Xuân, Hạ, Thu, Đông… và những cuộc đời

spring_summer_fall_winter“Xuân, Hạ, Thu, Đông … rồi Xuân” (Spring, Summer, Fall, Winter … and Spring) là 1 phim đặc biệt nữa của đạo diễn Hàn Quốc Kim Ki-duk; phim vừa có nét dục vọng bản ngã như trong “Bad Guy” (2001) hay “The Isle” (2000) của ông, lại vừa phiêu diêu thoát tục trong cái đẹp hút hồn của tự nhiên. Phim rất ít đối thoại, xuyên suốt thời gian là sự luân hồi của bốn mùa, là cuộc sống trần tục ngay trong cửa Phật; xứng đáng là 1 bài thơ tuyệt tác về đời người.

Bộ phim bắt đầu nhẹ nhàng với phong cảnh mùa Xuân, giữa mặt hồ lặng sóng có 1 ngôi chùa còn cổng chùa thì lại nằm xa xa trên bờ, hai bên cửa là hai vị hộ pháp. Người xem có thể nhận ra ngay sự độc đáo sáng tạo khi ngắm nhìn ngôi chùa như 1 ốc đảo giữa mặt hồ xanh. Trong phong cảnh thoát tục đó, chỉ có 2 con người đang sống là sư ông và chú tiểu lên bảy. Cuộc sống tĩnh lặng trôi đi, thanh thản như nước mặt hồ. Trong những năm tháng đầu đời êm đềm đó, bài học lớn nhất mà chú tiểu được sư ông dạy cho là bài học về nhân sinh thiện-ác.

spring_summer_fall_winter

Đến khi Hạ sang, chú tiểu đã trưởng thành đến tuổi dậy thì, đã dần hiểu biết về sự thăng bằng của trời đất, âm dương giao hòa. Câu chuyện bước sang một khúc ngoặt khi có 1 cô gái đến chùa để chữa bệnh trầm cảm, điều đó như một nét chấm phá đổi thay, điểm tô vào cuộc sống thoát tục mười mấy năm nay của ngôi chùa nhỏ. Trong sự xao động đó, chú tiểu có lẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất! cầm lòng không được, chú đã bước qua ranh giới mà nhà Phật cho phép

summer

Hạnh phúc trong sự khám phá mới về cuộc sống, chú tiểu và cô gái tận hưởng với nhau giữa cái bao la của trời đất, nhưng sư cụ đã nhận ra mối quan hệ đó. Cô gái đi khỏi chùa để lại sự day dứt cho chú tiểu. Vấp ngã trước bản năng, chú tiểu bỏ chùa đi tìm người yêu, còn sư cụ, như thấy trước cái yếu đuối rất con người đó, đã không cản lại.

Nhiều mùa nữa qua đi, vào một mùa Thu khi lá phong đã đỏ ối bên bờ hồ, chú tiểu năm nào giờ đã gần 30. Sau nhiều năm sống giữa cái trần tục đời thường, chú lại học thêm được bài học về bộ mặt con người, chú đã giết người vợ phụ tình và nay trở lại ngôi chùa cũ nhằm tìm kiếm lại sự bình lặng cho tâm hồn. Tuy nhiên, gieo nhân nào thì gặp quả nấy. Cảnh sát đến bắt chú đi. Trước khi đi, chú còn kịp khắc xong bài Kinh Bát Nhã ngay trên sân chùa

fall

Chú bị bắt đi rồi, sư ông thì ngày một già đi và ông qua đời sau đó vài năm, ngôi chùa thực sự chìm vào trong không gian u tịch.

Mùa Đông đến, tuyết rơi phủ kín ngôi chùa, còn mặt hồ thì đã đóng băng, đã hơn 10 năm nơi đây không một bóng người, cảnh vật đã tiêu điều. Năm đó, có 1 người đàn ông trung niên đạp tuyết về đây, đó chính là chú tiểu ngày xưa khi đã mãn hạn tù. Giờ đây cô độc giữa thế gian, ông lại trở thánh sư trụ trì, một mình tu luyện để thoát bến mê.

winter

Vậy là đã qua gần nửa đời người, cái vòng luân hồi năm xưa dường như tái diễn khi một buổi sớm mai có 1 người đàn bà mang con bỏ lại chùa, sư ông đã nhận nuôi nó.

Một mùa Xuân mới lại sang, đứa trẻ lớn lên thành chú tiểu, lại dáng vẻ ngây thơ và nụ cười hồn nhiên của 40 năm về trước, còn sư ông lúc nãy đã trải nghiệm được vị đắng của trần gian, giờ đây tư lự như thầy mình năm xưa, nén 1 tiếng thở dài khi cảm thấy cái hữu hạn của đời người trong cái trầm luân của thời gian và sự rộng lớn của không gian. Sẽ lại có những cuộc đời và duyên nghiệp đi qua, bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông cũng như Sinh, Lão, Bệnh, Tử; khắc nghiệt và vô hình, chỉ có con người là bất lực trôi theo nó mà thôi.

spring again

Bộ phim đến đây là hết, nhưng người viết bài như tìm thấy sự đồng điệu giữa nó và 1 câu chuyện mà mình rất yêu thích của nữ nhà văn Trần Thùy Mai, xin mạn phép đăng tải ở đây luôn. Câu chuyện cũng là về tình yêu giữa 1 chú tiểu và 1 cô gái, không trọn vẹn nhưng cũng đầy nhớ nhung, cũng là sự đấu tranh nội tâm với giáo lý nhà Phật, và cũng phảng phất triết lý cuộc sống như các tác phẩm khác của Trần Thùy Mai. Truyện này chắc nhiều bạn đã đọc rồi, nếu vậy chắc cũng sẽ thấy thích thú và đồng cảm hơn khi xem phim.

Thương Nhớ Hoàng Lan
(Trần Thùy Mai)

Tôi sinh ra dưới một mái chùa. Nghe kể rằng sư phụ tôi khi ấy còn trẻ, một hôm đi ngang bỗng động tâm hỏi: “Mô Phật, sao sau chùa lại phơi tã lót?” Nghe chuyện đời cha tôi, thầy bảo: “Hãy nhớ ngày này. Nếu có cơ duyên, mười năm sau ta sẽ trở lại”. Trở về thầy bỏ tăng viện, lên một ngọn núi hẻo lánh trong rú xa, dựng mấy nếp nhà cổ. Từ ấy, thầy ẩn tu, hiếm khi xuống núi.

Lớn lên, tôi giống cha tôi như đúc và rất được mẹ yêu chiều. Cha tôi mắt sáng, mũi cao, tiếng nói trầm ấm, tính tình hiền hoà trung thực. Khi còn là một chú tiểu đầu để chỏm, người đã nổi tiếng thông minh, mười lăm tuổi chép rành kinh chữ Hán. Rồi vì học giỏi, được cử làm giáo sư ở trường Trung học Bồ Đề, một trường phổ thông tư thục của Giáo hội. Lúc người sắp được phong Đại Đức thì gặp cô bé nữ sinh tinh nghịch, có đôi mắt hút hồn, đôi môi đầy đam mê và cái tính thích gì thì làm cho bằng được. Ban đầu, cô bé chỉ định quấy phá chơi để thử bản lĩnh của thầy. Nhưng rồi tình yêu là lửa, chính người muốn đốt lại cháy. Cả chùa ngẩn ngơ khi người thanh niên đạo hạnh vòng tay trước sư cụ trụ trì: “Yến bệnh nặng đã bốn tháng rồi, sợ rằng cô ấy chết. Thầy dạy con tu hành để cứu chúng sinh. Nay con có thể cứu một sinh linh, sao lại khước từ?” Cha tôi rời chùa, cô Yến khỏi bệnh rồi hai người thành vợ thành chồng. Ông bà tôi để lại một ngôi nhà, cha tôi cho dỡ đi, xây vào chỗ đó một ngôi chùa tư. Đã không bỏ đời theo đạo được, thì ông đem đạo về giữa đời. Sau khi đã có con, ông vẫn ăn chay, mặc áo nâu và tụng kinh sớm chiều. Có lần mẹ tôi đi chợ mua một xâu ếch, những con ếch theo phản xạ cứ chắp hai chân trước vái lia lịa. Một bà đi ngang bảo mẹ tôi: “Mấy con ếch lạy khéo không thưa thầy M.H” Rồi bà cười ha hả: “Đi tu mà chẳng chót đời, làm thân con ếch cho người lột da”. Tính mẹ tôi mau nước mắt, cứ vừa đi vừa khóc thút thít cho đến lúc tới nhà. Tối đó bà kèo nhèo mãi, năn nỉ mãi cha tôi tội gì không để tóc, ngả mặn, làm người trần cho sướng cái thân. Tu kiểu này, người ta nói không chịu nổi. Cha tôi chỉ cười, dường như chẳng để tâm. Cả đời người không tranh giành với ai mà như có phép thần thông, chạm vao đâu thì phất lên đến đó. Cơ sở làm hương trầm của người càng phát triển, mẹ tôi càng béo đẹp ra thì lời đàm tiếu của thiên hạ càng rần rần. Cuối cùng, chẳng hiểu vì sao, mẹ bỗng đột ngột bỏ đi mất tăm…

Cô ruột tôi giận lắm, bảo: “Mẹ mi là con yêu tinh, khi trước đã phá đời tu của cha mi, chừ lại phá luôn đời tục của ổng.” Ai cũng khuyên đăng báo tìm, nhưng cha tôi chỉ nói “Đừng”. Ông không trách móc gì, nhưng có lẽ ông buồn, tiếng tụng kinh đêm khuya nghe chừng khắc khoải. Chao ôi, với những con thuyền khắc khoải ấy, kiếp nào cha mới đến Tây Phương?

Cơ sở làm hương từ đó phó mặc cho cô tôi. Cô tôi cho chặt cây, nhổ cỏ, sửa sang lại khu vườn sáng sủa. “Thiệt là hư sự, ai đời lập chùa mà lại trồng hoàng lan trong sân. Mùi hoàng lan là mùi ma, hèn chi ma chướng nó phá cho như thế ni.”

Tôi dân dấn nước mắt nhìn người ta chặt cây hoàng lan, cành lá vứt bừa bãi trên mặt đất. Ngày xưa, gội đầu xong mẹ tôi thường hái hoa giấu vào búi tóc cho thơm. Bây giờ người đã đi, hoa cũng không còn…

Năm tôi mười tuổi, có vị Đại Đức trên núi về thuyết pháp ở chùa Diệu Đế. Tôi đi theo cô tôi đến nghe. Khi trở về tôi xin xuất gia. Cha tôi bảo: “Kinh sách ở đây, chuông mõ ở đây, con còn đi đâu?” Tôi chỉ lắc đầu…

Nơi thầy tôi ẩn tu là Bích Vân am – am Mây Biếc. Mười năm khai sơn, thầy đã cùng đồ đệ trồng hơn hai chục mẫu bạch đàn và ba ngàn giò phong lan đủ loại. Các sư huynh dạy tôi chăm hoa, tưới cây mỗi sáng. Buổi chiều đi học ở trường Nam Giao. Năm mười lăm tuổi tôi bắt đầu chướng tính. Sư huynh hạch tôi: “Bạch thầy, Đăng Ninh trốn học, la cà ở quán cà phê Tím. Người quanh đó ai cũng chê cười, họ nói cô ruột Ninh làm hương giàu có, cúng dường nhiều tiền nên thầy thả cho Ninh tha hồ tự tung tự tác”. Tôi ức, lầm lì không nói, thầy cũng không quở. Tính thầy rất nghiêm, không mấy khi la rầy mà đồ đệ ai nấy tuân lời răm rắp. Chỉ riêng với tôi, không hiểu sao thầy đặc biệt khoan thứ. Sợ thầy phạt, đợi lúc sắp tụng kinh, tôi biện bạch: “Bạch thầy, ngày xưa cha con thường bảo: tu trên núi, tu giữa chợ mới là khó. Không ở giữa đời, làm sao hiểu đời đục mà tránh?” Thầy hỏi: “Ai bảo con là đời đục? Đời không đục, không trong.” Tôi hụt hẫng, không hiểu ý thầy định nói gì.

Tu trên non bây giờ thật ra cũng không phải dễ. Thầy tôi tránh đời vào núi sâu nhưng rồi vườn lan Mây Biếc nổi tiếng quá nên người trần lại kéo lên thưởng ngoạn. Thứ bảy, chủ nhật, học trò đạp xe lác đác trắng trên con đường mòn tới thảo am. Mấy cô nữ sinh nhỏ tuổi mê hoa ngẩn ngơ ngắm bông súng tím trong hồ, chạy vào tới tận hiên, chỗ thầy ngồi viết sách. Thầy không quở, cũng không ngẩng lên nhìn. Một cô bé chạy đến gần tôi, nhìn những làn sương li ti mà tôi đang xịt lên những chồi đang đơm nụ. Cô hỏi tôi tên hoa, tôi giảng: “Đây là giống Tiểu Hồ điệp, nghĩa là bươm bướm nhỏ. Em thấy không, trông xa chấp chới như đàn bướm cải màu vàng”. Cô chìa tay với những ngón búp măng, hứng sương. Tôi cau mày: “Này, đừng nghịch”. Cô bé cứ đùa với những bụi nước, chẳng để ý lời tôi. “Anh cứ tưới đi, em cũng là Lan”. Tôi cáu, xịt cho nước rơi ướt cả tóc, cả áo cô bé. Mấy cô bạn cười rúc rích, khi về có cô còn nói vọng lại: “Con Lan hên quá, gặp chú tiểu vừa đẹp trai vừa quậy”. Tôi tủm tỉm cười. Sư huynh tôi cáu kỉnh: “Mấy con Thị Màu đời nay quá quắt lắm. Bay không biết quyến rũ sư tăng là tội đoạ địa ngục hử?” Tôi cự: “Người ta chỉ đùa thế, có gì mà gọi là quyến rũ”.

Từ đó, vài hôm một lần, Lan lại đến giúp tôi tưới hoa. Tôi dạy cho cô biết về phong lan, đây là cả một thế giới còn đa dạng hơn thế giới người. Phượng Vĩ đỏ rực, Tuyết Điểm thì trắng, Vũ Nữ thì như đang múa trước giò. Lan phụng phịu: “Hoa nào cũng có tên riêng, chỉ em không có”. Tôi nhìn khuôn mặt cô, đôi mắt trong trẻo với cái miệng hồn nhiên như trẻ thơ. “Vậy tôi đặt cho cô
một cái tên. Tên cô là Tinh Khôi”.

Thầy biết tình thân giữa tôi và Lan. Sư huynh không vui lòng, thầy chỉ bảo: “Không can gì”. “Bạch thầy, người này có bạn thì người kia có bạn, rồi con gái kéo đến đầy thảo am, còn cái thể thống gì nữa?” Thầy gật đầu. Chiều lại, tôi mài mực hầu thầy, thầy đem cho tôi xem bộ tranh mười bức vẽ mục đồng chăn trâu. “Đây là thập mục ngưu đồ, cũng là quá trình tu học của một con người. Trâu không là trâu, mà chính là cái tâm ta đó”. Tôi động lòng, hỏi: “Bạch thầy, con xem bức vẽ cuối cùng, không còn trâu, chẳng còn người, chỉ còn trăng soi. Vậy cớ gì phải sống trong dây trói. Ngày xưa Tuệ Trung Thượng Sĩ là bậc ngộ đạo mà không kiêng rượu thịt, vì chay mặn chỉ là hình tướng bên ngoài, không can hệ đến sự giác ngộ bên trong”. Thầy cười: “Đúng, con ạ, với bậc đắc đạo là thế. Nhưng khi ta còn là một người phàm, thì cũng như con trâu kia, phải có sợi dây buộc, có người chăn dắt. Đến khi cái tâm vững rồi, sáng rồi mới có thể như trâu đen thành trâu trắng, không ràng không buộc, chẳng những nhởn nhơ trên cỏ xanh mà còn bay lên chín rầng mây”. Tôi vái thầy mà thưa: “Con hiểu rồi, nhưng nhà chùa chẳng thể xua đuổi ai. Từ mai con xin thôi không giữ vườn lan nữa.”

Mấy hôm sau, Lan thấy sư huynh ra tưới vườn, còn tôi thì chẻ củi. “Anh không thích phong lan nữa sao?”. “Không. Muôn hồng nghìn tía, chẳng qua cũng chỉ để nhìn trong chốc lát. Một đời tôi chỉ riêng nhớ hoàng lan”. Tôi giảng cho cô bé biết hoa hoàng lan cánh mảnh mai, vàng như màu chim hoàng yến. Thuở trước, cứ rằm, mồng một, các bà hàng hoa lại đến mua, họ gói hoa trong lá chuối, từng gói nhỏ xinh xinh toả thơm ngây ngất. Lan bảo: “Thích ghê, em chưa thấy bao giờ”. Ừ, loài cây ấy có lẽ giờ đây đã tiệt giống rồi hay sao, nhiều lần theo sư huynh đi chợ mua bông chuối, tôi để ý tìm mà không thấy nữa. Tôi lớn lên, lòng bâng khuâng như thiếu vắng một thứ gì, cứ mơ hồ nhớ nhớ, thương thương…

Cuối năm, anh em tôi kẻ kéo người đẩy, chở phong lan xuống phố đổi gạo. Ông chủ tịch hội hoa cảnh hài lòng lắm khi thấy những giò mũm mĩm với chồi xanh đầy nụ. Ba bao gạo lớn được bưng ra. “Cha ơi, con có làm một ít bánh trái cây để cúng dường”.Tôi nghe tiếng, quay lại, sững người vì thấy Lan. Ông chủ tịch âu yếm bảo: “Cúng dường thì phải cung kính. Con phải tự lên chùa lạy Phật mà dâng”. Tôi hãi hồn, vội nói: “Thôi thôi, khỏi phiền nữ thí chủ. Nhận ngay ở đây”. Lan bật cười, lại cái cười tinh khôi. Rồi Lan nhìn tôi buồn thiu: “Sao lâu nay anh không ra vườn? Em lên chùa, biết anh trong bếp mà mấy chú không cho vào. Riết rồi em buồn không muốn đến nữa”.

Mấy buổi sau, tôi theo các bạn cùng lớp vào quán. Lan ngồi ở đó, sau chiếc bàn con bên cửa sổ. Các bạn tôi ai cũng nhìn về phía Lan, còn cô bé thì chẳng nhìn ai, cứ lặng lẽ một mình. Ngồi ở một bàn xa mà tôi như thấy cả bầu trời hoàng hôn tím, tím ngát ngoài kia đang in trong đôi mắt Lan. Mãi đến khi chúng tôi ra về, Lan mới ngoái nhìn, ánh mắt thơ ngây mà não nùng. Bỗng dưng đỏ mặt, rồi tôi thấy hoảng sợ vì mình đã đỏ mặt…

Một người con gái chiều nào cũng ngồi ở quán Tím, chẳng bao lâu đã thành đề tài để bọn con trai bàn tán.

“Con Lan sữa tươi trông xinh vậy chứ nó mắc bệnh sợ đàn ông. Đếch thằng nào đến gần được, nó tránh như tránh tà”. “Không phải đâu, nó giữ giá để chờ lấy Việt kiều, thằng Hùng ở Cali về ngày nào cũng trực ở nhà nó”. “Giữ giá cái gì, nó ưa thằng Quắn chạy bàn ở cà phê Tím. Tao thấy nó ngồi một bàn với thằng Quắn, khóc rưng rức”. Tôi im lặng, một lát sau mới bảo: “Khó tin”. “Ở đời chuyện gì mà chẳng có thể xảy ra – bạn tôi nói, vẻ ông cụ non – Chiều qua chính mắt tao thấy nó chạy ra sau quầy đưa bức thư cho thằng Quắn”.

Đạp xe về đã đến quá lăng Tự Đức, tự nhiên tôi bứt rứt không chịu được. Tôi quay xe, đạp về nhà Lan. Mưa phùn lướt thướt trên con đường về Bao Vinh xa tắp. Mẹ Lan hỏi: “Nhà chùa có việc gì mà nhắc cháu lên? Thấy Quắn về nhắn, tôi cho cháu đi ngay rồi”. Tôi tái mặt, không kịp chào, đạp xe đi như tên bắn. Tim tôi dội thình thịch vì âm vang những lời nói của sư huynh khi Lan mới lên thảo am lần đầu: “Cô gái này đẹp đẽ thanh tú nhưng đuôi mắt quá dài, môi mỏng, cổ cao, tai nhỏ. Đấy là tướng hồng nhan mệnh yểu.”… Trời chập choạng tối, tới Nam Giao. Nhìn dáo dác hai bên đường, tình cờ thấy Quắn và Lan cùng ngồi trong quán ốc. Quắn gọi rượu, đang ép Lan uống, Lan lắc đầu, Quắn cố nài. Tôi đi vào, đấm mạnh vào mũi Quắn: “Đồ lừa đảo. Từ nay chừa cái thói dỗ gái đi”. Quay sang Lan, tôi nạt: “Đi về!” Không biết Lan có bị một thứ thuốc mê gì không, mặt ngây ngây như bị bỏ bùa. Tôi chở Lan đi. Quắn biết tôi có võ Thiếu lâm nên đành chịu phép, hậm hực chùi máu mũi nhìn theo, cái nhìn của một con thú mất mồi…

Trên đường về, Lan tỉnh lại, gục mặt vào lưng tôi, khóc: “Em nhờ Quắn chuyển đến anh nhiều thư, anh có nhận được không?” Tôi cau mặt: “Em khờ lắm, sao lại đi với thằng Quắn?” “Quắn bảo em uống vài chén cho ấm rồi lên đàn Nam Giao chờ Ninh đến”. “Em đừng quên, tên em là Tinh Khôi. Đừng dại dột để bọn lưu manh làm nhơ bẩn”. Nước mắt Lan chảy thấm qua chiếc áo lam của tôi, thấm vào đến da thịt. Dừng xe, tôi ngồi xuống vệ cỏ ven đường. Lan ngồi bên tôi. “Đêm nào nằm mơ cũng thấy anh dắt em đi thăm vườn phong lan. Mình về trồng lan trong sân nhà em đi, có thích hơn không?” Tôi không trả lời, ngắt những cọng cỏ, vò nát trong đôi tay run run. Trên kia, trăng sáng quá, tròn và rực rỡ như chiếc mâm vàng giữa trời. Bỗng nhiên lòng tôi miên man nhớ những câu chuyện cha tôi vẫn kể ngày xưa… “Em có thích nghe chuyện cổ tích không?” “Thích”. Tôi kể cho Lan nghe chuyện người tử tù đội chiếc mâm vàng đầy nước đi từ cổng hoàng cung vào trước ngai vua mà không sánh ra ngoài một giọt, Lan nghi ngờ: “Sao có người làm được như thế?” Tôi gật đầu: “Ngày ấy, nhà vua cũng đã hỏi như vầy. Vị thiền sư trả lời: “Bệ hạ hứa nếu y làm được thì sẽ tha tội chết. Vì lẽ sống chết của y, nên dù việc khó vô cùng mà y vẫn chăm chăm làm bằng được. Nay nếu bệ hạ cầu giải thoát cũng như người này cầu sống thì việc tu hành dù khó mấy cũng có thể vượt qua”. Lan ngước nhìn tôi, lần đầu tiên tôi nhận ra trong hai cái giếng êm như nhung của mắt cô bé những tia sáng ương ngạnh lạ lùng. “Em hiểu rồi. Anh xem tu hành là chuyện sinh tử của anh. Vậy nếu em lại xem anh là chuyện sinh tử của em thì sao? Anh và em, ai đi trọn đường, ai bỏ cuộc?” Tôi bảo: “Em nói gì thế? Chuyện sống chết mà nghe cứ như là trò chơi sấp ngửa của trẻ con”. Lan cười… Bàn tay nhỏ nắm lấy tay tôi, ngón thon vuôn vuốt như cánh hoa ngậm sữa. Vẻ đẹp này có phải phù du? Vẻ đẹp này là sắc hay không? Chỉ thấy ngợp vì trăng. Trăng sáng quá. “Thôi, về đi em”. Tôi đạp xe, trước mặt tôi chập chờn lấp loá những con đường. Những mê lộ giữa đạo và đời, giữa ma và Phật…

Việc lộn xộn ở quán ốc chẳng mấy ngày đã đồn đến chùa. Cô tôi biết, tốc lên ngay. Tôi bảo: “Cô đừng lo. Chẳng có chuyện gì đâu”. “Không có lửa làm sao có khói. Ăn ốc, đánh lộn, dành gái. Thế còn gì là tu hành? Tau mà gặp con ma nữ đó, tau tước từ dưới tước lên”. Tôi ngẩn người một lúc rồi hiểu ra, không nín được cười. Cô bực tức: “Cháu tưởng chuyện gì cũng cười là xong sao?”

Quả là chuyện không thể cười mà xong. Mấy hôm sau, gia đình Lan mời tôi về.

“Con ma nữ” đã uống hai mươi viên Sedusen, may sao nhà biết được, chở đi cấp cứu. Mẹ Lan chắp tay lạy tôi như lạy Bồ Tát: “Bác biết tính con Lan lắm, từ nhỏ nó đã nói là làm, đã làm là làm tới cùng. Sợ e cứu thoát lần này, nó lại tự sát lần nữa. Con cứu nó cho bác đi con”. Tôi cuống quýt: “Bác bảo con làm sao được?” “Con cứ giả vờ ừ đi, bây giờ nó mới lớn, tính còn ngông cuồng, vài ba năm nữa chững chạc rồi tự nhiên nó hiểu ra”. Ông chủ tịch hội hoa cảnh mắt đỏ au, nhìn tôi chờ đợi một lúc rồi bảo vợ: “Nói như bà cũng khó. Chú Ninh đây tướng mạo khôi ngô, trước sau rồi sẽ có phước được che lọng vàng. Lẽ nào vì con mình mà để người ta mang tai mang tiếng”. Tôi thở dài: “Cháu đi tu không phải là mong lọng vàng che đầu. Chỉ vì nguyện giữ thân trong sạch để tụng cho mẹ cháu một nghìn lần kinh Thuỷ Sám”. Nhớ tới mẹ, tôi bất giác đau đớn trong lòng, đứng dậy đi…

Tôi về chùa, từ ấy không đi đâu. Thầy bảo: “Sao con bỏ học?” Tôi nói: “Suối ở xa, con muốn ra triền núi đào giếng”. Tôi tự đày mình trong những nhát cuốc trên sỏi đá, đêm về tụng kinh, vẫn đôi khi chợt nghe tiếng mình khắc khoải. Có lúc nửa đêm chợt tỉnh, thấy thầy ngồi bên giường, lâm râm niệm chú. Tôi hốt hoảng vùng dậy: “Bạch thầy”. Thầy tôi bảo: “Con giật mình, nói mê luôn, hất tung cả chăn.” Tôi nói: “Con tỉnh rồi. Rước thầy đi nghỉ, con xin ra bệ Phật niệm Cầu An”. Thầy lặng lẽ một lúc rồi bảo tôi: “Tâm không an, có cầu cũng vô ích”. Tôi gật đầu thú nhận. Bao nhiêu đêm, cứ chợp mắt là thấy Lan hiện ra, mảnh dẻ, thanh thoát, đầu đội chiếc mâm vàng sóng sánh nước đi thẳng đến bờ vực. Tôi nghe tiếng thét của nàng vang động cả giấc mơ, nàng nhào xuống rơi thẳng vào không gian mênh mông như chiếc lá lìa cành trước gió. “Thầy ơi, nếu vào Niết bàn mà phải đạp lên một chiếc lá, Phật có làm không? Xin thầy cho con hay, trời đất nặng hơn hay chiếc lá nặng hơn?” Thầy nhìn vào mắt tôi: “Chỉ có con tự trả lời được thôi. Ngày mai con hãy về, cứ nhìn thẳng vào nghiệp duyên mà tự quyết định lòng mình.” Tôi lắc đầu: “Thầy quên sao? Con đã thề khi nào đào xong giếng mới xuống núi”.

Ra xuân, đường lên núi khô ráo. Hai tay tôi ướt bùn đỏ, những giọt nước đầu tiên đã úa ra từ lòng đất sâu. Tôi chạy về chùa, định vào trình thầy nhưng người đang làm lễ. Có người thí chủ dâng hương trong bệ Phật, mùi trầm mới thơm thơm trong không gian.

Đang dội nước rửa tay, tôi nghe có người bước đến: “Chú Ninh!”

Tôi ngẩng lên. Mẹ của Lan. “Bác lên chùa cầu cho em đi bình an…” Bà đưa cho tôi một cái túi nhỏ, rồi vừa quay đi vừa đưa khăn lau mắt.

Những dòng chữ trong thư, mảnh mai và run run như những cánh lan:

“Bốn trăm ngày chờ anh ở quán Tím, cuối cùng em cũng hiểu ra là mình thua cuộc. Đã đi mà chẳng tới, lẽ ra thì phải chết. Nhưng em chết thì anh làm sao yên lòng đi trọn con đường tu. Vì vậy, em đã quyết định lấy chồng xa xứ. Trong cái túi này là cây hoàng lan con, em nguyện tìm cho anh bằng được rồi mới ra đi. Em vẫn nhớ lời anh nói, một đời anh chỉ thích hoàng lan…

Người ta cứ bảo em khôn, lấy ông Việt kiều đi Tây đi Mỹ cho sướng chứ theo chi chú tiểu trọc đầu. Nhưng đi Tây đi Mỹ không phải là chí nguyện của em. Lấy một người mình không thương, đến một nơi xa lạ với em còn khổ hơn là chết. Xin anh hãy tụng cho em một lần kinh cầu siêu thoát, một lần thôi…”

Bất giác, tôi oà khóc. Nước mắt theo nhau lăn trên má tôi như ép cho hết những dòng tục luỵ cuối cùng. “Cứ khóc đi con” – Thầy vỗ về khi thấy tôi luống cuống che mặt – “Thầy chưa nghe nói gỗ đá thành Phật bao giờ”. Tôi nức nở: “Bạch thầy, thầy có cho con trồng cây Hoàng Lan không?”

Thầy bảo: “Cỏ cây vô tội, sao mình không thể bao dung?” Rồi một tay dắt tôi, một tay cầm túi cây đến bên góc vườn, thầy tự mình trồng xuống.

Tôi tưới cây bằng nước giếng chùa. Hoàng lan lớn lên, năm này qua năm khác, nở hoa vàng mong manh. Mong manh như tất cả những gì đẹp trên thế gian.

Tôi cầm lòng thôi thương, thôi nhớ… (Hết)
—–

Bài viết dài thật, chắc phải dừng rồi nhất định sẽ có dịp dành những trang viết đầy đủ và trang trọng hơn cho nhà văn Trần Thùy Mai. Bạn đọc nếu đã xem phim, đồng tình hay phản đối gì thì xin cứ comment tự nhiên; còn nếu chưa thì có thể tìm khi rảnh rỗi thử xem sao. (Phim không dành cho trẻ em dưới 18 tuổi)

Article ends here, perhaps you want to share it!

Related Posts:

♣ ♣ ♣ ♣ ♣
Previous Post <<

36 Responses and Counting.

  • YILKA says:

    [quote post="638"]Mong manh như tất cả những gì đẹp trên thế gian.[/quote]
    Hay cho Trần Thùy Mai, bao năm đọc lại vẫn thấy thích văn bà xứng đáng là nữ văn sĩ số một của đất Huế.

  • ngxtri says:

    Truyện hay, phân tích, dẫn truyện uyển chuyển, khà khà

    “Tâm không an, có cầu cũng vô ích”

    Viết về đạo và đời thì nhiều lắm, nhưng “Thương nhớ Hoàng Lan” thì đủ ngắn, thi vị và bao hàm
    Nói nôm na, con người ta đi từ chỗ
    “không biết nhục dục”, thanh khiết như mùa xuân, đến
    “biết và ham muốn nhục dục”, cháy bỏng như mùa hạ, rồi thì, nếu là chưa đủ đức độ thì
    “cố gắng lánh xa nhục dục”, còn nếu được như bậc Tuệ Trung, thì
    “tu giữa chợ mới là khó”. Trải qua sự bể dâu, kinh qua hết xuân hạ thu đông, người ta lại trở về với mùa xuân trong tâm, để lại nâng niu những mùa-xuân-chưa-biết-mùa-hạ khác
    đắc ý đắc ý

  • ZZZ says:

    Đọc xong truyện này lại thấy nhớ mấy truyện trong tập ‘Hèn đại nhân’ của bác Lê Đạt

  • YILKA says:

    Chú ZZZ có truyện đó của Lê Đạt ko? share cho anh với, anh chưa đọc truyện nào của bác Lê Đạt cả chắc do bị cấm ngày trước nên giờ hiếm

  • ZZZ says:

    Em có 1 tập ‘Hèn Đại nhân’ của bác Lê Đạt ở nhà, giờ mỗi lần về VN lại giở ra đọc lại, vẫn vãi hàng như hồi mới đọc năm lớp 7

  • cmet says:

    anh oi, phim co share trong truong khong a..mai em mang may vao chep

  • YILKA says:

    Phim này cùng “Bad Guy” vẫn được share trong trường

  • hercules says:

    Anh co ba`i review hay qua’, ca cau chuyen cung hay nua. Em cung la` 1 fan cua phim HQ, hong biet Old Boy co phia cua Kim Ki Duk hong ta?

  • YILKA says:

    Thanks em

    Old Boy của đạo diễn còn nổi tiếng hơn cả Kim Ki Duk, đấy là Chan Wook Park – bác này còn là đạo diễn của “Joint Security Area”, “Sympathy for Mr. Vengeance”, “Sympathy for Lady Vengeance”, “Three… Extremes”, …

    Hiện tại anh đang tìm down “I’m a Cyborg, But That’s OK” – phim mới ra 2006 của bác Park

  • sirnoucamp says:

    mới coi Bad Guy xong, cũng vài chỗ ko hiểu, chắc tại ẩn ý quá, nhưng cũng đủ hiểu để thán phục được nội dung muốn chuyền tải của đạo diễn.

    đúng là trong mê có thực trong, trong thực có mê, trong dâm có tình, trong tình có dâm.

    nhưng mà ko hiểu cái hình tương con bé áo đỏ chạy xuống biển chết là sao bác nhỉ, đề nghị bác viết review

  • Reynard says:

    Good movie
    Even better story

  • Hisashi says:

    I think it’s just an ok movie and people overrated it somehow…

  • lan hương says:

    chuyện này sao mình đọc chẳng thấy hiểu gì, mình cũng chẳng biết nữa?
    Còn bộ phim này có nghe giới thiệu khá lâu nay mà chưa được xem, tiêc nhỉ

  • YILKA says:

    Truyện Trần Thùy Mai đọc luôn dễ hiểu mà, bạn Hương thử lại xem sao Còn phim kia thì phải đi tìm mua/thuê ở nhà thôi, tin rằng ko khó đế có đâu. Chúc bạn như ý.

  • lan hương says:

    uh, đúng là dễ hiểu và giọng văn hợp với mình mà, hôm trước tâm trạng quá, đọc mà không vào lẫn lộn với những thứ trong đầu mình quá, bất giác viết vậy thôi, mình dùng Google tìm ra trang này, thực ra cũng có nguyên nhân mới thế. Mình đã đọc lại rồi, mình cũng là LAN, LAN HƯƠNG…

  • klc1802 says:

    Phim này mình xem đến hai lần. Mỗi lần xem điều khám phá được một ẩn ý gì đó.
    Quả thật đây là bộ phim hay và làm mình suy nghĩ rất nhiều sau khi xem.
    Mình nghĩ nếu đạo diễn cho ba nhà sư đó (ông sư già, nhà sư trung niên và chú tiểu bị bỏ rơi) cùng huyết thống thì sẽ thể hiện rõ hơn sự luân hồi-chủ đề của bộ phim.

  • lan huong says:

    mình đi lùng khắp hà nội mà không có đĩa phim này, làm ơn cho mình biết phải mua ở đâu đây, mình cảm ơn lắm lắm

  • aimech says:

    Minh muon xem nhung ko biet tim dau. Co bro nao chi minh voi. Thank truoc

  • Anonymous says:

    Lên số 9 Bảo Khánh, cửa hàng Hollywood, bán fim này đầy, nhưng chỉ có bản tiếng Anh, hồi trước chợ Giời fim này bán đầy bản tiếng Việt mà chả ai thèm mua, đúng là tâm lý bầy đàn, nghe giới thiệu là đổ xô đi mua.

    • Moody says:

      Bạn nói gì thiếu suy nghĩ quá vậy? Trước là ko có quản cáo thì đâu có ai biết, bạn sôngs ở thế kỷ này rồi mà ko hiểu 2 từ QUẢN CÁO ah? dùng từ bầy đàn đc thì cũng lạ cho bạn

  • thichthanhanh says:

    cảm ơn bạn rất nhiều! mình cũng thấy nói đến cuốn phim này nhiều rồi mà chưa được xem, hôm nay đọc những dòng tóm tắt nội dung phim mình thấy đúng là hay thật! mình phải tìm mua đĩa mới được, cảm ơn bạn nhiều!

  • andy says:

    phim hay…I love this director..I saw almost his movies
    http://my.opera.com/leviet/blog/

  • Noel says:

    Nhờ đọc lời dẫn của bạn, mình mới hiểu thêm về bộ phim đấy. Có chi tiết không chính xác lắm mà bạn đã kể, không phải sư cụ già rồi chết, mà chính ông đã tự thiêu mình trên một chiếc xuồng -chỗ này mình không hiểu lắm.

    Bạn không nói, mình cũng không nhận ra người đàn ông trung niên kia chính là người thiếu niên đã bước qua ranh giới nhà Phật… Cảnh phim thật đẹp. Mình hơi “phiền” một chút ở cảnh “trai gái”… Sư cụ bảo đó chỉ là “bản năng” và đã không trách mắng gì đệ tử… ông còn để cho nó tự chọn lấy con đường bước vào cõi tục…

    Nhẹ nhàng… nhưng cần biết nghĩ sâu… :”

    • Moody says:

      Phim rất hay chỉ tiếc có mỗi một đoạn sex thì nó hơi kỹ, làm mình ko dám trình film ra cho các cụ xem mặc dù rất muốn, film này nói rõ về 2 tư tưởng chính của phật giáo : Nhân Quả và vòng quay Sinh Tử.

      Còn hình tượng sư ông tự thiêu thì bạn có thể hiểu là Sau khi Sư ông đã có thể bắt chú tiểu ngày nào viết bài kinh Bát Nhã Ba La Mật, cứu đc chú tiểu ra khỏi vòng luẩn quẩn bởi những mong muốn thấp hèn của con người. và cũng có thể là để trả lại những cái nghiệp ác mình làm từ bé, sư ông tự thiêu và đi đến cõi phật, nhưng trong film mình thấy sư ông có vẻ hóa thành con rắn nước… Vì cũng có khi ngày bé sư ông đánh chết con rắn

  • vanitas says:

    Uh, đúng là dễ hiểu và giọng văn hợp với mình mà, hôm trước tâm trạng quá, đọc mà không vào lẫn lộn với những thứ trong đầu mình quá, bất giác viết vậy thôi, mình dùng Google tìm ra trang này, thực ra cũng có nguyên nhân mới thế. Mình đã đọc lại rồi, mình cũng là LAN, LAN HƯƠNG…

  • vanitas says:

    Minh da xem pohim nay roi .Hay that day.

  • nàng dương says:

    Mình xin phép mượn bài viết của bạn để giới thiệu phim này nhé. Một bộ phim quá sâu sắc

  • Hoa Nang says:

    Em đã xem phim này cách đây 4 năm, thỉnh thoảng bắt gặp một cảnh thanh bình, lại thổn thức nhớ lại bộ phim này.
    Phần viết lời bình của anh hay tuyệt.

  • YILKA says:

    Thanks Hoa Nang, lâu lâu có dịp đọc lại về phim này cũng thấy bâng khuâng, càng lớn rồi càng bâng khuâng nhiều hơn ^^

  • NAD says:

    Mình chưa xem phim nhưng đọc qua cốt truyện đã thấy hay rồi =P~

  • L2Leo says:

    Hay đọc bài này và bài Tâm Tĩnh Lặng trên blog icouple. Hay phết! mà tâm Yilka có lặng không

  • NSC says:

    Sắc tức thị không, không tức thị sắc
    Sắc bất dị không, không bất dị sắc

  • Nguyen Kim Thanh says:

    Chi coi phim roi, the nhung van thich truyen hon, phim coi xong nang ne du lam, the nhung truyen coi xong day dut van vuong…thuong nho nhat, cam on em nha, entry xuc dong that.

  • Hoàng Lan says:

    con người ta khi càng muốn tránh thì càng ko thể chánh được, tình cảm là lẽ tự nhiên vì thế cách duy nhất để có thể quên là hãy nhớ …cách duy nhất có thể chánh là hãy đừng chánh…

  • Anh Duong says:

    Tình cờ lạc vào blog này. Cám ơn em đã chia sẻ về một bộ phim thật hay mà anh đã xem trước đây. Thật trùng hợp, Thương nhớ hoàng lan cũng là một truyện ngắn của TTM mà anh thích nữa. We share the same art taste then, I guess.

    duonglamanh.typepad.com

    • Thich Phim says:

      Thấy các bạn hình như thích phim này, mình share một bài bình của một vị khác đến các bạn, theo mình thì cũng rất hay:

      SPRING, SUMMER, FALL, WINTER … AND SPRING

      Buổi chiều ghé ngang bưu điện, ngoài những thư từ tạp nhạp, còn có một gói giấy mỏng như cuốn sách, không biết của ai gửi. Tôi quẳng tất cả vào chiếc thùng giấy sau xe. Trên đường về, có một cú phone đường dài, thì ra anh Dũng, một người quen đã lâu không gặp mặt. Anh bảo vừa gửi tôi một cuốn phim và hỏi đã nhận được chưa. Anh nói lúc xem phim cứ nhớ đến tôi và bất chợt muốn nghe tôi chia sẽ đôi điều gì đó.

      Tôi không phải tín đồ của điện ảnh, chẵng mấy khi xem nói gì là nghiện. Nhưng lúc xem xong cuốn phim đó, xem và hiểu theo cách riêng của mình, chẵng hiểu sao cứ bâng khuâng mấy giờ liền…

      Cuốn phim của Hàn Quốc, cái tựa thậm thượt và nghe phát nản: Spring, Summer, Fall, Winter…and Spring. Và đúng như cái tựa, chuyện đời của các nhân vật trong phim cứ từng bước phù trầm đổi thay qua từng dấu mốc thời gian hệt như bốn mùa trong năm. Cả cuốn phim cơ hồ chỉ nói đến hai người, mà nổi bật có lẽ chính là nó !

      Nó hồn nhiên lớn khôn như một hòn cuội, một cánh bướm, một con nhái bén bên hồ. Sư phụ là tất cả đối với nó và chổ ở của hai thầy trò có lẽ thơ mộng đáng vào bậc nhất thế giới : Một am gổ xinh xắn và cổ kính nằm giữa hồ nước mênh mông, bốn bề là cây rừng và đá núi.(*)

      Nó nghịch ngợm đáo để, nhưng cũng nhiều ngộ tánh. Có lẽ đó là lý do để sư phụ xem nó như chút bận lòng của ông giữa cuộc phù sinh nhất thiết giai không này. Nó lầm lỗi, ông phạt nó, dạy nó. Nó khóc một, ông đau mười, nhưng ông vui vì nó hiểu chuyện nhanh lắm và cũng giàu lòng nhân. Hai cái đó cộng lại cũng đủ biến nó thành ông thầy tu rồi còn gì.

      Dòng đời nhanh và gọn như từng mùa mưa nắng trong cõi nhân gian. Thoắt cái, cậu bé kháu khỉnh ngày nào bây giờ đã ra một chàng trai trẻ vạm vỡ khôi ngô dù vẫn tiếp tục hồn nhiên tắm gội trong suối nguồn đạo tình thâm hậu của người sư phụ mà mái đầu giờ đã pha sương. Một chuyện nhỏ nhưng lại là một biến cố lớn đã xãy đến với chốn thanh tu tịch mịch này vào một ngày có khách đàn việt ghé chân.

      Họ là hai người phụ nữ, một khỏe một bệnh. Sau cuộc thương lượng đơn giản, cô gái mắc trọng bệnh kia được gửi lại chùa để uống thuốc núi. Cô ở lại một mình và sau dăm ngày lạ lẩm với nếp sống tẻ nhạt lặng lẽ ở đây, cô đã tìm thấy một niềm vui mới. Vị sư già xem cô như một đứa con, và chàng thanh niên vô tư lự kia đã đem cái hồn hậu của núi rừng mà đối xử với cô như một cô em gái. Thế rồi tiếp nối theo đó là những ngày vui bất tận của hai người. Con thuyền nhỏ của chàng đã đưa nàng đến từng bờ cây, hốc đá, nơi đã một thời là thế giới tuổi thơ của chàng, để cùng nghe chim hót, nước chãy.

      Chàng lần đầu gặp mặt và sống gần một người không phải sư phụ, và đó lại là một thiếu nữ có nhiều cá tánh. Chàng đã chết ngất trong ánh mắt, nụ cười và cả giọng nói của người bạn mới. Đổi lại, cơn bệnh trầm kha của nàng đã bay biến đâu mất và thay vào đó là một sức sống mãnh liệt với một thứ ân tình khó gọi tên đã kín đáo nẩy mầm với ngay người bạn khác phái vẫn gặp gỡ, rong chơi với nhau mỗi ngày. Vào một chiều nắng quái bên hồ, giữa khung cảnh trời nước bao la gợi cảm, họ đã cuồng nhiệt yêu nhau ngấu nghiến quên mất người sư phụ bên kia hồ đang sửa soạn buổi kinh chiều.

      Chuyện vụng trộm giữa hai người dĩ nhiên không thể giữ kín mãi. Hôm đó, sau một cuộc vui cháy bỏng ngay trên con thuyền nhỏ giữa hồ, hai cô cậu đã hồn nhiên ôm nhau ngũ say bỏ mặc sóng nước vô tình muốn đưa đẩy về đâu cũng được. Chẵng biết cơn gió quái ác nào đã xô con thuyền tự trôi về phía am. Và người sư phụ đã nhìn thấy cảnh tượng mà ông tuyệt không ngờ được. Ông đã gọi hai người đến để hỏi thăm bệnh trạng của nàng và sáng hôm sau đã buộc nàng rời am về phố. Nàng đã ra đi trong cái dõi nhìn đau đớn của chàng.

      Đạo tâm của gã tiểu tăng bây giờ chỉ còn là một bọt nước sẳn sàng vỡ tan. Hắn đã từ một phút rong chơi bến tục mà quên mất nẽo về bờ giác. Trách gì người Trung Hoa xưa giờ vẫn truyền khẩu câu nói tiểu hoà thượng miệng niệm Phật mà lòng không có Phật. Phật vẫn ngồi đấy thiêng liêng trong ánh nến của ngôi cổ am, nhưng trong mắt gã tiểu tăng kia giờ chỉ còn một bóng hồng áo lục đã khuất nẽo từ lâu mà đến tận buổi khuya này chừng như vẫn còn lẫn khuất đâu đây với một làn hương nhẹ nhàng mộng mị. Rạng sáng hôm sau, lặng lẽ rời am với bức tượng Phật cổ trên tay như chút vốn liếng trên đường đời trước mặt, gã tiểu tăng đã bỏ am, bỏ thầy lên đường không một lời chào. Gã đi theo tiếng gọi của vô minh.

      Nhưng tất cả những tình tiết nhiều kịch tính từ đầu bài đến đây thực ra chỉ là cái nền cho một nội dung nằm ngoài mọi dự tưởng.

      Năm tháng lại trôi đi như từng mùa xuân thu. Người sư phụ ngày nào giờ đã là một lão tăng quắc thước. Một chân nhân thâm hậu đạo lực và một cụ già hom hem hẩm hiu cùng lúc tồn tại trong một hình hài còm cõi già yếu đó. Ông vẫn sáng sáng chèo thuyền vào xóm hoá duyên, lặng lẽ mong manh trên con thuyền nhỏ giữa hồ như một cái bóng câm lặng. Sáng hôm đó, mở gói giấy báo đựng bánh khất thực để chuẩn bị độ trai, ông bất chợt đọc được lệnh truy nã của nhà đương cuộc đối với một hung thủ sát nhân. Tin đăng kèm ảnh. Ông lặng lẽ đưa mắt nhìn ra mặt hồ mênh mông như để cố nhớ lại khuôn mặt bầu bĩnh của cậu đệ tử bé xíu năm nào. Ông thấy hết, biết hết, nhưng không sao đổi khác chuyện đời.

      Rồi đúng như nhà sư già đã định liệu, hắn đã trở về. Gã đệ tử vô hạnh kia đã trở về ngôi cổ am để gặp ông và mang trả lại thầy bức tượng Phật ngày nào. Ông hỏi chuyện, hắn khóc như đứa trẻ và trả lời không dấu diếm. Bỏ chùa ra đi ngày ấy, hắn đã tìm gặp được nàng và lấy nhau hạnh phúc. Nhưng cái hồn hậu đơn bạc của núi rừng đã không cho hắn biết được cái mặt trái nghiệt ngã của chợ đời khi hắn thật ra không có được những gì nàng muốn. Tình phai rồi tình phụ, nàng bỏ hắn để theo một người khác. Yêu cho nhiều để hận cũng lắm, hắn giết nàng rồi tìm về với sư phụ như một phản ứng tự nhiên của đứa bé nhớ mẹ.

      Bây giờ hắn đã trở về, đang ngồi đó đau đớn trước mặt ông. Chiều nay hắn khóc vì đã giết nàng, hận nàng, như ngày xưa hắn đã từng khóc vì yêu nàng, xa nàng. Nhà sư già đã lặng lẽ và kiên nhẫn xoa dịu những cơn bồng bột ngu khờ của hắn như vẫn xem hắn bé bỏng như thuở nào. Ông biết tất cả những gì phải đến nhưng không thể sửa được chuyện đời. Ông chỉ có tấm lòng và tận lực, thế thôi. Ông đã nuôi hắn từ bé, nhìn hắn lớn khôn và vụng dại. Trước sau, với hắn, ông như một người mẹ già góc núi: Cưu mang, đỡ nâng, tha thứ và chờ đợi. Bao năm qua ông chẵng phải vẫn đợi chờ ngày hắn trở về đó sao. Chỉ vì ông hiểu, ông biết, và ông có cõi lòng một bà mẹ.

      Như đã đọc được một tương lai nào đó, ông lặng lẽ pha mực rồi khẻ khàng chép lại từng chữ bài Bát Nhã Tâm Kinh ngay trên khuôn sân bằng gỗ của ngôi cổ am và vẫn bằng thứ khẩu lệnh nghiêm khắc ngày nào, ông bắt hắn dùng chính con dao đã gây án kia để khắc lại từng chữ đại tự mà ông vừa phóng bút trên sân. Hắn khắc chưa xong chục chữ, người ta đến đọc lệnh bắt. Nhà sư già bình thản như không, ông nghiêm trang đề nghị họ hãy đợi hắn khắc xong bài Tâm Kinh, như lời ông bảo đảm, chỉ một đêm thôi. Thời gian chờ đợi đó của mọi người, có lẽ là một trong những giây khắc đẹp nhất trong phim. Đẹp và thật nhiều ý nghĩa.

      Sáng hôm sau hắn bị áp giải lên đường và bắt đầu những ngày tù tội. Thời gian trôi đi bao lâu không ai nói được, nhưng rồi gì cũng qua. Mùa đông năm kia, có một viễn khách phong trần ghé về cổ am.

      Khách bồi hồi bước qua mặt nước hồ giờ đã đóng băng và trước sau cổ am vắng ngắt như tờ. Nhìn ra mặt hồ bát ngát, khách chết điếng khi nhìn thấy xác con thuyền xưa đang khuất trong băng giá với những vết lữa cháy nham nhở dở dang. Khách chắp tay cúi đầu như cố hình dung một chuyện cũ. Ngày đó, nhà sư già đã âm thầm hoá thân ngay trên con thuyền với một mồi lữa ngay sau lúc tiễn biệt đứa học trò trên sân.

      Vậy là phút cuối, hắn cũng đã trở về. Có điều là lần trở về muộn màng, hắn về cho chính hắn. Sư phụ đã không còn nữa. Hắn quyết định lớn khôn lần nữa trước vong linh của người sư phụ mà hắn không còn cơ hội gặp lại, dù đâu đó quanh quẩn trong ngôi cổ am lúc nào cũng có một con rắn lặng lẽ nhìn hắn như chứng minh, như chia sẽ và cùng vui buồn. Sư phụ đấy chăng ?

      Hắn đã quay lại con đường mà ngày xưa hắn chưa từng bước đi, dù nó luôn thuộc về hắn. Hắn trần trụi phơi mình trong băng tuyết để tạc tượng, luyện công và sớm chiều hai buổi tụng niệm như thể không còn kịp nữa. Hắn đi tìm mình, và cũng để gặp lại bóng hình của người sư phụ tình thâm tợ hải. Từng mẩu nến khuya, những tiếng mõ canh tàn hay trong chiều muộn đã từng phút giây đưa hắn trở về ngôi nhà ấu thơ với tất cả niềm nổi thống hối, bùng vỡ.

      Và giai đoạn cuối cùng của cuộc trở về ấy đã đến lúc hoàn mãn. Trong một buổi kinh khuya hắn bỗng nghe tiếng người gọi cửa. Chút bụi trầm luân đã rớt xuống bên hiên cổ am để đưa hắn lại cuối đường. Người thiếu phụ với đứa bé mủm mỉm trên tay đã tìm đến chùa giữa một đêm tuyết lạnh. Không sao nhìn thấy khuôn mặt của nàng. Ở đó lúc nào cũng là một tấm lụa mỏng màu tím. Nàng là ai ? Hắn tò mò muốn biết nhưng đành chịu. Lo cho mẹ con nàng một chỗ nằm tạm trong cổ am, một bên bàn Phật, hắn không biết phải làm gì hơn. Chỉ còn biết nhìn nàng và nghe nàng khóc. Giá còn sư phụ !

      Sáng hôm sau, nghe tiếng trẻ con khóc bên ngoài, hắn chạy vội ra sân chùa. Trên mặt nước hồ giờ đã thành băng ấy, đứa bé không mẹ đang từng bước bò về phía cổng, nơi hắn đã khoét băng làm một giếng nước dùng qua mùa đông.

      Hắn kéo cái xác người lên khỏi giếng. Người thiếu phụ đêm qua đã lọt chân xuống đây khi muốn bỏ con lại cổ am và một mình lẻn đi trong khuya. Đến bây giờ thì tấm lụa che mặt nàng đã có thể gở xuống. Hắn đã thấy gì, đó vẫn là một ẩn số của câu chuyện.

      Chỉ trong một tích tắc, câu chuyện ấu thơ của hắn từ mấy mươi năm trước bất ngờ sống dậy mãnh liệt với từng chi tiết nhỏ. Ngày đó thằng bé trong cổ am đã trốn thầy vào núi xuống hồ rong chơi. Như điềm báo của một định nghiệp, nó đặc biệt thích thú trò chơi cột đá vào bất cứ con gì bắt được để xem con vật phải vất vả ra sao mà sống còn với một gánh nặng quá sức mình. Sư phụ đã phạt thằng bé đeo một hòn đá nặng trên lưng để hiểu được nó đã làm gì trên chúng sinh khác. Ngày ấy, trong tâm tưởng một thằng bé, đó chỉ là một bài học về hạnh từ bi. Nó đã biết khóc khi không kịp cứu sống con rắn đã bị nó cột đá.. Nó cứ tưởng suốt đời mình sẽ không bao giờ tái phạm trò chơi độc ác đó nữa. Nhưng ngày trưởng thành, biết yêu biết ghét, nó đã làm ngược lại…

      Hắn lạnh người khi thấy rõ mình đã cột đá vào không biết bao người. Hai người thân thương nhất trong cuộc đời hắn đã phải vì hắn mà oằn lưng với những hòn đá nặng chết người. Lẽ ra hắn chỉ nên để mọi người, kể cả chính hắn, cùng được thanh thản nhẹ nhàng mà đi. Nhưng tất cả đều ngược lại. Bây giờ sư phụ không còn nữa, hắn phải tự phạt mình, để thấm thía tận cùng cái gì là vướng vít, đè nặng.

      Thật khó lòng tìm thấy một hình ảnh nào trong đời có thể bi tráng hơn thế. Hắn một mình kéo lê một hòn đá lớn tìm lên đỉnh núi giá lạnh không người. Trên tay ôm ghì bức tượng Quán Âm. Một hình ảnh khốc liệt. Tôi muốn gọi hắn lúc này là một hành giả, một hành giả vác tượng lên ngàn. Một hành giả đang ngược nguồn để hành hương giữa mùa đông cuộc đời, mà cũng là mùa đông tâm linh. Nhạc phim lúc này cũng bất chợt trầm hùng vang vọng một thứ âm thanh xa vời, mộng mị. Bài Bát Nhã Tâm Kinh trong giọng đọc tiếng Hàn của người con gái nào đó như đi về từ một cõi chiêm bao với từng câu chữ Xá Lợi Tử ! Sắc Bất Dị Không, Không Bất Dị Sắc…Lần đầu tiên tôi cảm nghe dòng kinh Bắc Truyền đó thơ mộng và quyến rũ đến vậy.

      Theo từng bước lê chân nặng nhọc của hắn qua những ngõ mòn sỏi đá, lời kinh kia như nương gửi gió rừng mà lan tỏa, phủ đầy một cõi huyền âm. Tiếng kinh thấm đẩm lòng người, len vào từng khe đá, thớ gỗ. Lời kinh làm rung chuyển mọi cõi miền không gian, đánh thức mọi mê lầm ngái ngũ, cho tất cả cùng bật dậy một sức sống tỉnh thức. Biển khổ mênh mông, mà quay đầu lại là bờ. Và bến bờ ấy đã hiện ra trong mắt hắn. Hắn cung kính an vị bức tượng lên mỏm đá trang trọng nhất trên đỉnh núi và cúi đầu chiêu niệm. Hắn đã bỏ lại tất cả gánh nặng trên từng dặm đường đến đây. Hắn đã diễn dịch huyền nghĩa bài Tâm Kinh ra nhiều tâm ấn cụ thể giữa đời : Tha thứ, can đảm, bao dung, thấu hiểu, cưu mang và buông bỏ. Hắn muốn vác thay cho muôn loài tất cả những gánh nặng. Hắn sám hối và đáp đền cho vạn hữu đã cưu mang hắn, trong đó sư phụ và người đàn bà đã đi qua đời hắn đang là hai giọt nước cùng hòa tan vào đại dương. Và lần đầu tiên trong đời mình, hắn bất chợt thấu hiểu tận cùng câu minh chú ở cuối bài Tâm Kinh đó : Gate gate pàragate pàrasangate bodhi svàha. Lên đường, lên đường đi, hãy qua sông để tìm về bờ bến khác !

      Hắn về lại cổ am và một mùa xuân mới lại bắt đầu trên chính cậu bé mồ côi vừa nhập môn bất đắc dĩ kia. Nó chính là hắn mấy mươi năm trước. Một chu kỳ mới, một tuần hoàn mới. Mọi thứ lại tái hiện trong bối cảnh hồ nước tan băng, hoa cỏ sung mãn, hồ rộng núi xanh và mọi thứ lại bắt đầu. Ngoài kia nắng đã lên giữa một mùa xuân có rừng phong và núi đá xanh rêu. Trong cổ am, con rắn già chậm rãi bò ngang bàn Phật, lặng lẽ, thành kính.

      Florida July 21, 2005
      TOẠI KHANH

  • Leave a Reply

    (with your Gravatar, perhaps)

                                 

    Bộ gõ AVIM-Reloaded