy giữa lòng U-Tsang, tôi mừng gặp lại người bạn cũ. Mới vài ngày trước tôi lần đầu gặp Nhã Lung khi sông uốn lượn hiền hoà dưới chân đỉnh Namche Barwa đoạn chảy qua rừng xanh Lulang; còn ngày hôm nay sông như xanh hơn in bóng trời trong vắt chảy xuyên qua những vùng đất trống núi trọc cực kỳ hiểm trở, hai bên là lạo xạo sỏi đá. Tôi nhặt vài viên đá và ném mạnh ra xa, dù đã thử nhiều lần và dùng hết sức, hòn nào hòn nấy chỉ rơi xuống lạch cạch và dừng lại bên bờ mép nước. Quá xa, quá rộng, quá hùng tráng! còn con người thì quá nhỏ bé! Ngay cả con đường 318 mệnh danh là Quốc lộ Trung Hoa cũng chỉ như đường kẻ vạch trên tấm màn mênh mông bao bọc bởi trời nước núi non.

Năm xưa vương triều Nhã Lung hùng mạnh rời đô từ thung lũng Yarlung vùng Kham về Lhasa chắc chắn đã qua đây. Bao nhiêu người đã đến và bao nhiêu người sau này sẽ tới, liệu họ có như tôi cũng đứng trước sông và ngâm ngợi về quá khứ vị lai của mảnh đất này? Lý Nhuệ dành trăm trang sách Ngàn dặm không mây để viết về thôn Ngũ Nhân Bình “hai năm không mưa, nắng như thiêu đốt”; có ai đã viết cho nơi đây những lời công bằng? Mà nào có hề chi với dòng Nhã Lung hùng tráng, “Chảy đi sông ơi – Băn khoăn làm gì? – Rồi sông đãi hết – Anh hùng còn chi?”

Trở về vùng U, tôi đi thăm một nơi linh thiêng nằm trong Tứ đại hồ thiêng của người Tạng: thánh hồ Nam-tso. Nằm ở độ cao hơn 4700m, lại bao bọc bởi rặng Nyenchen Tanglha với đỉnh cao chạm trời 7162m, hồ Nam-tso rộng đến 1920 cây số vuông, gần gấp 3 lần quốc đảo Singapore! “Nhỏ” như Singapore tôi còn chưa có dịp đi hết, đứng trước hồ mà tôi tâm phục khẩu phục. Phải gọi nơi đây là biển! biển trời, biển nước, biển gió, biển mây, và may sao không phải biển người ^^

Phong vô tướng, vân vô thường, muốn cảm nhận hết vẻ đẹp và sự linh thiêng của Nam-tso đã là khó rồi, nói chi đến việc nắm bắt dáng hình đang trải dài trước mắt. Khuôn hình tôi có hạn, cảm nhận còn thô vụng, xin tặng lại Nam-tso vài phút giây ngày nắng đẹp tôi đến – một trong muôn ngàn vẻ đẹp khôn tả của chốn biển hồ trên núi, dằng dặc một khúc ca giữa bao la mây trời.

Kỷ niệm với Nam-tso trong tôi còn là buổi trưa rất vui giữa lều 1 gia đình người Tạng sát mép hồ, nơi tôi được thư thả cạn chén trà sữa bò Yak và ăn món sữa chua gia đình làm. Nồng lắm, đậm lắm, béo lắm, khó ăn lắm nhưng hãy ăn đi bởi biết đến bao giờ mới có dịp lên Tây Tạng chỉ để ngồi uống với nhau chén trà như thế?

Tôi rời Nam-tso khi ánh nắng vẫn chưa tắt trên mặt hồ. Cảnh hồ đẹp vô song nhưng tôi cầm lòng không bước xuống để chạm vào mặt nước. Có lẽ mai sau tôi sẽ luyến tiếc vì bỏ mất cơ hội đó, cũng có thể lắm bởi tôi vẫn tham-sân-si

Sang ngày thứ 9 của cuộc hành trình, tôi tạm biệt vùng U để trải nghiệm một điều thú vị khác: đi trên tuyến đường sắt độc đáo nối liền Tây Tạng và người anh em thuở trước: cao nguyên Thanh Hải. Có 2 điều tôi thích thú với đường sắt này, không phải ở những cái “nhất” đã được nghe liệt kê: một là tôi có dịp được ngắm phong cảnh giao thoa giữa ‘Tạng’ và ‘Thanh’ hay chính là vùng U với Amdo thuở trước; hai là tôi có thời gian ngồi chép lại đọc lại những điều dồn dập tôi đã thấy trong vài ngày trước mà cho dù chuẩn bị kỹ càng trước khi đi nhưng tôi không thể ngờ bức màn phía Tây lại che phủ quá nhiều điều lạ lẫm phải tai nghe mắt thấy mới thoả lòng.

Tàu hoả thì vẫn là tàu hoả, nhưng nếu nói thế mà bỏ qua cung đường này thì quả là đáng tiếc. Hãy thử tưởng tượng khi bạn đang yên vị trên tàu chạy băng băng giữa cao nguyên thì nhác thấy 1 đàn cừu con trắng con đen đang bê tha gặm cỏ, bạn vừa nâng máy lên chưa kịp chỉnh ống kính thì tàu chạy qua mất, tiếc lắm, giận lắm, lại chong mắt lên chờ đợi và mai phục, cứ thế bạn luôn tay bấm máy, thu hết những gì đẹp và không đẹp lộ qua khung cửa. Tôi dám cá rằng có những lộ trình đẹp mà trong đời bạn chỉ đi với số lần cực kỳ hữu hạn, đường sắt Thanh-Tạng là một trong số đó!

Trong một phút vô tình của những lúc chong mắt chờ đợi và mai phục đó, dãy Khả Khả Tây Lý chào tôi từ phía rất xa. Sẽ có ngày tôi tạ lỗi với Kekexili bằng những hình ảnh đầy đủ và sống động hơn thay lời chào vội vàng tối nay:

Hành trình càng thú vị thì thời gian như càng trôi nhanh hơn! Khi bóng tối đã buông, tôi cảm tưởng con tàu rất đơn độc, phóng băng băng một mình qua thảo nguyên lúc này đã rơi vào tĩnh mịch. Nhìn đồng hồ tôi giật mình khi thấy đã sang ngày mới, đây là lần duy nhất trong 11 ngày xuôi ngược mà tôi thức khuya đến thế. Một ngày đi qua, tôi đã ở trong địa phận Thanh Hải, và phía xa mặt trời cao nguyên đang lên dần với sắc đỏ dịu mắt khác với cái chói chang thường gặp ở Tây Tạng. Tôi không nhớ lần cuối tôi được nhìn thẳng vào mặt trời như thế này là dịp nào:

Ra đến Tây Ninh, Thanh Hải, tôi tưởng rằng những gì ấn tượng nhất đã qua và ngày cuối là lúc nghỉ ngơi thư giãn nhưng tôi đã nhầm! Một vùng đất tiếp giáp với Tân Cương, Tây Tạng, Cam Túc, Tứ Xuyên; là mái nhà chung của người Tạng, Hán, Hồi, Mông Cổ; là quê hương của những con sông lớn tầm thế giới như Hoàng Hà, Trường Giang, Mekong; cũng là nơi hơn 650 năm trước sinh ra tổ sư Hoàng Mạo Giáo và sau đó gần 600 năm lại đản sinh vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 Tenzin Gyatso. Nơi đây kỳ lạ và thâm nghiêm vượt xa tầm với của bất cứ ai!

Điểm đầu chúng tôi ghé thăm là hồ Thanh Hải rộng mênh mông, xếp hạng là hồ nước mặn lớn nhất trên đất liền của Trung Hoa. Tôi dám cược rằng sớm thôi người Tạng cũng sẽ mất tiền để vào khu vực này vì quanh hồ người ta đang hối hả xây dựng khu resort mang phong cách Tạng! chắc sẽ là khu resort đầu tiên trên thế giới mang phong cách này cũng nên! Điểm dừng thứ hai là tu viện Tháp Nhĩ nằm ở vùng Hoàng Trung, ngôi đạo tràng lớn nhất và quan trọng nhất của phái Cách Lỗ ở Thanh Hải và được mệnh danh là tiểu Potala của Tây Tạng.

Bóng cũ dáng xưa có phần mai một, tu viện Taer nay đã mấy trăm năm tuổi. Nền cũ nơi mẹ Tông Khách Ba dựng stupa cho Ngài gửi gắm vào đây bao nhiêu tình mẫu tử giờ được tôn tạo lớn hơn, đẹp hơn; câu chuyện xung quanh tuổi thơ và sự đản sinh khác thường của Ngài cũng được thêu dệt bóng bẩy hơn. Niềm tin tôn giáo vừa khiến tâm hồn người ta thảnh thơi hướng thiện nhưng cũng là cách sinh lợi cho nhiều người; âu là thuận thời thế thế thời phải thế.

Taer có đến 4 học viện với nội dung học thuật rộng lớn nhưng có vẻ việc Biện kinh tranh luận không được đề cao như trong Lhasa. Tăng sĩ trẻ có, già có, nhìn vừa gần gũi với đời, vừa xa rời lạc lõng. Nếu đem thước đo tiêu chuẩn của giới luật ngày xưa mà xét thì chắc là ngày nay chắc đã xé rào nhiều. Đúng là sự đời vần vũ như mây gió, đổi thời gian đổi cả không gian

Chỉ ở được Thanh Hải 1 ngày tôi đã phải nói lời chia tay và cũng là lúc tạm biệt Tây Tạng, mảnh đất rộng lớn linh thiêng. Thiên Lý Nhãn nhìn xa muôn dặm, liệu có thấy hết những núi cao vực sâu chốn này? Thuận Phong Nhĩ nghe ngoài nghìn trượng, liệu có rõ câu chú ngân nga trong nắng trong mưa và trong tim mỗi người dân Tạng? Gió mây sẽ lại đi về trên nóc nhà thế giới như tự ngàn năm nay vẫn chẳng đổi thay, sẽ tiếp tục thổi tung bay triệu triệu lá cờ ngũ sắc in kinh Phật giăng khắp cao nguyên. Trong lòng tôi tràn đầy xúc động và hạnh phúc bởi cũng có ngày tôi bắt kịp chính mình trong giấc mơ khi trước, bắt kịp mây gió để được một lần trong đời đặt chân đến nơi đây.

3. Ngày về

Tôi rời cao nguyên Thanh-Tạng trong đêm, sáng mai tôi sẽ trở lại với cuộc sống thường nhật ồn ào bận rộn. Sau này có dịp trở lại không biết cảm giác của tôi sẽ ra sao? Mừng vì lại được rong ruổi trên đường thiên lý thăm viếng cố nhân? Lo vì khi đó sức khoẻ và nhiệt tâm liệu còn mạnh mẽ? Buồn vì thời gian tuy trôi nhanh nhưng chưa bằng những biến thiên đa cực cuồn cuộn trong lòng Tuyết Quốc? hay tôi sẽ sợ vì không dám đối mặt với một Tây Tạng quá mới mẻ? Tôi vừa thu được và vừa đánh mất mười một ngày! Có hề gì đâu? Thời gian và mảnh đất này thật là hào phóng. Tây Tạng của ngày hôm qua, hôm nay, và mai sau sẽ luôn hào phóng như thế, dang tay chào đón những ai muốn đến đây để chiêm bái sự hùng vĩ của thiên nhiên hoà quyện với cái đẹp tâm linh của nền Phật giáo Đại thừa Mật tông thâm hậu, dẫu biết rằng vạn vật trên đời không ra khỏi vòng sinh-diệt-tái sinh. Với cuộc đời này, với sự hào phóng ấy, phải sống nhanh lên, có ích hơn, và không chờ gì cả. Có lẽ ngày xưa chính là các Ngài sống thế!

Khi tôi chia sẻ câu chuyện của mình về Tuyết Quốc, người trẻ thì háo hức, người già thì trầm ngâm. Có người hỏi vì sao tôi có nhiều đam mê với mảnh đất Tây Tạng và văn hoá nơi đây đến thế? Tôi đồ rằng kẻ ngoại đạo như tôi giống tấm vải trắng dễ ăn thuốc nhuộm, hiểu biết hạn hẹp của tôi giống cốc nước vơi rất dễ đong đầy; nên khi vén mây bước vào thế giới siêu thực này, tôi đã được thoả lòng mong đợi ^^

Giữa bầu trời lịch sử, ấy muôn triệu ánh sao
Trong dân gian vạn thưở, ấy muôn triệu đoá hoa!

Hôm tôi ở Singapore trời cũng nắng, nhưng là cái nắng “điều hoà”, một thứ nắng xoàng.

Câu chuyện tôi kể các bạn nghe đến đây là hết.