Trước đây đã từng có dịp giới thiệu với bạn đọc đôi nét về thơ của Nguyễn Bảo Sinh, bài viết này muốn có vài dòng về 1 nhà thơ khác – người được coi là “cứu tinh của thơ lục bát Việt Nam” (trích lời Nguyễn Huy Thiệp) – ông là Đồng Đức Bốn.
Nhà thơ Đồng Đức Bốn sinh tại Hải Phòng, tháng 3 năm 1948. Ông là ai và thơ ông ra sao thì chưa có cuốn sách giáo khoa nào đề cập đến cả, nhưng những sáng tác của ông người ta chỉ cần đọc 1 lần là nhớ mãi. Nguyễn Huy Thiệp vinh danh ông là nhà thơ lục bát kỳ tài của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, khoảng chục sáng tác của ông là tài tử vô địch, còn phần nhiều lại chẳng ra gì! Còn Nguyễn Khoa Điềm lại khái quát chân dung ông qua đôi câu thơ trong bài “Bạn thơ”:
Bạn chừ đóng gạch nơi nao
Văn chương lấm láp vêu vao mặt người
Đồng Đức Bốn có in vài tập thơ, nhưng có lẽ nổi tiếng nhất là tập “Chăn trâu đốt lửa” (1993):
Chăn trâu đốt lửa trên đồng
Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều
Mải mê đuổi một con diều
Củ khoai nướng để cả chiều thành tro.
Chiều nay Hồ Tây có giông
Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm.
Còn đây là lời tựa của Nguyễn Huy Thiệp cho tập thơ thuần lục bát này khi nó được in 
Tôi đã có lúc cho thơ là mẹ của mọi thể loại văn học, thậm chí là mẹ của mọi hình thức sáng tạo (của chính trị, của toán, của kiến trúc, của nấu ăn, của hội họa, của mốt…
. Người nào không thơ khác nào một kẻ mồ côi: Mồ côi mẹ liếm lá đầu đường.
Con người vô ơn (con người bao giờ cũng vô ơn) thường rất bạc với mẹ. Có ai ghi nhớ việc mẹ sinh hạ, mẹ bú mớm, mẹ giặt giũ, mẹ đính cho chiếc khuy trên áo… Thơ thường không bao giờ là một sự nghiệp. Mẹ không bao giờ là một sự nghiệp của con.
Thơ là một thể loại văn học cổ điển nhất, xưa nhất. Thơ hình như khó nhất trong các thể loại văn học. Về hình thức, có lẽ thơ là một thể loại loạn luân nhất.Có mấy loại người làm thơ?
Loại một chắc chắn là các thiên thần. Họ vụt đến, vụt đi và để lại những bài thơ, những câu thơ thiên thần. Nhưng chưa chi chiều đã tắt. Trong đời mỗi người cũng có những giai đoạn, những khoảnh khắc thiên thần. Đấy là những người thơ trẻ trung, những trai tân. (Vậy sao không phải gái tân? Gái tân thì thơ làm gì? Đừng lầm với vật hiến tế!). Khi ấy những bài thơ, những câu thơ hiện lên như những bổng lộc của thần linh.
Loại hai là thơ của những người khởi nghĩa, của lửa, của những nhà cách mạng xã hội! Bay thẳng tới muôn trùng Tiêu Hán / Phá vòng vây bạn với Kim ô / Giang sơn khách diệc tri hồ (Nguyễn Hữu Cầu). Khởi nghĩa với cả tình yêu, với đàn bà, với cái ác, cái tẻ nhạt, cái tầm thường, cái dung tục… với khá nhiều thứ – để biểu dương cái chí: thi ngôn chí (Tú Xương là thi ngôn chí: chí thanh cao, Nguyễn Bính là thi ngôn chí: chí tình).
Ngoài loại một, loại hai là gì? Là loại ba: là phản thơ, là vi khuẩn, là mầm thơ, là những tìm tòi – đa phần viển vông, suy đồi, điếm đàng, đểu, say rượu, đa dâm, hạ lưu.
Vượt lên trên là triết học, vượt lên thơ là triết học. Tư tưởng là thơ bay lên.Đồng Đức Bốn là ai? Đồng Đức Bốn là một nhà thơ loại hai theo cách phân loại như trên. Tiếc thay, anh không phải thiên thần, anh chỉ là một người khởi nghĩa. Anh là một tên nửa quê nửa tỉnh cao tuổi. Anh là một người có những tình cảm ngẩn ngơ, ngây ngất, dại khờ.
Đồng Đức Bốn là một kẻ chí tình.
Thơ Đồng Đức Bốn cũng hay.
Dưới đây xin trích đăng một vài bài thơ của ông sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau:
Vào chùa
Đang trưa ăn mày vào chùa
Sư ra cho một lá bùa rồi đi
Lá bùa chẳng biết làm gì
Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày.
Quốc kêu
Tôi nghe nẫu cả những chiều
Câu thơ ngã xuống đổ xiêu mái chùa
Đời tôi
Vớt buồn trên mặt sông trôi
Bây giờ vẫn chỉ mình tôi giữa dòng
Chợ buồn
Chợ buồn đem bán những vui
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em.
Chợ buồn bán nhớ cho quên
Bán mưa cho nắng, bán đêm cho ngày.
Chợ buồn bán tỉnh cho say
Bán thương suốt một đời này cho yêu.
Tôi giờ xa cách bao nhiêu
Đem thơ đổi lấy những chiều tương tư.
Sông Thương ngày không em
Không em ra ngõ kéo diều
Nào ngờ đuợc mảnh trăng chiều trên tay,
Luồn kim vào nhớ để may
Chỉ yêu cứ đứt trên tay mình cầm.
Sông Thương như gỗ hóa trầm
Mùi hương để vết tím bầm trên da.
Sông thương từ buổi em xa
Tay anh quờ xuống hóa ra bị chàm.
Em đi như chim về ngàn
Để rơi một cánh hoa tan nát chiều.
Tôi đi tìm một tình yêu
Trên dòng sống chứa rất nhiều ban mai.
Tôi đi trên dòng song gai
Lốt chân chim đậu trên vai thành hồ.
Không em từ bấy đến giờ
Bàn tay vẫn héo như cờ chịu tang.
Cầu gẫy mới phải đi đò
Cầu gẫy mới phải đi đò
Thế nên gặp gió thổi cho rét lòng.
Con đò nửa mặt trăng cong
Chênh vênh trên một dòng sông lở bồi.
Mái chèo cứ nhẹ thế thôi
Không là đứt ruột gan tôi bây giờ.
Mái chèo trên song làm thơ
Đỡ cho cánh vạc bơ vơ xuống dòng.
Chốc nữa thế nào cũng giông
Sang đò tôi đén giữa đồng là mưa.
Còn đây là nông thôn trong mắt ông, vừa giống mà vừa khác nông thôn Việt Nam trong con mắt của Nguyễn Bính:
Nhà quê có cái giếng đình
Trúc xinh cứ đứng một mình lẳng lơ
Nhà quê có mấy trai tơ
Quần bò mũ cối giả vờ sang chơi.
Nhà quê chân lấm tay bùn
Mẹ đi cấy lúa rét run thân già
Chợ làng mở dưới gốc đa
Nhà quê có mấy con gà bán chơi.
Và đây là những suy ngẫm của ông về cuộc đời:
Cầm lòng bán cái vàng đi
Để mua những cái nhiều khi không vàng.
Sống gần tới phút chia tay
Tỉnh ra mới thấy đời này rỗng không.
Chín xu đổi lấy một hào
Chín xu đổi lấy một hào
Đi mua cái nắng lại vào cái mưa
Đường bùn tôi lội giữa trưa
Đắng cay thì ngậm xót chua thì cầm
Con sáo sang sông
Tẽn tò con sáo sang sông
Bờ bên này tưởng cũng không có gì.
Tẽn tò con sáo bay đi
Lại bờ bên ấy có gì cũng không…
Lại có đôi khi thơ ông là sự nhẩn nha bình thản lạ thường, đọc vào đơn giản mà thú vị ![]()
Chân đạp đất đầu đội trời,
Khổ câu thơ cứ đến rồi lại đi..
Xong rồi chả biết đi đâu
Xích-lô Bà Triệu ra cầu Chương Dương!
Người viết bài mê nhất đôi câu thơ của ông trong bài “Trở về với mẹ ta thôi”, coi nó là cái gốc cho sự dân dã mà thần tình của những vần thơ lục bát ông đã viết:
Bao nhiêu là thứ bùa mê
Vẫn không bằng được nhà quê của mình.
Bác Thiệp viết về ông là 1 người đọc không nhiều sách, không chịu học hành, đôi khi bừa bãi ngông cuồng, lại không biết viết (anh thường làm thơ trong đầu rồi đọc cho người khác chép), vốn từ vựng có lẽ chỉ ngót nghét có 600 từ, nghe quả là khó tin! Ông mất tại Hải Phòng năm 2006, hưởng thọ 58 tuổi. Những ai mê thơ ông vẫn luôn cảm ơn ông – một truyền nhân của thơ lục bát và ca dao – và cảm ơn thơ ông bởi những giác ngộ thâm trầm ẩn sau lớp vỏ giản dị thuần khiết của ngôn từ.
Ông rất xứng đáng được vinh danh:
Người thi sĩ của đồng quê
Dám đem lục bát làm mê cung đình
Không biết có phải người đọc nông cạn không. Nhưng thiển nghĩ thơ của ông có cái chân tình, có cái dân dã nhưng cũng chưa đẹp, chưa thần đến cái mức được gọi là “cứu tinh của thơ lục bát”. Hơn nữa thì cũng có khá nhiều câu thơ không đúng luật cho lắm (gieo vần, luật bằng trắc…
nên khi đọc lên cũng chưa thấy tôn vinh được vẻ đẹp của thơ lục bát.
Mời mọi người tham gia đàm luận.
Ông ý là cứu tinh thật đó bác
vì ngoài ông này và Bùi Giáng ra, đời nay ít có ai làm thơ lục bát hay và dễ nhớ như 2 ông ý cả. Cũng có lẽ nhân tài hiếm có khó gặp, sách vở lại ít đăng nên chưa có điều kiện khảo cứu thêm các tác giả khác, nhưng em thì vẫn khoái thơ bác này. Lần tới sẽ viết đôi dòng về Bùi Giáng nữa cho đủ mùi vị 
Tôi cũng thích thơ của bác Bốn từ lâu nhưng buồn là chẳng thể tìm được ở hiệu sách. Đành rằng những bài mọi người chọn lên đây cũng là hay thế nhưng cứ mong chờ được tự mình chọn và đọc. vuongcc12@yahoo.com
Trong “Ngày thơ Việt Nam” mới đây (3/3/2007), bài thơ “Vào chùa” của bác Đồng Đức Bốn cũng được lọt vào danh sách 100 bài thơ hay nhất
Nguồn: VnExpress – 100 bài thơ hay nhất VN thế kỷ 20
Cả trăm bài mà đếm ra mới biết có khoảng 40 bài
YILKA ở NTU hả
Khuya đêm lạc lối nẻo thơ
Chữ câu là thực cơn mơ là tình
Tỉnh ra người cũng như mình
Không hay đêm đã quá bình minh xưa
Viết lăng nhăng mấy câu, from an NTU alumni to another one
, tặng một người cũng mê Đồng Đức Bốn như mình 
Dạ em ở NTU ạ, học SCE, cảm ơn anh đã ghé thăm và comment, bác ĐĐB là 1 trong bốn nhà thơ hiện đại em mê nhất
Anh biết bài nào cứ post tiếp cho em đọc ké với 
Khuya đêm lạc lối nẻo thơ
Chữ câu là thực cơn mơ là tình
Tỉnh ra người cũng như mình
Không hay đêm đã quá bình minh xưa!
Mình cũng rất thích thơ ĐĐB. CẢM ƠN BẠN NHÉ.
CHÚC BẠN NGÀY VUI nhen.
Vảo chùa xin gạo chân tu
Té ra sư cũng đã mù như ta
Lá bùa như đóm lửa sa
Dắt vô cửa phật để ra cỏi thường
Tưởng đâu ăn trộm vào chùa
Sư ông ếm một lá bùa đuổi đi
Sáng ra mở cửa trụ trì
Mới hay hành khất họ đi cúng dường
Phan minh Châu
239 Nguyễn huệ Tuy Hòa Phú yên
Nghe người chử nghĩa không thông
Câu thơ rớt xuống bão dông chuyễn mình
Bước đi như giống cá kình
Cái tâm giử lại cái tình ngao du
Nghe nói bác Bốn không biết chử mà sao thơ bác hay vậy,mình có mấy câu tặng bạn bè chơi
Phan minh châu
Đọc thơ bác thấy ghiền,nói thật thơ
bác hay quá,mình bắt chước bác làm ít câu tặng bạn bè cho vui
Chiếc thuyền như mặt trăng cong
Dập dình trên những dòng sông lỡ bồi
Tròng trành thân phận đười ươi
May ra còn một chút người trong ta
HẢI LÂM (Tuy Hòa)
Thua cac quy vi. Theo toi: Ve Ong Dong Duc Bon
Tho Luc bat cua Ong rat hay, sau Nguyen Duy chua thay ai noi, nay moi co Ong, nhung Ong moi noi da ra di som! Toi va nhieu nguoi chi can doc mot lan da co the thuoc. Theo toi duoc biet, co nhieu bai tho cua Ong chua duoc cong bo, con nam rai rac trong ban be, gia dinh,…..Rat mong co vi hao tam suu tam va cong bo cho moi nguoi thuong thuc.
Xin chan thanh cam on
Cám ơn YILKA, mình cũng rất thích những bài lục bát của Đồng Đức Bốn….
Và cả truyện của Nguyễn Huy Thiệp nữa