Tây Tạng Du Ký – Ngày 5: Văn vật Phật giáo Tây Tạng

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 10-07-2010

0

Trở lại với bạn đọc trong bài viết ngày 5 ^^

2. Văn vật trong Phật giáo Tây Tạng:

Phật giáo Tây Tạng cuốn hút với nhân loại không chỉ bởi những tinh hoa pha trộn giữa Đại thừa phái (Mahayana), Mật tông (Tantrayana), và tôn giáo cổ Tây Tạng (với Bon giáo là điển hình) mà còn bởi những văn vật để lại cho đời. Có lẽ không nơi đâu trên trái đất này lại quy tụ đầy đủ và nhiều di chỉ Phật giáo như Tây Tạng, từ đền chùa thành quách đại viện tiểu viện cho đến tượng Phật, kinh sách luật tuyển, cờ phướn; rồi đồ dùng trong lễ bái, tán tụng, cúng dường, trì nghiệm, hộ ma, khuyến đạo … dường như không thống kê nào kể xiết! Trong bài viết ngắn ngủi này, người viết không đủ khả năng và cũng không có tham vọng tổng kết hết những tinh tuý của nơi đây, chỉ muốn dành đôi dòng nhắc đến những văn vật thường gặp trên đường khám phá Tây Tạng

a. Đại kỳ ngũ sắc:

Đi thăm Tây Tạng nói riêng và các quần thể Phật giáo nói chung, du khách hay bắt gặp các cờ phướn 5 màu tung bay trong gió. Nếu để ý kĩ, cờ ngũ sắc Tây Tạng có 5 màu (trắng, đỏ, lục, vàng, lam) hơi khác so với lá cờ Phật giáo (trắng, đỏ, cam, vàng, lam). Một trong các lý do có thể giải thích là: lá cờ Phật giáo chính thức ra đời năm 1889, còn Phật giáo Tây Tạng mà ảnh hưởng bắt nguồn từ Ấn Độ giáo thì đã có từ lâu đời, trải qua thời gian sẽ xuất hiện vài sai khác, tuy nhiên điều này không làm thay đổi ý nghĩa biểu trưng.

Số 5 không chỉ tượng trưng cho Ngũ Hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) tương sinh tương khắc làm nên vạn vật, còn ứng với Ngũ Trí của Mật tông miêu tả về trí của con người (Pháp giới trí, Đại viên kínha trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí, Bình đẳng tác trí), đồng thời hợp với Ngũ Uẩn (Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức) là 5 yếu tố tạo thành thân tâm, và là Ngũ Bộ Chú – nghi thức trì niệm của Mật Giáo (Tịnh Pháp Giới, Văn Thù Nhất Tự Hộ Thân, Lục Tự Đại Minh, Chuẩn Đề Cửu Thánh, và Nhất Tự Kim Luân Phật Đỉnh); nhưng trên hết là biểu thị sức mạnh và sự thống nhất giữa Ngũ PhươngNgũ Phật:

Ngũ Phật (Five Wisdom Buddhas) có thể coi là biểu hiện siêu việt nhất trong thế gian, các vị này là thầy của các Bồ Tát. Đồng thời, trong mỗi thời đại loài người, các vị lại hoá thân thành Phật lịch sử – có hình dạng người sống trên thế gian. Trong thời đại chúng ta, vị Phật lịch sử đó chính là Phật Thích Ca Mầu Ni (Shakyamuni Buddha), còn vị Phật được tin rằng sẽ xuất hiện trong tương lai (Future Buddha) là Phật Di Lặc (Maitreya Buddha). Vì thế mỗi khi nhắc đến Ngũ Phương Phật, người ta sẽ nhắc đến vị Phật lịch sử và vị Bồ Tát tương ứng:

- Trung ương: Đại Nhật Như Lai (Tathagata); Phật lịch sử là Ca-la-ca-tôn-đại (Krakuccanda) và Phổ Hiền Bồ Tát (Samantabhadra)
- Hướng Đông: Bất Động Như Lai (Aksobhya); Phật lịch sử là Ka-na-ca-mâu-ni (Kanakamuni) và Kim Cương Bồ Tát (Vajrapani)
- Hướng Nam: Bảo Sinh Phật (Ratnasambhava); Phật lịch sử là Ca-diếp (Kasyapa) và Bảo Thủ Bồ Tát (Ratnapani)
- Hướng Tây: Di Đà Phật (Amitabha); Phật lịch sử là Thích-ca-mâu-ni (Shakyamuni) và Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokitesvara)
- Hướng Bắc: Bất Không Thành Tựu Phật (Amoghasiddhi); Phật tương lai là Di-lặc (Maitreya) và Phổ Chùy Thủ Bồ Tát (Vishvapani)

Quan niệm trên chỉ xuất hiện từ khi Đại thừa Phật giáo ra đời, và càng được củng cố bởi Mật tông Tây Tạng, điều đó cho thấy sự khác biệt và phức tạp, bao hàm muôn yếu tố trong Phật giáo Tây Tạng. Đi khắp cao nguyên Thanh-Tạng, du khách sẽ gặp rất nhiều nơi thờ cúng Ngũ Phật cũng như các Phật lịch sử và chư vị Bồ Tát, bên cạnh các vị Tạng vương và Đạt Lai Lạt Ma, Ban Thiền Lạt Ma. Những sự sắp xếp trên luôn có nghiêm luật chặt chẽ mà hiếm có ai hiểu được, thậm chí phần lớn chúng ta không bao giờ hiểu rõ được mà chỉ biết chiêm bái để kính phục trí tuệ, công sức và sự sáng tạo của người xưa!

b. Statues:

Tượng Phật Tây Tạng nổi trội hơn so với bất cứ nơi nào trên thế giới bởi sự đa dạng phong phú về thể loại, mỗi tượng lại xuất xứ từ nhiều nguồn khác nhau (Ấn Độ, Nepal, Trung Quốc, bản địa), hình thái phong cách dáng ngồi tay ấn nét mặt màu sắc trang phục đều cực kỳ sinh động, toát lên những nét riêng của văn hoá Phật giáo Mật tông huyền bí. Nhìn ngắm mỗi bức tượng Tây Tạng, du khách sẽ bị thu hút bởi đôi mắt Phật không phải lúc nào cũng hiền từ nhìn xuống mà đôi khi mở to nhìn thẳng hay nhắm mắt, tuỳ thuộc theo tư thế thiền định và mỗi dáng ngồi, sau đó là những phù điêu trang trí nhiều tầng bao quanh tượng và cả chân bệ. Người Tạng còn dùng vàng, bạc, đồng, các kim loại quý và ngọc thạch, hổ phách, đá quý … để tô điểm thêm cho tượng, nâng giá trị của các bức tượng lên tầm có một không hai, trở thành tài sản vô giá của dòng Phật giáo nơi đây. Tây Tạng có những bức tượng cá biệt đến vài nghìn năm tuổi được trưng bày bên trong cung Potala. Thường các tu viện lớn và cung Potala đều cấm chụp ảnh nên cách tốt nhất có lẽ là một lần đến Tây Tạng để được chiêm ngưỡng những bảo vật truyền đời nơi đây.


(Tượng Thiên Vương chụp ở Shigatse)

c. Murals:

Murals hay các bích hoạ vẽ trên tường là hình thức nghệ thuật nổi tiếng của Tây Tạng, không chỉ mang tính trang trí làm đẹp với sắc màu cực kỳ sặc sỡ, những bức mural còn biểu hiện đức tin cổ giáo của người Tạng vào trời đất cỏ cây sông hồ núi tuyết, đôi khi là hình thức kể chuyện thuật lại tích cũ việc xưa trong quá trình gây dựng và hoằng trương tông phái, có lúc lại khắc hoạ chân dung những vị Phật, Bồ Tát, La hán, Hộ pháp, Tạng vương cũng như danh sư đạo Phật. Được biết chất liệu để vẽ tranh tường đều dùng nguồn nguyên liệu sẵn có ở mỗi địa phương, qua các công thức pha tạo màu cộng với chất liệu tự nhiên khả năng bảo vệ bức tranh theo thời gian hàng trăm năm mà không phai nhạt hay hư hại gì!


(Bức mural chụp ở Shigatse)

d. Thangkas:

Thangka cũng là các bức tranh Phật giáo bắt nguồn từ Nepal và du nhập vào Tây Tạng từ thời vua Tùng Tán Cương Bố lấy công chúa Nepal Ba Lợi Khố Cơ. Thangka Tây Tạng có thể xem là đỉnh cao của nghệ thuật tượng hình (Iconography) mà đề tài thường gặp là các bức vẽ về cuộc đời Phật Thích Ca Mâu Ni, Pháp luân, Phật Dược Sư, các tư thế toạ thiền, các vị hộ pháp và quỷ thần … Được biết Thangka được vẽ trên vải dệt sợi đay, rồi dùng mật của giống trâu Yawk trộn với bột đá để bồi mặt vải cho mịn, sau đó căng tấm vải đã bồi lên khung gỗ và dùng các loại màu khoáng hay bột vàng để vẽ. Tranh Thangka sau đó được khâu vào khung bằng lụa để dễ dàng cuộn lại, tiện lợi cho việc di chuyển và bảo quản.

Người ta tin rằng Thangka không chỉ cảm nhận được bằng mắt mà còn bằng tâm, việc chiêm bái Thangka một cách trang nghiêm sẽ giúp Phật tử nhập tâm, hoá thân với đối tượng được vẽ trong tranh, cảnh giới này có lẽ chỉ được nội truyền trong các tông phái mà không truyền cho người ngoài. Màu sắc sử dụng trong Thangka cực kỳ sinh động, sặc sỡ và chi tiết tới từng đường nét nhỏ. Chính bởi tính độc đáo của Thangka và ảnh hưởng tín ngưỡng của nó mà người đời sinh ra sùng bái và ham thích sở hữu Thangka, phá vỡ quy luật gốc của tranh là không được trao đổi mua bán! Ngày nay Thangka đã thương mại hoá, việc sao chép, vẽ lại và buôn bán trở nên phổ biến tại thị trường các nước; tuy nhiên vẻ đẹp và sự tinh xảo thì kém xa những Thangka hàng nghìn tuổi của vùng Tây Tạng. Do đó đến Tây Tạng ngắm những bức Thangka cổ đại, người ta vẫn rung động và trân trối bởi nét độc đáo đầy tính Chân Thiện Mỹ toát lên từ mỗi bức tranh.

Trường phái Thangka Tây Tạng nổi bật lên với 2 tên tuổi: Khentse Chenmu SchoolMenthang School, tác phẩm của 2 trường phái này du khách sẽ bắt gặp nhiều khi đi thăm quan hành cung Potala

Mandala: Mandala cũng là những bức hoạ hình giống như Thangka, điểm khác biệt ở đây là Mandala luôn chú trọng vào các hình vẽ vòng tròn biểu thị cái nhìn của người Tạng về thế giới và vũ trụ, trong đó hoạ hình các đức Phật hay Bồ Tát hoặc những biểu tượng Phật giáo. Điểm độc đáo ở Tây Tạng là có những mandala cỡ lớn và cực lớn bằng cát, có Mandala ba chiều mô phỏng các cung điện, và đặc biệt là các tu viện được xây theo kiến trúc Mandala như tu viện Samye (Samye Monastery) đã có dịp nhắc đến trong phần 1 về Phật giáo Tây Tạng ^^


(Bức Mandala lớn vẽ trực tiếp trên tường – ảnh chụp ở Shigatse)

e. Stupas:

Stupa (hay Chorten) xây theo dạng hình tháp, được coi như ngôi nhà lưu giữ phần hồn, cũng giống như các pho tượng được xây để lưu giữ phần xác vậy. Ở Tây Tạng, stupas có mặt ở khắp mọi nơi, không chỉ là nơi chứa tro cốt di hài mà còn chứa những vật dụng bình sinh được Đức Phật hay các môn đệ sử dụng; qua đó thể hiện sự tôn kính của người dân đến di thể của Phật.

Stupa thường gặp gồm nhiều tầng: tầng đáy thấp nhất tượng trưng cho 10 điều tâm niệm (Thập tâm hạnh), tầng tiếp theo gồm 4 bậc tượng trưng cho Tứ Diệu Đế (Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế, Đạo Đế) và Tứ Thần Túc (Dục, Tinh, Tâm Quán), phần trên nữa có dạng bầu là biểu hiện của Ngũ Căn (Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Ðịnh căn, Huệ căn) và Ngũ Lực (Tín lực, Tấn lực, Niệm lực, Ðịnh lực, Huệ lực), phía trên là 13 bậc thang dẫn lên cao tượng trưng cho đường tới cõi Niết bàn chỉ có thể thông qua Bát Chính Đạo, và trên cùng luôn là mặt trăng và mặt trời biểu thị sự minh triết soi sáng mọi vật.

Nổi bật phải kể đến bộ 8 stupa lớn (Eight Great Stupas) kể lại những thành tựu trong cuộc đời tu hành đắc đạo của Phật Thích Ca Mầu Ni; và các Stupa Tomb bằng vàng ròng cực lớn của các đời Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng lưu giữ bên trong cung Potala:

Những chi tiết thú vị khác của văn vật trong Phật giáo Tây Tạng sẽ được nhắc lại khi cùng bạn đọc đi qua những địa danh ở Tây Tạng ở bài viết tiếp theo

Tây Tạng Du Ký – Ngày 5: Phật giáo Tây Tạng

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 07-07-2010

3

Quanh Hồ Gươm không ai bàn chuyện vua Lê
Lòng ta đã thành rêu phong chuyện cũ …
(thơ Chế Lan Viên)

Nhắc đến Tây Tạng mà chưa đề cập đến tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng của vùng đất này thì quả là thiếu sót lớn, ví như đi thăm Huế mà chưa tường chuyện chín chúa mười ba đời vua nhà Nguyễn, hay ghé thăm thánh địa Vatican mà chưa nghe qua về lịch sử giáo hội Roman! Trước khi tiếp tục nhật trình ngày 5 thăm thú thủ phủ Lhasa, người viết xin dành ra đôi dòng vắn tắt điểm qua những cột mốc lịch sử văn hoá cùng những cái tên đã trở thành huyền thoại xuyên suốt nhiều nghìn năm xây dựng và phát triển của cao nguyên Thanh-Tạng.

1. Tổng quan lịch sử tôn giáo Tây Tạng

Phật giáo có nguồn gốc lâu đời từ Ấn Độ, ra đời vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Lịch sử, truyền thuyết, và nhân loại đều công nhận Phật giáo được khai sáng bởi Đức Phật Thích Ca Mầu Ni (Shakyamuni Buddha). Truyện kể về cuộc đời của Đức Phật từ khi đản sinh cho đến khi lập gia đình là năm 16 tuổi; năm 29 tuổi thái tử Tất Đạt Đa (Siddhārtha) quyết chí xuất gia tu hành tìm đường diệt khổ; đến năm 35 tuổi giác ngộ ra chân lý, đắc đạo và trở thành Phật. Trong suốt 45 năm sau đó Ngài đi thuyết pháp, giáo hóa chúng sinh rồi cuối cùng viên tịch nhập niết bàn vào năm 80 tuổi.

Trong Phật giáo chia ra làm 2 trường phái chính: Phật giáo Đại Thừa và Giáo lý Tiểu Thừa. Tiểu thừa (Hīnayāna) nghĩa là cỗ xe nhỏ. Đặc điểm của giáo lý Tiểu thừa là không đưa ra lí thuyết về Niết bàn, mà lấy sự giác ngộ bản thân làm trọng. Trái lại, phật giáo Đại thừa (Mahāyāna) – tức cỗ xe lớn – thì đa dạng hơn, tập trung vào việc mở đường giác ngộ cho chúng sinh.

Bản thân Đại thừa lại được chia ra nhiều bộ phái khác nhau truyền qua các vùng Tây Tạng, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam. Về mặt thời gian, Đại thừa Phật giáo gồm ba kỳ: Sơ kỳ, Trung kỳ và Vãn kỳ. Phật giáo Tây Tạng là sự khai triển độc đáo của Đại thừa Mật giáo thời Vãn kỳ kết hợp uyển chuyển với những nét văn hoá lâu đời của người bản xứ đã có mặt trước đó trên cao nguyên Thanh – Tạng hàng trăm năm, trải qua quá trình sàng lọc, tôn vinh, và cả những cách tân, biến cải, song song là sự giao thoa liên tục với Phật giáo Nepal và Trung Quốc; đã xây dựng nên một thế giới tâm linh huyền bí, một tinh hoa Phật giáo có lẽ là rực rỡ nhất trong lịch sử nhân loại!

a. Thời Phật giáo Tiền truyền:

Đi ngược dòng thời gian, sử cũ chép chuyện vua Nam Nhật Tùng Tán (hay Luân Tố Tán, Namri Songtsen) – vị vua đời thứ 32 của Tây Tạng – đã xây dựng vương triều Nhã Lung (Yarlung) trong lòng thung lũng Nhã Lung, quân đội của người Tạng khi đó hung mãnh, bách chiến bách thắng. Nhưng phải đến thời con trai ông là vua Tùng Tán Cương Bố (hay Khí Tông Lộng Tán, Songtsen Gampo) (629-650) thì quốc gia Thổ Phồn mới thực sự thống nhất và hùng cường. Sau khi tiêu diệt nước Thổ Cốc Hồn (1 hãn quốc ra đời trong loạn Ngũ Hồ thập lục quốc của Trung Hoa – nay thuộc tỉnh Thanh Hải), ông tiến về phía Đông và bang giao với nhà Đường (nhắm vào thời kỳ vua Đường Thái Tông). Bước ngoặt lịch sử bắt đầu từ đây, vua Đường Thái Tông đem cháu gái của mình là công chúa Văn Thành (Princess Wencheng) gả cho vua Songtsen Gampo. Cùng lúc đó, trong cuộc chiến đánh xuống phía Nam chinh phục nước Ni Bạc Nhĩ (hay Nepal ngày nay), vua kết hôn với công chúa Nepali Ba Lợi Khố Cơ (Princess Bhrikuti Devi). Hai cuộc hôn phối với hai công chúa đều là đệ tử Phật giáo, lại thêm những ảnh hưởng tất yếu đến từ vùng biên ngoại (mà ở đây là Ấn Độ và Trung Quốc), đã hun đúc tinh thần Phật giáo từ từ nhưng mạnh mẽ giữa lòng Tây Tạng – mà khi đó vẫn còn theo quốc giáo cũ Bon.

Vua Songtsen Gampo sau đó cho ban hành Thập Hiền Thiện (mười điều hiền thiện) và Thập lục Yếu (mười sáu yếu luật) lấy Phật giáo làm kim chỉ nam để răn dạy dân chúng. Còn hai hoàng hậu của ông mang theo những tài sản vô giá từ đất nước mình như tượng Phật A Súc Kim Cương, tượng Phật Di Lặc, tượng Quán Thế Âm Bồ Tát, tượng thái tử Tất Đạt Đa, tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Phật, cùng kinh luận và văn vật khác, kèm theo các Tăng Ni tháp tùng. Có lẽ là nhân duyên hay cũng là định mệnh lịch sử, sự khác nhau về hình thái và triết lý Phật giáo của Ấn Độ – Nepal – Trung Quốc không những không bài trừ nhau mà còn dung hoà, bổ sung cho nhau, tô thắm sắc màu đa dạng của Phật giáo Tây Tạng. Do đó, người ta sau này ghi công khai phá Phật giáo lớn nhất cho vua Tùng Tán Cương Bố, và tất nhiên không thể quên vinh danh hai hoàng hậu của ông. Họ sùng bái hai bà như Đa La Thiên Nữ (Tara), là người mẹ cứu độ chúng sinh (Độ Mẫu nữ tôn của Mật tông): coi công chúa Văn Thành là hoá thân của Thanh Đa La (Green Tara), và công chúa Ba Lợi Khố Cơ là hoá thân của Bạch Đa La (White Tara). Cũng phải để ý rằng, từ đây người dân Tây Tạng không chỉ sùng bái Phật giáo mà còn coi trọng các vị vua của họ ngang với Phật, coi các vị vua và những người nổi tiếng là hoá thân nhiều kiếp của Phật.


(Ảnh vua Songtsen Gampo và hoàng hậu Văn Thành bên phải, hoàng hậu Ba Lợi Khố Cơ bên trái)

Để có nơi thờ cúng và lễ kính Tam Bảo (Tam Bảo bao gồm Phật Bảo Buddha – nơi thờ Phật, Pháp Bảo Dharma – lưu trữ kinh sách giáo pháp, và Tăng Bảo Sangha – nơi học tập tu dưỡng của tăng ni), vua Songtsen Gampo đã lấy vùng Lạp Tát (Lhasa) làm trung tâm và cho dựng hành cung Bố Đạt La (Potala). Đồng thời để có sự phân biệt giữa hai hoàng hậu, vua đã cho xây 2 ngôi chùa: Đại Chiêu Tự (Jokhang Temple) và Tiểu Chiêu Tự. Đại Chiêu Tự dành cho công chúa Văn Thành thờ tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, còn Tiểu Chiêu Tự dành cho công chúa Ba Lợi Khố Cơ thờ đức Đông Phương A Súc Phật (Kim Cương Phật). Nếu bạn đọc hứng thú tìm hiểu sâu hơn nữa có thể tham khảo cuốn truyện Mật mã Tây Tạng của dịch giả Lục Hương vừa ra mắt ở Việt Nam năm 2010, tuy câu chuyện pha màu dã sử hư cấu nhưng ít nhiều đều dựa theo chính sử vùng Thanh – Tạng mà chép lại. Đại Chiêu Tự ngày nay vẫn còn được bảo quản tốt và đón du khách vào tham quan, chỉ có Tiểu Chiêu Tự đã bị huỷ hoại sau Cách mạng văn hoá. Bài viết của ngày 5 sẽ giới thiệu với bạn đọc về cung điện Potala và chùa Đại Chiêu

Vua Songsten Gampo mất đi, vương triều Thổ Phồn lại tục truyền thêm 4 đời nữa và tiếp bước khuyếch trương Phật giáo. Đến giai đoạn những năm 680-742, vua Xích Đức Tổ Tán (hay Khí Đãi Xúc Tán, Me Agtsom) lại được vua Đường Trung Tông đem công chúa Kim Thành (Princess Jincheng) gả cho. Kim Thành công chúa cũng là một Phật tử, bà đã mang vào Tây Tạng vô vàn Phật điển và Dược học, Số học của Trung Quốc. Từ đây các tài liệu quý báu này được dần dần dịch ra Tạng văn và lưu truyền rộng rãi. Đặc biệt hơn, con trai bà, mà sau này trở thành vua Xích Tùng Đức Tán (hay Cật Phiêu Song Đề, Trisong Detsen) (755-780) là người có công lớn trong việc đưa Phật giáo lên một tầng hưng thịnh nữa, thoát khỏi vòng suy vong do sự bài xích phe phái cũng như áp lực ngầm của cổ giáo Bon. Sức mạnh quân sự của thời vua Xích Tùng Đức Tán thậm chí còn vượt xa giai đoạn vua Tùng Tán Cương Bố; biên giới Tây Tạng bành trướng ra Thanh Hải, Tứ Xuyên; có lúc quân đội Thổ Phồn còn vây hãm Trường An và đánh sang Ấn Độ. Vua cũng là người cho xây dựng Tu viện Phật giáo đầu tiên ở Tây Tạng: tu viện Tang Diên (Samye Monastery), thuộc địa giới vùng U. Tu viện này được xây trong vòng gần 20 năm, có kiến trúc độc đáo gồm 3 tầng lớn mà tầng 1 theo phong cách người Tạng, tầng 2 xây theo phong cách nhà Đường, và tầng 3 là dựa theo cấu trúc Ấn Độ.


(Samye Monastery)

Một sự kiện quan trọng khác đó là việc vua Xích Tùng Đức Tán khi còn tại vị đã thỉnh được đại sư Liên Hoa Sinh (Padmasambhava) từ Ấn Độ sang Tây Tạng để truyền đạo. Không giống như những người đã từng đi truyền đạo Phật ở Tây Tạng trước đó, đại sư Liên Hoa Sinh đã là người đạt được đại thành tựu (Guru Rinpoche) về Mật tông, hiểu được sự khác biệt của cổ giáo Bon so với Phật giáo: đó là sự tôn sùng quỷ thần và bùa chú của Bon giáo! Ông cùng 25 đệ tử dùng lý luận Phật môn kết hợp với Mật chú hàng phục yêu ma, đem sức mạnh yêu ma biến thành uy lực hộ pháp cho cửa Phật, dần dần như thế đã cảm hoá và dẫn dụ người dân Tây Tạng tình nguyên quy y Tam Bảo Từ đây đánh dấu sự ra đời của tông Ninh Mã (Nyingma Sect) – tông đầu tiên của Phật giáo Tây Tạng mang hoàn toàn bản sắc riêng của mảnh đất cao nguyên này Phái Ning Mã có sắc phục mũ đỏ, nên còn được gọi là Hồng Mạo Giáo; Liên Hoa Sinh được coi là sư tổ của tông phái này. Dấu ấn của phái Ninh Mã rõ ràng nhất ở vùng Kham – phía Đông Tây Tạng, thể hiện ở những tu viện như Lamaling Monastery (thuộc Nyingchi), Tsozong Monastery (trên hồ Basum-tso) ^^


(Lamaling Monastery)

Dòng thời gian lại trôi chảy, đến giai đoạn 818-838, vua Tạng đời thứ 41 là Xích Tổ Đức Tán (Tri Ralpacan) lại xây dựng sức mạnh quân sự của Thổ Phồn đến mức cực thịnh và tiếp tục chiến tranh với nhà Đường. Khiếp sợ uy thế Tạng vương, nhà Đường với nước Thổ Phồn đã đồng ý ký minh thệ Sinh Cửu Liên Minh Bia để thương thuyết hoà bình cho vùng biên cảnh (the Sino-Tibetan treaty); cho lập 3 bia đá khắc lại văn kiện này: một bia giữ ở cửa đền Jokhang trong thành phố Lhasa, một bia giữ ở biên giới 2 nước, và một bia giữ trong kinh thành Trường An (Xian). Đến nay 2 văn bia sau đã mất, chỉ còn lại văn bia trong Lhasa nhưng chữ khắc phần lớn đã mai một không đọc được. Theo bản sao văn bia mà người Anh có ở London, trên bia khắc: “…Dân Phồn thổ an nơi Phồn thổ, Hán tộc trọn vui nơi Đường quốc, ấy là nghiệp lớn của vua hai nước. Đôi bên giữ gìn minh thệ, vĩnh viễn không đổi dời …”. Vua Xích Tổ Đức Tán cũng chính là người cho dịch mới và dịch lại tất cả kinh sách cho nghiêm trang và phù hợp với Tạng văn hơn, chuyển thể tất cả những tinh tuý Phật môn từ tiếng Phạn (Sanskrit) sang tiếng Tạng (Tibetan), từ đó tổng hợp thành Đại Từ Điển Phạn-Tạng (Mahàvyutpaatti) nổi tiếng. Với những cống hiến to lớn ấy, người dân Tây Tạng luôn thờ phụng vua Xích Tổ Đức Tán (Tri Ralpacan) cùng với vua Tùng Tán Cán Bố (Songtsen Gampo) và vua Xích Tùng Đức Tán (Trisong Detsen) là Tam Tạng Vương vĩ đại nhất (three Dharma Kings).

Nhưng phàm ở đời có Sinh có Diệt, có Thịnh có Suy, Phật giáo Tây Tạng chứng kiến những thời khắc huy hoàng trải qua mười mấy đời Tạng vương cũng đến lúc suy vi mà nguyên nhân chính xuất phát từ hình thái xã hội phức tạp của Tây Tạng lúc bấy giờ. Vì Phật giáo được vương triều hoằng trương, kéo theo sự ra đời của Tăng chế và những quy định về Tăng dưỡng (cung phụng chu cấp cho Tăng ni), kế đến là sự gia tăng của Tăng số đã đặt nặng gánh sưu thuế cho người dân. Trong hoàn cảnh đó, vua Xích Tùng Đức Tán bị em trai mình là Lãng Đạt Ma (Langdarma) – 1 người cổ xuý cho giáo pháp Bon – hãm hại. Sau khi lên ngôi, vua Lãng Đạt Ma (839-841) ra tay bức hại Phật giáo, đốt hết kinh sách, tiến hành bài Phật phá Phật trong vòng 5 năm, gần như thiêu huỷ hết những công tích gây dựng được cho Phật giáo bởi các Tạng vương đời trước!

Đến năm 842, vua Lãng Đạt Ma bị nhà sư Kiết Tường Kim Cang (Pelgyi Dorje) nhân màn múa Black Hat Dance bắn tên ám sát. Sau sự kiện đó, Phật giáo không những không được chấn hưng, ngược lại đẩy Tây Tạng rơi vào giai đoạn tranh quyền đoạt vị, nội chiến liên miên, cục diện thống nhất của vương triều Thổ Phồn đến đây coi như chấm dứt, thay vào đó là tình trạng cát cứ kéo dài gần trăm năm.

b. Thời Phật giáo Hậu truyền:

Sau 300 năm từ khi đại sư Liên Hoa Sinh vào Tây Tạng và có công khai tông lập phái cho Ninh Mã; người ta nhắc đến tên tuổi thứ hai: đại sư A Đề Sa (Atisha) đến từ Thiên Trúc, Ấn Độ năm 1042, là người có công chấn hưng Phật giáo lúc đó đang suy vong ở Tây Tạng. Từ đây trở về sau, lịch sử chứng kiến sự ra đời của 3 tông phái lớn còn lại của Tây Tạng mà ít nhiều đều chịu ảnh hưởng trực tiếp từ A Đề Sa.

Phái Ca Nhĩ Cư (Kagyupa Sect) là tông lớn thứ hai của Phật giáo Tây Tạng, tên của phái có nghĩa là dòng khẩu truyền được sáng lập bởi sư Mã Nhĩ Ba (Marpa Lotsawa) (1012-1097), học trò của đại sư A Đề Sa. Học trò chân truyền của Mã Nhĩ Ba là Mật Lặc Nhật Ba (Milarepa) là người rất giỏi thi ca với văn phong sắc diệu, đã thuyết giảng Đại Thừa – Tiểu Thừa – Mật Thừa để giáo hoá dân gian, trở thành người có công lớn trong việc hưng lại Phật giáo Tây Tạng, mà cụ thể ở đây là dòng Ca Nhĩ Cư. Một số thiền viện nổi tiếng của dòng Kagyupa Sect: Tsurphu Monastery (thuộc vùng U), Palpung Monastery (thuộc Tứ Xuyên ngày nay).

Phái Tát Ca (Sakya Sect) là tông lớn thứ ba của Phật giáo Tây Tạng do đại sư Cổn Khúc Già Bảo (Konchog Gyalpo) sáng lập nhằm thế kỷ 11, tương đương với nhà Bắc Tống bên Trung Hoa bấy giờ. Ông cũng cho xây tu viện Tát Ca (Sakya Monastery) nổi tiếng ở Shigatse thuộc vùng Tsang. Con cháu của ông sau này kế nghiệp tổ phụ tiếp tục khuyếch trương giáo pháp, đồng thời lại giữ quan hệ giao hảo với giới chính trị. Chính vì thế mà vào giai đoạn những năm 1260, khi cháu nội của Thành Cát Tư Hãn là Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt dựng cơ đồ Mông Cổ trong quan nội, Tây Tạng đã thần phục theo nhà Nguyên. Đây đánh dấu một mốc lịch sử lớn mà người Tạng từ đó quy thuận theo Trung Hoa, mất dần sự độc lập cường thịnh về chính trị quân sự so với mấy trăm năm trước. Đi cùng với sự cuốn hút của Tát Ca phái theo chính trị là sự tha hoá trong đạo đức và lối sống của các Lạt ma do cậy có nhà Nguyên bảo hộ. Đến khi nhà Nguyên thoái trào cũng là lúc ảnh hưởng của Sakya Sect mai một đi.

Ba tông: Nyingma Sect, Kagyupa Sect, và Sakya Sect do đặc điểm trang phục tương tự nhau, dùng màu hồng đỏ làm trọng, nên thường được gọi chung là Hồng Mạo Giáo. Như vậy là để phân biệt với tông giáo thứ 4, cũng là tông giáo cuối cùng cực thịnh huy hoàng nhất của Phật giáo Tây Tạng, để lại nhiều dấu ấn văn hoá nhất cho đến cả ngày nay; đó là tông Cách Lỗ (Gelugpa Sect) hay còn gọi là Hoàng Mạo Giáo (Yellow Sect).

Phái Cách Lỗ (Gelugpa Sect) được 1 nhà cải cách lỗi lạc Tông Khách Ba (Tsongkhapa) (1357–1419) sáng lập, khi đó nhằm vào thời Vĩnh Lạc Minh Thành Tổ (con trai thứ hai của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương). Xung quanh sự ra đời và tuổi trẻ của Tông Khách Ba có nhiều truyền kỳ và điển tích, người viết sẽ điểm qua trong bài viết ngày cuối khi đi thăm tu viện Taer Monastery ở quê ông thuộc vùng Amdo xưa, nay thuộc Tây Ninh, tỉnh Thanh Hải. Tông Khách Ba vốn xuất thân từ Hồng Giáo, đã tu học qua giáo pháp của cả Kagyupa và Sakya Sect nhưng chú tâm hơn vào chấn chỉnh Phật giáo với mục đích đem các Lạt Ma đã bị thế tục hóa trở về lại đời sống của Tỳ Kheo có đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh. Sự uyên bác về giáo pháp, lại cẩn trọng nghiêm kính chuyên tâm tu học của Tông Khách Ba như thổi luồng gió mới vào Phật giáo Tây Tạng mà các cựu phái chưa có được, đã khích lệ Tăng lữ theo về rất đông. Sử chép trong Đại Tập Hội lần thứ nhất (Monlam Great Prayer Festival) quy tụ gần 12,000 vị Lạt Ma dưới tông Hoàng giáo. Sau này Gelugpa Sect lấy ngày rằm tháng giêng hàng năm làm ngày đại hội nhưng đến giai đoạn thế kỷ 20 đã bị chính quyền Trung Hoa cấm tổ chức.

Theo “Nhập Tạng Báo Cáo” của Ngô Trung Tín viết năm 1940 có ghi rõ những tu viện chủ yếu của Tây Tạng thì Hồng giáo có bảy ngôi, còn Hoàng giáo lên đến sáu mươi hai ngôi; cho thấy các tông phái Tây Tạng, Hoàng giáo tuy đến sau nhưng đứng đầu về số tu viện. Ngày nay những tu viện nổi tiếng nhất mà khách du lịch thường đến thăm đều thuộc Hoàng giáo, ví dụ như: tu viện Cách Đăng (Ganden Monastery) ở Lhasa, tu viện Triết Phong (Deprung Monastery) ở Lhasa, tu viện Sắc Nhạ (Sera Monastery) ở Lhasa, tu viện Trát Thập Luân Bố (Tashilhunpo Monastery) ở Shigatse, tu viện Tháp Nhĩ (Taer Monastery hay Kumbum Monastery) ở Tây Ninh (Xining), tu viện Lạp Bốc Lăng (Labrang Monastery) ở Cam Túc (Gansu). Ở các đại tu viện này đều thờ phụng đại sư Tông Khách Ba, coi ông là đệ nhất tập đại thành, là bậc trí giả đã có thành tựu cải cách và xiển dương phái Cách Lỗ cũng như Phật giáo Tây Tạng.

c. Giai đoạn sau đại sư Tông Khách Ba cho đến ngày nay:

Nên chú ý rằng sau khi vương triều Thổ Phồn diệt vong, Tây Tạng chưa được thống nhất thành 1 chính thể. Phải đến khi Hoàng giáo cường thịnh thì tông này mặc nhiên giữ vai trò quyết định trong cả chính trị và tôn giáo toàn vùng; các triều vua Trung Hoa sau này đều thương thuyết mọi việc quốc gia với tập đoàn đứng đầu Hoàng giáo, coi đó là lãnh đạo tối cao của Tây Tạng – thể chế độc đáo này được gọi là chính-giáo hợp nhất

Lãnh tụ tối cao của Phật giáo Tây Tạng được gọi là Đạt Lai Lạt Ma (Dalai Lama). Danh hiệu này thực ra phải đến năm 1578 vua A Nhĩ Đát Hãn mới ban tặng cho Toả Lãng Gia Mục Thố (Sonam Gyatso) – tương đương với đời Đạt Lai Lạt Ma thứ 3; chữ có nghĩa là đức rộng như biển. Tổng cộng từ năm 1391 đến nay, Tây Tạng đã có tất cả 14 vị Đạt Lai Lạt Ma, từ vị đầu tiên là Căn Đôn Châu Ba (Gendun Drub) – vốn là đại đệ tử của Tông Khách Ba – cho đến vị thứ 14 là Đăng Châu Gia Mục Thố (Tenzin Gyatso); tương đương với các giai đoạn triều Minh, Thanh, và Trung Hoa Dân Quốc. Người Tây Tạng luôn sùng kính Đạt Lai Lạt Ma, coi đây là hiện thân của Phật sống và được đầu thai qua mỗi kiếp.

Đáng chú ý là vào đời Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 La Bốc Tạng Gia Mục Thố (Losang Gyatso), ông đã phong tặng danh hiệu Ban Thiền Lạt Ma (Panchen Lama) cho thầy học của mình La Tang Khúc Kết (Lobsang Choegyal), chữ có nghĩa là đại học giả. Danh hiệu “Ban thiền” ra đời từ đó; Ban Thiền Lạt Ma luôn song hành với Đạt Lai Lạt Ma, trở thành người giữ vị trí quan trọng thứ hai trong xã hội Tây Tạng, có trọng trách đi tìm Đạt Lai Lạt Ma mới và ngược lại! Người Tây Tạng cũng cho rằng Ban Thiền Lạt Ma là dòng tái sinh, sẽ được đầu thai qua nhiều đời. Từ giai đoạn 1358 đến nay đã có tổng cộng 11 vị Ban Thiền Lạt Ma. Giống như Đạt Lai Lạt Ma, Ban Thiền Lạt Ma đều thuộc dòng Hoàng Mạo ^^

Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 5 cũng là vị đại sư nổi danh nhất và được kính trọng nhất trong cộng đồng Tây Tạng. Ngài cũng là người đã cho trùng tu và mở rộng, xây mới lại cung điện Potala – vốn được xây từ thời vua Tùng Tán Cán Bố (Songtsen Gampo) nhưng đã bị huỷ hoại rất nhiều theo thời gian. Những thông tin đầy đủ về hành cung Potala sẽ được gửi đến bạn đọc trong cùng ngày 5, phần đi thăm Lhasa

Quay trở lại dòng chảy lịch sử, giai đoạn từ những năm 1391 đến nay, Phật giáo Tây Tạng gần như không chuyển biến nhiều mà là sự duy trì và bảo tồn bản sắc riêng của tông phái Gelugpa vốn đã bén rễ rất sâu vào tín ngưỡng người dân nơi đây. Tuy nhiên, những biến động về mặt chính trị thì quả kinh người! Năm 1652, vua Thuận Trị nhà Thanh vẫn còn giữ quan hệ giao hảo với đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 5; nhưng dần dần mối quan hệ Thanh-Tạng xấu đi. Khi Thanh Triều sụp đổ, năm 1904, nước Anh đưa quân vào chiếm đóng Tây Tạng, biến nơi đây thành xứ bảo hộ thuộc về Đế quốc Anh. Cũng trong giai đoạn này, Trung Quốc nổ ra cuộc chiến Tân Hợi 1911 và liền sau đó là Thế chiến thứ nhất (1914-1918 ) nên đế quốc Anh và Trung Hoa gần như ‘buông tha’ cho Tây Tạng – khi đó nhằm thời Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 – Tây Tạng đứng trước 1 cơ hội lịch sử để lấy lại quyền tự trị và xây dựng chính thể độc lập cho riêng mình! Tiếc thay cơ hội đó không được tận dụng triệt để; Tây Tạng gần như không đủ thời gian để đổi mới và củng cố đất nước mà lý do sâu xa nằm chính trong hình thái xã hội phức tạp của vùng này, kèm theo đó là xích mích quyền lực giữa Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 13 và Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 9! Năm 1933, khi mọi việc còn đang dang dở, Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 13 viên tịch, Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 được tìm thấy vào năm 1940, khi đó Ngài chưa đầy 5 tuổi. 9 năm sau, Trung Hoa Dân Quốc gây chiến và tiến vào Tây Tạng, tuyên bố đây là một vùng không thể tách rời của Trung Quốc; chính thể độc lập còn mong manh chưa thành hình của mảnh đất cao nguyên được cáo chung từ đây. Chỉ vọn vẻn trong hơn 50 năm (1950-2000), Tây Tạng dưới sự trấn áp của chính quyền Trung Quốc chứng kiến những trang tối tăm nhất trong lịch sử nhiều nghìn năm của mình, trong đó có những dòng được viết bằng máu và nước mắt của người Tạng! Năm 1959 nổ ra xung đột ở thủ phủ Lhasa, hàng chục ngàn người Tạng đã bị giết, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 phải rời bỏ Tây Tạng sống lưu vong ở Dharamsala, Ấn Độ. Năm 1961, do những sai lầm về đường lối canh tác nông nghiệp mà Trung Quốc áp đặt lên Tây Tạng, hơn 70,000 người Tạng đã chết đói. Giai đoạn 1967-1976, cơn bão Hồng Vệ Binh (Red Guard) theo chân Cách Mạng Văn Hoá (The Cultural Revolution) sau khi càn quét Trung Quốc đã đổ ập lên Tây Tạng: những di sản văn hoá, tu viện, đền chùa cùng vô vàn Pháp vật quý giá bị đốt phá, cướp bóc, thất lạc, vĩnh viễn biến mất trong lịch sử nhân loại; ước tính gần 200,000 thường dân và tăng ni Phật tử bị bức hại hoặc cầm tù. Chỉ đến giai đoạn sau 1980 thì trật tự mới được lặp lại, Tây Tạng dần chuyển mình sang thời kỳ hiện đại hoá và phát triển đi lên trong vai trò khu tự trị thuộc Trung Quốc; chủ đề Tây Tạng cho đến nay vẫn là vấn đề thời sự nhạy cảm ở các quốc gia.

Đến đây người viết xin dừng phần Tổng quan lịch sử tôn giáo Tây Tạng, hy vọng bạn đọc đã có cái nhìn rõ ràng hơn về những biến chuyển theo thời gian đóng góp vào tiến trình hình thành và phát triển của Phật giáo Tây Tạng. Nói tóm lại, Tây Tạng có một nền văn hoá tín ngưỡng độc đáo lâu đời mà hạt nhân xuyên suốt nhiều thế kỷ chính là nền Phật giáo Đại thừa Mật tông với lý luận mạch lạc khúc chiết và không kém phần thâm sâu, ảo diệu; là minh chứng rõ ràng nhất về tính dungdị đặc thù của tông giáo; đồng thời bao hàm trong nó là sự vượt trội về giá trị nghệ thuật, văn hoá, và trí tuệ thu hút không chỉ riêng người Tạng mà nhân loại toàn thế giới. Phần viết này tham khảo tư liệu từ các nguồn: Thư Viện Hoa Sen, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, sách Tây Tạng Phật Giáo Sử Lược của Chương Gia, sách Lonely Planet – Tibet (2008 ), sách The Potala (Unesco, 1993). Bài viết ngày 5 sẽ được tiếp tục gửi đến bạn đọc với các phần sau:
- Phần 2. Pháp vật trong Phật giáo Tây Tạng
- Phần 3. Thăm Đại Chiêu Tự (Jokhang Temple)
- Phần 4. Cung điện Potala (Potala Palace)
- Phần 5. Món quà Lhasa ^^

Tây Tạng Du Ký – Ngày 4: Bayi đi Lhasa

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 04-07-2010

6

Ngày 4 bắt đầu với lịch trình khó khăn nhưng đầy hấp dẫn: vượt 400km qua vùng Kham đi vào U-Tsang, hướng đến trái tim của Tây Tạng – Lhasa, trên đường đi sẽ ghé thăm những địa danh nổi tiếng quanh Nyingchi: Khả Đình Câu (Kadinggou), hồ Basumco (Basum-tso lake), và thượng nguồn sông Nyang thuộc địa phận Nyingchi

Bayi buổi sáng thứ hai trời vẫn trong mát và có sương nhẹ, mặc dù đã có chút kinh nghiệm ngày đầu ở đây nhưng người viết vẫn ngạc nhiên vì quãng đường rời Bayi đi Lhasa đẹp tuyệt vời và độc đáo bởi màu xanh phì nhiêu tưởng như khó gặp ở vùng cao và khắc nghiệt như Tây Tạng. 8h sáng, xe xuất phát từ Nyingchi Business Hotel men theo dòng chảy con sông Nyang đi ngược về hướng thượng nguồn. Không hẹn mà gặp, hàng đoàn xe LandCruise, Prado, Highlander, cá biệt có vài chiếc Hummer cũng nối nhau chạy dài về cùng hướng đó; mới nhìn đã thấy rộn ràng phấn khích lắm! giống y hệt cảnh tượng lúc tờ mờ sáng ngày Tết hằng năm, xe con xe to xếp hàng trên đê huyện Mỹ Đức để về lễ hội chùa Hương

1. Khả Đình Câu:

Thung lũng Kading – Kadinggou – nằm cách Bayi 27km trên quốc lộ 318 (China National Highway 318 ) là khu vực mới được đưa vào khai thác du lịch. Tận dụng những ưu đãi thiên nhiên về độ cao (2980m), khí hậu ôn hoà với sương mù quanh năm, rừng cây và thác nước nhỏ; người Trung Quốc biến nơi đây thành điểm tham quan mệnh danh là vườn địa đàng của Tây Tạng (Shangrila of Tibet) ^^

Bước vào thung lũng Kading, khách tham quan sẽ được hướng dẫn viên du lịch giới thiệu về những nét độc đáo riêng của nơi này mà đầu tiên là dãy núi đá có hình bông sen trong hang hay mỏm núi hình đầu rùa, đầu rồng (cái này du khách chắc phải dùng trí tưởng tượng để nhìn vì các mỏm đá thường bị sương mù bao phủ, khó mà nhìn rõ được )

Niềm tự hào của Kadinggou là ngọn thác cao 200m lóng lánh như sợi chỉ bạc chảy giữa lòng thung lũng – có đặt chân đến Kading thì mới tin được Tây Tạng cũng có thác đẹp, bên cạnh những ngọn núi và biển hồ lớn Vài hình ảnh thác Kading nhìn từ phía xa:

Đường vào thác còn ướt sương sớm:

Ngọn thác khi nhìn gần: không hung hãn như Nặc Nhật Lang của Cửu Trại Câu, thậm chí còn ít ghềnh đá hơn so với thác Prenn hay Đatanla của Đà Lạt, thác Kading có vẻ đẹp trong trẻo lạ thường với nước bạc óng ánh và mát lạnh vô cùng.

Trên đường trở ra, ai cũng tấm tắc vì cảnh vật khác xa so với những hiểu biết ban sơ về Tây Tạng, không chỉ có nắng gió thảo nguyên hay những con đường trắng dài xa tít tắp dưới dãy núi tuyết trắng vắng bóng chân người, Tây Tạng còn có những góc nhỏ xanh um, ngay cả khi nắng cao nguyên đang chói chang những ngày tháng 6. Vài hình ảnh “xanh” của thung lũng Kading:

2. Hồ Basumco

Rời Kadinggou, xe quay lại đường quốc lộ 318 tiếp tục cuộc hành trình. China National Highway 318 là con đường huyết mạch của Trung Quốc dài gần 5500km xuyên suốt từ cực Đông (Thượng Hải) sang đến cực Tây (Tây Tạng). Đoạn chạy qua Thành Đô có tên là cao tốc Tứ Xuyên – Tây Tạng (Sichuan-Tibet Highway), còn đoạn chạy từ Lhasa đến Zhangmu, biên giới Nepal có tên là cao tốc hữu nghị (Friendship Highway). Những cao tốc này nói riêng hay quốc lộ 318 nói chung là tuyến đường nổi tiếng trong lộ trình khám phá Tây Tạng bằng đường bộ mà chắc hẳn khách du lịch nào cũng có dịp đi qua.

Vài hình ảnh qua cửa kính xe:

Hồ Basumco (Basum-tso Lake) nằm cách Lhasa khoảng 300km, đường vào hồ cách cao tốc Sichuan – Tibet khoảng 40km, được coi là hồ linh thiêng nhất của toàn vùng Nyingchi, cũng là biểu tượng tâm linh quan trọng nhất của phái Ninh Mã (Nyingma Sect) – người viết sẽ có bài tổng hợp về các trường phái này chi tiết hơn ở ngày 5.

Đường vào khu du lịch hồ Basumco:

Đoàn xe của trung tâm du lịch đưa khách đến ven hồ, từ đây du khách có thể thoải mái ngắm nhìn vùng hồ Basumco. Có tên Tạng nghĩa là hồ xanh (Tsokou Lake), lại được phong tặng là tiểu Thuỵ Sĩ (Little Switzeland), hồ Basumco rộng đến 27km2, dài hơn 18 cây số, nằm giữa lưng chừng trời ở độ cao 3700m, những chỗ sâu nhất khoảng 120m; nhìn từ xa nước trong xanh văn vắt, uốn lượn quanh các ngọn núi xanh phủ tuyết trắng. Giữa hồ là tu viện nhỏ Tsozong (Tsozong Monastery) – nơi thờ phật Liên Hoa Sinh (Buddha Padmasambhava, hay có tên Tạng là Guru Rinpoche), người sáng lập ra tông Ninh Mã (Nyingma Sect) – một trong 4 tông phái quan trọng nhất của lịch sử Phật giáo Tây Tạng.

Người ta tin rằng phật Liên Hoa Sinh là phật độ trì cho việc sinh nở, là cửa đến cho dân gian cầu tự, phía bên ngoài tu viện cũng có các bức tượng ám chỉ việc này

Tu viện Tsozong, tiếng Tạng có nghĩa là lâu đài giữa hồ nước, không cho phép đi giày dép vào bên trong và không cho phép chụp ảnh, du khách có thể bỏ giày dép ở ngoài hoặc dùng các túi nilon được cho sẵn để bọc giày dép lại ^^ Trong tu viện có tượng thờ phật Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni), Quán Thế Âm bồ tát (Avalokiteshvara), và phật Liên Hoa Sinh (Padmasambhava); con đường Kora vòng quanh đảo sẽ dẫn ra chỗ người Tạng làm lễ tế trời (Sky Burial). Một vài hình ảnh cửa tu viện với tranh tường (mural) của Tứ Đại Thiên Vương (Four Guardian Kings)

Sự phát triển của phái Ninh Mã (Nyingma Sect) có phần kém huy hoàng hơn so với phái Cách Lỗ (Gelugpa Sect), điều đó lý giải phần nào kiến trúc, quy mô, và sắc màu của tu viện Tsozong không phô trương sặc sỡ và hoành tráng như các tu viện mà người viết gặp sau này trong vùng U-Tsang. Trong bài viết ngày 5 nhất định sẽ có dịp quay lại chủ đề trên và điểm qua những cột mốc quan trọng của sự biến thiên Phật giáo mấy thế kỷ Tây Tạng

Kiến trúc xung quanh tu viện:

Om mani padme hum, câu chân ngôn của Phật môn đỏ thắm trên nền đá rêu phong có thể được nhìn thấy trên đường ra khỏi đảo:

Trời đã gần trưa, người viết theo đoàn rời khỏi hồ Basum-tso, nói lời tạm biệt với những dấu ấn văn hoá riêng mang nét đẹp của Nyingma phái để tiếp tục khám phá những gì đang chờ đợi ở trung tâm Tây Tạng:

3. Đường vào Lhasa:

Sau bữa trưa nhẹ, xe chúng tôi lại lao vun vút theo quốc lộ 318, đường đi có phần bằng phẳng chứ không gập ghềnh cao thấp như những con đường Lhasa – Shigatse hay Lhasa – Namtso Lake sau này Sau 2h chạy không nghỉ, chúng tôi dừng lại ở thượng nguồn sông Nyang đoạn bắt đầu chảy vào Nyingchi. Sông Nyang là 1 trong 5 nhánh sông chính cung cấp nước chảy vào sông lớn Nhã Lung (Yarlung Tsangpo), bên cạnh 4 con sông kia gồm: Lhasa River, Nyang Qu River, Parlung Zangbo, và Dogxung Zangbo.

Độ cao ở đây là 3600m, chính giữa dòng sông có tảng đá lớn khắc bốn chữ “Zhong Liu Di Zhu”, có lẽ đã sừng sững ở đây lâu lắm rồi, mặc đời thịnh suy hay sóng nước tung bọt dưới chân:

Chạy thêm vài cây số nữa, trước mặt chúng tôi là cửa núi Milha (Milha Mountain entrance) – độ cao 5013m – bức tường thiên nhiên đánh dấu điểm giao kết của vùng Kham với vùng U-Tsang, cũng là ranh giới giữa 2 con sông: sông Nyang chảy vào Nyingchi và sông Lhasa chảy vào Lhasa. Từ đoạn này đi theo hướng Tây có thể xem là địa phận của Lhasa. So với độ cao trung bình của Nyingchi 3000m thì Milha quả là một đòn nặng, ở độ cao này, nắng mặt trời rực rỡ gay gắt mà gió thì lạnh tê người! Sau khi xe chầm chậm leo lên đến đây, chỉ có một vài du khách đủ tỉnh táo để nhảy ra chộp ảnh, số còn lại ngồi tu nước ừng ực để chống nhức đầu

Chỉ dừng trong chốc lát, xe lại đổ đèo để đi tiếp con đường 318. Từ đây về đến Lhasa chỉ có một điểm dừng đáng chú ý nữa: làng Gyama – nơi sinh của vua Songtsen Gampo – vị vua vĩ đại nhất trong lịch sử Tây Tạng, người đã thống nhất miền đất này vào thế kỷ thứ 7, và cũng là người có công đưa đạo Phật lên hàng quốc giáo cho Tây Tạng.

Người viết không vào thăm quan địa điểm này mà chỉ dừng lại chụp ảnh, hình như chỗ này cũng không mở cửa cho du khách vào. Trên hình là phương tiện đun nước bằng năng lượng mặt trời rất hữu ích của người dân bản xứ. Với đặc trưng khí hậu nắng quanh năm, số giờ nắng có thể lên đến 18 tiếng/ngày thì quả thực đây là 1 cách sản sinh năng lượng vừa sạch, vừa dồi dào, lại vừa kinh tế

Một cuộc nói chuyện nhỏ với người địa phương ^^ tuy ngôn ngữ hai bên chỉ dừng lại ở mức nói thì ít, ra dấu thì nhiều nhưng họ rất vui khi biết có người Việt Nam đang vào du lịch khám phá Tây Tạng ^^

… Đồng hồ lúc này đã chỉ sang 5h chiều, trời vẫn nóng bức gay gắt, màu xanh của Nyingchi dường như đã lùi xa hàng trăm cây số, xe bon bon chạy dọc theo con sông Lhasa hướng vào thủ phủ Tây Tạng … Tạm biệt Cửu Trại Câu của Tây Tạng, tiểu Thuỵ Sĩ đậm chất Á Đông; cảm ơn mảnh đất nhỏ Nyingchi đã cho tôi biết một Tây Tạng rộng lớn và tươi đẹp hơn rất nhiều so với những gì đã từng hình dung; để sau này nếu có ai hỏi về mảnh đất huyền bí này, tôi có thể tự tin mà rằng “có một con đường xanh như thế ở Tây Tạng!

… Và kìa trong ráng chiều cuối ngày, thấp thoáng qua những tán cây ám bụi đường, án ngữ trên đỉnh đồi cao tựa lưng vào trời xanh núi xám, hiện ra trái tim của Tây Tạng – cung điện Potala – biểu trưng bất diệt nghìn năm tôn giáo tín ngưỡng của vạn con người trên cao nguyên Thanh – Tạng, điểm đến muôn đời của những ai mộ đạo và yêu mến nơi đây với niềm tin không cần lý giải …

… Xe chạy chầm chậm vào Lhasa, ai trong chúng tôi cũng như run lên trước cảnh tượng cung điện Potala ngạo nghễ trên cao, thách thức thời gian và số phận, có lẽ đó là chứng nhân cao tuổi nhất cho những biến động kinh thiên, những thăng trầm lịch sử kinh người đã theo mây gió đi về hơn 13 thế kỷ qua giữa lòng Tây Tạng … Bài viết ngày 4 đến đây là kết thúc, hẹn trở lại với bạn đọc vào ngày thứ 5 – thăm thú thủ phủ Lhasa ^^

Tây Tạng Du Ký – Ngày 3: đáo Nyingchi

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 02-07-2010

4

Nối dài câu chuyện nhỏ của tôi về một miền Tây Tạng xa xôi mà cũng quá thật gần … miên man trong giấc ngủ đêm cao nguyên đầu tiên, tôi dường như quên mất đang ở ngay trên mảnh đất huyền bí mà mình ước mơ khám phá từ lâu … Người Tạng có câu nói kiếp sau của bạn có thể tới trước ngày mai, phải nhanh lên chứ, vội vàng lên chứ, đất Phật đã ở dưới chân ta … lật mình tỉnh dậy tôi sợ mình đã bỏ phí phút giây đón ánh sáng đầu ngày …

===

Ngày 3 trong chuyến hành trình, cũng là sáng đầu tiên ở Bayi, Nyingchi – đã gần 8h sáng mà trời vẫn âm u, núi vờn mây trong gió lạnh tê người, bữa sáng cao nguyên với cháo trắng, trứng luộc, bánh bao chay như xua tan cơn nhức đầu đêm qua, tiếp sức để chúng tôi sẵn sàng đi ‘dạo’ một vòng Nyingchi. Theo kế hoạch thì trong ngày 3 sẽ ghé thăm cây Bách nghìn tuổi (Cypress King) và rừng Lulang (Lulang Forest), một số địa điểm còn lại của Nyingchi sẽ đi trong ngày 4 trên đường vào Lhasa

1. Cây bách nghìn tuổi

Thuộc họ Hoàng đàn và được coi là cây linh thiêng nhất với người Tạng, cây đại bách nghìn tuổi (King Cypress) nằm ở làng Baije cách Bayi chỉ 8km luôn là điểm đến đầu tiên cho du khách đi thăm vùng Kham. Trên đường đi, trời đã dần sáng soi tỏ màu xanh mướt mát còn ướt sương sớm của Nyingchi:

Đường vào công viên Cypress King Park:

Tâm điểm của công viên chính là đây: cây đại bách cao hơn 50m với đường kính gần 6m, cần ít nhất 12 người mới ôm xuể thân cây, và tương truyền đã 2600 năm tuổi có thể xem là cây bách lâu đời nhất không chỉ trong Tây Tạng mà trên toàn Trung Hoa Nếu như nhìn gần tận mắt thì cây bách này quả thực cực kỳ lớn!

Bao bọc xung quanh cây đại bách là quần thể hơn 900 cây bách non hơn với chiều cao trung bình đến 44m, và tất nhiên không thể thiếu được kỳ ngũ sắc của người Tạng giăng dọc theo những bậc đá nhỏ chạy vòng quanh. Người nơi đây nói cây đại bách này là linh hồn của Tonpa Shenrab Miwoche – người khai tông lập phái cho quốc giáo Bon, quốc giáo cổ xưa nhất của người Tạng.

Những câu kinh chấp chới … Người Tạng tin rằng mỗi lần gió thổi những lá phướn này bay là một lần câu kinh được tụng, là 1 cách biểu đạt lòng mộ đạo và niềm tin tôn giáo của họ

2. Rừng Lulang

Rời công viên, xe đưa chúng tôi chạy về phía Đông vượt qua những cánh đồng, rừng cây, con suối để hướng đến rừng Lulang. Nằm ở độ cao hơn 3000m nhưng Nyingchi dường như đánh lừa cảm giác du khách bởi màu xanh màu mỡ như đồng bằng của mình chỉ vài ngày sau trên con đường vào U-Tsang, những cảnh như thế này sẽ khó gặp hơn nhiều:

Trước khi đến Lulang, xe dừng lại ngay trên núi Sejila (Sejila Mountain, độ cao 4702m) – đỉnh núi mù sương lạnh bao trùm lấy đoàn xe và khách du lịch, gần như ai cũng choáng váng bởi lần đầu tiên thấm cái lạnh ở vị trí cao đến thế:

Xe men theo sườn núi đi xuống đưa khách du lịch đến cổng vào Lulang, từ đây có thể ngắm toàn cảnh thung lũng rừng nguyên sinh Lulang và núi tuyết Namche Barwa (cao 7786m) – đỉnh núi cao thứ 15 trên thế giới và cũng là đỉnh cao nhất trong toàn vùng Nyingchi:

Lulang có nghĩa là thung lũng của rồng (Dragon King Valley) hay còn có tên khác là thung lũng quên lối về (Forget Home Valley). Du khách có thể thoả thê chụp ảnh và hít thở không khí trong lành; ở đây cũng có dịch vụ cho thuê quần áo Tạng chụp ảnh (giá 10RMB/bộ), vì giá cả hợp lý và cảnh rừng rất đẹp nên không ai bỏ qua dịp này ^^

Được biết con sông Yarlung Tsangpo khi chảy đến đoạn này thì lượn 1 đường vòng qua chân núi, bao bọc xung quanh núi chính là cánh rừng Lulang – cảnh trí cực kỳ sinh động, chỉ tiếc người viết không có cách nào chụp được toàn cảnh đó, hoạ chăng phải dùng trực thăng Dưới đây là ảnh tham khảo, lấy nguồn từ Grand-Himalaya:

Tạm biệt Lulang, xe lao vun vút xuống đèo, trời đã sang trưa nên sương mù dần tan bớt, lộ ra từ phía xa những ngôi nhà và “cư dân” lâu năm của vùng:

3. Quay lại trấn Bayi

Trên đường quay lại Bayi, người viết có dịp dừng lại chụp toàn trấn Bayi từ trên cao để thu vào tầm mắt muôn trùng nước non:

… Trong sương hồng hiện ra:

… Một khắc tình cờ ‘chộp’ người xa lạ

Vào đến thị trấn, cả đoàn ai cũng đói run người bữa trưa Bayi nấu rất ngon với nhiều món rau tươi – một trong những bữa ăn ngon nhất sau 3 ngày hành trình ^^

Sau khi ăn xong, mọi người đều thấy là chắc sẽ không còn dịp ghé chơi Bayi nữa (hoặc là phải lâu lắm lắm mới trở lại đây) nên cả đoàn dành ra vài giờ buổi chiều đi dạo quanh trấn. Như đã có dịp giới thiệu ở bài viết ngày 2, Bayi thực chất là 1 thị trấn quân đội, rất ít nơi vui chơi giải trí, đáng chú ý chỉ có Công viên Bayi nho nhỏ, hợp với việc đi dạo cho … tiêu cơm

Vài hình ảnh nắng gió gửi bạn đọc xem trước khi kết thúc buổi chiều ngày 3, công viên này mang kiến trúc Hán nhiều hơn là Tạng, so ra thì kém công viên Hắc Long Đàm ở Lệ Giang xa thật là xa

Ngày 3 không quá nhiều sự kiện đến đây là kết thúc, hẹn trở lại với bạn đọc trong ngày 4 – tạm biệt Nyingchi và vượt 400km đường bộ vào Lhasa thủ phủ vùng U-Tsang ♥

Trung Hoa Du Ký – Ngày 6: Cửu Trại Câu

Posted by YILKA | Posted in Reading Stuff, Travel | Posted on 29-12-2009

12

Ngày 6: thăm thú cảnh đẹp ở Cửu Trại Câu (Tứ Xuyên)

Sáng ngày thứ 6, gió lạnh tê người, nước như đóng băng, người thở ra khói nhưng trong lòng thì sôi sục khám phá miền đất tiên cảnh trần gian Sau bữa sáng gọn nhẹ, cả đoàn hối hả lên xe chạy vào cổng chính của Cửu Trại Câu để mua vé và bắt đầu vào tham quan. Vì mùa đông nên Cửu Trại sẽ mở cửa từ 8h sáng và đóng cửa sớm lúc 6h chiều.

Đôi dòng lịch sử: Cửu Trại Câu (Jiuzhaigou) có nghĩa là Thung lũng có 9 ngôi làng bên suối (Valley of Nine Villages). Chữ tượng hình của người Tạng về Cửu Trại Câu như sau:

Nhìn từ trái qua phải, ngoài số 9 không biết viết thế nào ra, chữ tiếp theo chính là hình cái trại, còn chữ cuối cùng vẽ dòng nước có cá có cây; tựu chung lại chỉ vùng đất có hồ nước, chim cá … và 9 ngôi làng người Tạng sinh sống Kiểu kiến trúc “trại” này cũng ghi dấu trong tất cả các ngôi nhà được xây bên trong thung lũng.

Truyền kỳ kể nam thần Đạt Qua (Dage) yêu say đắm nữ thần Yêu Lạc Sắc Mô (Woluo Semo). Một lần nam thần dùng gió và trăng tạo nên 1 tấm bảo gương đem tặng nữ thần, không ngờ bị ma quỷ quấy phá, nữ thần không cẩn thận đã làm vỡ tấm bảo gương và rơi xuống nhân gian rồi biến thành 114 mặt biển hồ long lanh. Từ đó nhân gian mới có chốn tiên cảnh (The Fairyland of Earth) đẹp là Cửu Trại Câu ngày nay Còn người viết bài này thì tin rằng năm xưa rơi xuống nhân gian không phải là gương vỡ mà là một chuỗi ngọc quý muôn màu sắc, đã tạo nên một tuyệt tác gồm 12 đỉnh núi, với hơn 100 Hải tử (hồ con) cùng 17 thác nước và muôn vàn loại động thực vật phong phú giữa vùng núi đá vôi ở cao độ trung bình từ 2000m đến 4000m này.

Tổng quan Cửu Trại Câu chia làm ba thung lũng chính: Nhật Tắc Câu (Rize Gully) tạm gọi là nhánh trái (theo bản đồ nguyên mẫu của Cửu Trại), Tắc Tra Oa Câu (Zechawa Gully) ở nhánh phải, hợp lưu tại trung tâm là Thụ Chính Câu (Shuzheng Gully), từ đó chạy thẳng ra cổng chính (Tham khảo thêm ở trang chủ Jiuzhai valley). Trước khi bắt đầu du ngoạn, xin cùng bạn đọc xem qua bản đồ Cửu Trại:

Khoảng cách từ cửa (Park Entrance) đến thác Nặc Nhật Lang (Nourilang Falls) – tạm coi là tâm bản đồ: 15km; từ thác này đến Trường Hải (Long Lake) – điểm xa nhất trong nhánh phải là 17km; từ thác này đến Rừng nguyên sinh (Virgin Forest) – điểm xa nhất trong nhánh trái là 18km. Cách đi thông thường là: từ đầu ngày bắt xe buýt chạy từ cửa lên hết một nhánh (trái hoặc phải), sau đó đi bộ từ trên xuống, đến khu trung tâm thì dừng nghỉ ăn trưa; sau bữa trưa thì bắt xe chạy lên hết nhánh còn lại, từ đó đi bộ xuống đến trung tâm rồi đi ra cổng. Nếu muốn đi hết mọi chỗ trong Cửu Trại Câu thì bạn đọc chắc cần ít nhất 2 ngày, người viết trong khuôn khổ thời gian hạn hẹp chỉ dành được 1 ngày để đi Cửu Trại nên không thăm được toàn bộ thung lũng, âu cũng là lý do cho việc trở lại lần sau

Cổng vào thiên đường hạ giới đơn giản thế này thôi:
IMG_8234

Du khách có thể mua vé và tham khảo các thông tin du lịch Cửu Trại tại đây:
IMG_7829
IMG_5949

Vé vào cổng: làm bằng bìa cứng và rất đẹp, mặt trước vé được trang trí thay đổi theo mùa, chia làm vé Đông-Xuân (ảnh chụp) và vé Hè-Thu (dịp sau đi vào mùa thu sẽ có ảnh cụ thể ). Mỗi vé bao gồm cả vé vào cổng và vé xe buýt; mặt sau vé chính là bưu thiếp Cửu Trại có dán sẵn tem! du khách có thể gửi trực tiếp bưu thiếp tại các thùng thư China Post sẵn có ở cửa vào. Vì vé đưa qua máy quét (chứ không xé) nên ai cũng giữ được vé mới đẹp nguyên xi khi ra về ^^
IMG_7825
IMG_7826

Giá vé:
- Mùa cao điểm (01/04 – 15/11): Vé vào cổng 220 RMB + vé xe buýt: 90 RMB = 310 RMB (~ 45 USD). Riêng sinh viên (phải trình thẻ SV) thì giảm giá: vé vào cổng 170 RMB + vé xe buýt 90 RMB = 260 RMB.
- Mùa vắng khách (16/11 – 31/03): Vé vào cổng 80 RMB + vé xe buýt: 80 RMB = 160 RMB (~ 23 USD). Giá sinh viên: vé vào cổng 70 RMB + vé xe buýt 80 RMB = 150 RMB.

Ở cửa soát vé là 3 chữ “Cửu Trại Câu” ngạo nghễ trong nắng ban mai ^^
IMG_7831
IMG_8223

Các xe buýt ‘xanh’ chạy trong khu du lịch, trên mỗi xe là hướng dẫn viên du lịch người Tạng sẽ giới thiệu với du khách về các địa điểm khi đi qua (tất nhiên là bằng tiếng Trung):
IMG_7832
IMG_6454

Xe buýt sẽ dừng ở mỗi địa điểm để nhận và trả khách, du khách nên cầm theo bản đồ để biết vị trí hiện tại và xem xét lộ trình trước khi lên xe nhằm tiết kiệm thời gian. Vì đã mua vé nên xe buýt trong khu du lịch là miễn phí, lên xuống thoải mái, đặc biệt trong mùa đông đi bộ lâu trong Cửu Trại sẽ dễ nhiễm lạnh, thi thoảng nên chui lên xe cho ấm Như lộ trình đã định, người viết theo xe chạy hết hơn 30km để lên ngọn của nhánh trái, rồi từ đây bắt đầu đi bộ xuống.

Tiễn Trúc Hải (Arrow Bamboo Lake): cảm giác đầu tiên là thời tiết quanh Biển Tiễn Trúc lạnh kinh người! nước hồ trong xanh nhìn thấy đáy, cả mặt hồ như 1 tấm gương lớn phản chiếu khung cảnh xung quanh lại ôm trong lòng nó những trầm tích vôi hóa không biết tuổi. Chỗ này cũng là nơi đạo diễn Trương Nghệ Mưu quay cảnh Lương Triều Vỹ – Trương Mạn Ngọc vừa so chiêu vừa bay qua mặt hồ trong phim Anh hùng (Hero), chắc đây là 2 người hiếm hoi trong lịch sử Cửu Trại Câu có dịp chạm chân xuống dòng nước của hồ Trúc
IMG_7841
IMG_7840
IMG_7848
IMG_7846
IMG_7850

Hùng Miêu Hải (Panda Lake): nằm cách Tiễn Trúc Hải khoảng 1.7km là Hùng Miêu Hải, vốn là chỗ gấu trúc thường ra uống nước, giờ thì không còn bóng con nào, chắc từ ngày con người “xâm lăng” nơi đây … mong rằng trong tương lai sẽ có ngày gấu trúc xuất hiện trở lại. Cũng giống như hồ Trúc, hồ Gấu vẫn mờ khói sương sớm, mặt nước phẳng lặng như tờ soi bóng trời đất, đúng như câu nói dân gian “mây trôi trong nước, chim bay trong hồ“:
IMG_5975
IMG_7853
IMG_7854

Thác nước ở Panda Lake đã bắt đầu đóng băng, đường xuống thác cũng đã bị chặn lại đề phòng nguy hiểm:
IMG_7866

Ngũ Hoa Hải (Five Flower Lake): đi tiếp 2km nữa, du khách sẽ đến Hồ Ngũ Hoa – niềm tự hào của Cửu Trại – lúc này đã vào mùa nước cạn càng làm nổi bật những thân cây lớn nằm im lìm dưới đáy hồ; cây cầu giữa hồ chia Ngũ Hoa Hải thành 2 thế giới: một bên ánh nắng nhấp nhóa sống động, một bên cô tịch với sắc xanh đẹp kỳ ảo lạ thường:
IMG_7895
IMG_7881
IMG_7875
IMG_7921

IMG_7913
IMG_7915

IMG_7920

Thác Trân Châu (Pearl Shoals Waterfall): chính là cảnh đẹp đã nổi danh từ bộ phim Tây Du Ký với hình ảnh thầy trò Đường Tam Tạng vượt dòng thác trên đường đi lấy kinh ^^
IMG_7969
IMG_6075
IMG_6093
IMG_6080

Càng đi xuống thác Ngọc Trai này cảnh tượng càng ngoạn mục, núi cao dựng đứng, nước chồm qua các ghềnh đá tuôn ào ạt với chiều dài hơn 310m:
IMG_6109
IMG_7949
IMG_7936
IMG_7923
IMG_6125

Sau khi đi hết nhánh bên trái Nhật Tắc Câu, du khách đa phần đều nghỉ ăn trưa ở tâm bản đồ trái với các thông tin về việc cần mang theo đồ ăn thức uống vì trong Cửu Trại bán đắt, người viết đã có 1 bữa trưa thú vị với mì gói Tứ Xuyên + xúc xích và ngô luộc bán ở các quầy hàng nhỏ với giá 15RMB ^^ Ăn xong lại nai nịt gọn gàng xách máy ảnh đón xe buýt ngược lên nhánh bên phải, tiếp tục khám phá Tắc Tra Oa Câu, trên đường kịp nháy vài tấm ảnh:
IMG_6073
IMG_6157
IMG_6154

Trường Hải (Long Lake): nằm ở độ cao hơn 3000m so với mặt nước biển, Trường Hải là biển hồ rộng nhất và sâu nhất trong toàn bộ các hồ của Cửu Trại Câu, nhờ nguồn nước ngầm tự nhiên nên hồ luôn đầy nước, cây cối xung quanh tươi tốt. Đứng ở Trường Hải nhìn bao quát núi sông mới thấy cái nhỏ bé của con người trước thiên nhiên hùng vĩ. Nơi đây dịch vụ quà lưu niệm và chụp ảnh trong trang phục người Tạng do vậy mà nở rộ
IMG_6167
IMG_6172
IMG_6178
IMG_7984
IMG_7989
IMG_7993
IMG_7998

Men theo đường đi bộ uống dưới hồ, du khách có thể thoải mái ngắm nhìn Trường Hải rộng lớn miên man chạy ra ngoài tầm mắt, quả xứng danh đại hồ của Cửu Trại, chỉ giận tài năng không đủ mà ống kính có hạn, không ôm trọn cái bao la của trời nước và mây núi vào trong khuôn hình …
IMG_8002
IMG_6182
IMG_8015
IMG_6190

Ngũ Sắc Trì (Five Colored Pool): tuy cạn nước nhưng hồ Ngũ Sắc vẫn giữ được màu huyền ảo của nó, không chỉ bản thân hồ mà cả đường vào hồ cũng đẹp lạ thường:


IMG_8018

Nặc Nhật Lang (Nourilang Falls): dòng thác trên cao nguyên lớn nhất Trung Quốc này nằm ở trung tâm bản đồ Cửu Trại Câu. Với độ cao hơn 20m và dài hơn 300m, con nước Nặc Nhật Lang hung hãn bổ nhào giữa lưng chừng trời, ném vào không gian muôn ngàn bọt nước giữa nắng chiều chênh chếch, tiếng ỳ ầm vang xa hàng dặm, đúng là tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây (Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên)



Thác Nặc Nhật Lang có thể coi là điểm nối giữa 2 nhánh phải và nhánh trái, từ đây trở ra cổng đều là khu vực Thụ Chính Câu.

Tê Ngưu Hải (Rhinoceros Lake): hồ Tê Giác nhìn phẳng lặng không có gì đặc biệt nhưng nó là hồ rộng nhất trong Thụ Chính quần hồ (hơn 200,000 m2 diện tích mặt nước) với nơi sâu nhất là 12m, nhìn xa xa có cảm tưởng hồ này giống hồ Ba Bể ở nước ta ^^

IMG_6266

Lão Hổ Hải (Tiger Lake): nằm cách không xa Tê Ngưu Hải là Lão Hổ Hải. Hồ Hổ cung cấp nước chảy xuôi về thác Thụ Chính:





Thụ Chính Hải (Shuzheng Lake): trên đường đi đến Hồ Thụ Chính, du khách có thể ngắm nhìn Thác Thụ Chính (Shuzheng Falls) và những ngôi nhà nhỏ người Tạng xây trên dòng nước, lợi dụng sức nước để quay những bánh xe kinh luân:












Hồ Thụ Chính vào mùa đông hơi xơ xác, mùa thu chắc sẽ đẹp hơn đối diện Hồ Thụ Chính là Làng Thụ Chính (Shuzheng Village) xây theo kiến trúc người Tạng, phía trước cổng có dựng đại kỳ ngũ sắc (Guoda) – cách mà người Tạng thể hiện lòng tôn kính của họ với các vị thần linh. Tìm hiểu thêm về đại kỳ của người Tạng, rất thú vị khi được biết các cờ phướn này luôn có 5 màu chủ đạo, trong đó: màu trắng (Bạch kỳ) biểu tượng phương Đông của Phật Aksobhya và Phật mẫu Bouđharocana, màu đỏ (Hồng kỳ) là biểu tượng phương Tây của Phật Amibrabha và Phật mẫu Pandaravasini, màu vàng (Hoàng kỳ) là biểu tượng phương Nam lãnh thổ của Phật Ratnasambhava và Phật mẫu Mamaki, màu xanh lá cây (Lục kỳ) là biểu tượng phương Bắc cho Phật Amoghasđhi và Phật mẫu Samayatar, cuối cùng màu xanh nước biển (Lam kỳ) là Trung Phật Vairocana và Phật mẫu Akasadhatesvari. Ngoài ra 5 màu trắng, đỏ, xanh lam, xanh lục, vàng còn là biểu trưng của mây, sự sống, cây cối, trời, đất là những yếu tố làm nên vạn vật.


Bãi Bonsai (Bonsai Shoals): bãi Bonsai tự nhiên này có thể xem là điểm dừng cuối cùng trước khi ra cổng, lúc này đồng hồ đã chỉ gần sang 5pm là lúc Cửu Trại sắp đóng cửa mùa đông:
IMG_8215
none

Thường nghe câu “Hoàng Sơn quy lai bất khán sơn, Cửu Trại quy lai bất khán thủy” (nghĩa là: đến Hoàng Sơn rồi không còn muốn ngắm núi khác, đã tới Cửu Trại không buồn nhìn những dòng nước ở nơi khác) đã lâu, nhưng chỉ đến khi được đặt chân đến thung lũng này, tận mắt nhìn Cửu Trại đẹp sững sờ như 1 bức tranh ngàn màu sắc của non nước kỳ quan, lắng nghe sự tĩnh lặng như mặt gương ở mỗi biển hồ hay tiếng ỳ ầm xa xăm của những thác nước, ngắm thảm thực vật vươn mình trong ánh nắng hay những trầm tích đậm dấu thời gian dưới lòng hải tử trong vắt thì mới cảm nhận được những điều người ta nói về vẻ đẹp pha màu cổ tích của Cửu Trại thực như muối bỏ bể Mỗi vị trí, mỗi góc nhìn, mỗi giờ, mỗi ngày trong thung lũng Cửu Trại đều đem lại một nét khác lạ và sống động; bạn đọc đã, đang, và sẽ đi Cửu Trại Câu tin rằng cũng chia sẻ suy nghĩ này ^^

… Bước ra khỏi Cửu Trại Câu vẫn cảm thấy lâng lâng … thầm hẹn mùa thu năm tới sẽ trở lại để một lần nữa để ngắm thiên nhiên mây gió núi sông cùng kì hoa dị thảo lúc thay đổi áo xiêm. Từ ngày Cửu Trại Câu chính thức mở cửa cho khách du lịch vào tham quan năm 1984 đến nay đã 25 năm thời gian đi về trên những ngọn núi dòng sông mái nhà trong thung lũng, hàng triệu lượt người đã đến thăm để rồi ngây ngất trước vẻ đẹp hoang sơ nguyên thuỷ, lúc đi chắc ai cũng chung một cảm giác nhớ nhung hẹn ngày hạnh ngộ …
IMG_6462
IMG_6463

Ra về du khách có thể chọn đi taxi là cách thuận tiện nhất để quay lại khách sạn sau một ngày chinh chiến mệt nhọc
IMG_8236

… Đêm dần buông xuống trên thung lũng, mới 7h mà trời tối đen như mực, gió rét căm căm, trong lòng trống trải, bụng đói cồn cào, rảo bước ra ngoài ngắm phố phường. Bên ngoài Cửu Trại về đêm yên ắng và tĩnh mịch mang nét cô đơn đặc trưng của vùng cao nguyên lúc lên đèn, giống như Đà Lạt sau 9h tối vậy … Ghé vào 1 quán nhỏ bán đồ nướng kiểu người Tạng nhâm nhi hết xiên thịt lại đến xiên bánh bao, trong bụng nghĩ “cái khúc vĩ thanh này giữa tiết trời vài ba độ chắc phải đến năm sau mới lặp lại được!“. No nê xong thì chào chủ quán rồi đi giật lùi (cho đỡ rét) để về khách sạn. Lên giường nằm mà trong đầu vẫn nhớ miên man cái màu xanh man trá trong lòng Ngũ Sắc Trì … Xin hẹn bạn đọc bài viết tiếp theo kể chuyện rời Cửu Trại Câu bay về Thành Đô, cũng là ngày cuối trong nhật trình du ký Trung Hoa lần thứ nhất