Tây Tạng Du Ký – Khúc vĩ thanh

Quả thật khó cho tôi khi muốn viết lại Khúc vĩ thanh Tây Tạng, bao nhiêu hình ảnh chuyến hành trình 11 ngày cứ đầy ăm ắp, ấn tượng với Tây Tạng vô cùng sâu đậm, những thắc mắc năm xưa nay đã tìm được lời giải đáp trên vùng đất Phật nhưng kéo theo đó là muôn vàn điều mới mẻ và lòng càng băn khoăn hơn … Xin trích đôi dòng từ cuốn Mùi hương trầm (tác giả Nguyễn Tường Bách): “Cảnh quan thiên nhiên tuyệt đỉnh của Tây Tạng không chỉ làm hứng khởi tầm nghe nhìn của chúng ta vốn thường bị mây mù, khói đục và tiếng ồn che phủ, mà còn tích cực hơn, nó dẫn đường mở lối cho nhận thức và ý niệm về cái miên viễn đang hiện hình trước mắt ta. Tâm ta biết rằng cái miên viễn không phải đi tìm đâu xa, nó nằm ngay trước mắt, nó hiện diện ngay trong lòng, chỉ mắt vướng bụi nên không nhìn thấy nó, chỉ lòng chưa tỉnh nên không nhận ra nó. Nhưng cái miên viễn cũng không phải trần trụi sờ sờ ra đó để ai cũng có thể ngắm nghía mà muốn tới với nó phải đi hết đoạn đường phi hữu phi không, phải tự tay mở cánh cửa vô môn, phải nghe được thứ tiếng không lời, phải vào chốn ẩn mật chỉ dành cho những người dâng hết tâm ý, biết buông rơi chính mình. Cảnh quan Tây Tạng là bước khởi đầu, không phải là đoạn kết thúc.” Phải rồi! chỉ là bước khởi đầu, chưa phải là đoạn kết thúc, tôi đang viết cho bước khởi đầu của chính mình

1. Đô Thành mù sương

Tôi có duyên nhiều với Thành Đô (Chengdu) và cũng rất yêu thích thành phố này bởi nó có cái trong mát yên bình của đô thị quanh năm bao phủ bởi sương mù, kèm theo bề dày lịch sử văn hoá của cố đô Thục Hán đến nay đã vài mươi thế kỷ, cũng lại mang dáng dấp tân kỳ đô hội phát triển không thua kém bất cứ nơi đâu. Cũng vì thế tôi chọn Thành Đô, Tứ Xuyên làm điểm xuất phát của cuộc hành trình. Tuy chỉ lưu lại Thành Đô 1 ngày nhưng tôi đã may mắn cảm nhận được phần nào cuộc sống nơi Thiên Phủ Chi Quốc với những ghế kiệu, phòng trà, bạch viên, thi quyển:

Những vẻ đẹp làm mê lòng khách đến Thành Đô: này là Vọng Giang Lầu êm đềm trong sương sớm, này là Văn Thù Miếu giấu trong lòng nó những gì tinh hoa của vùng Tứ Xuyên. Bước chân vào Đệ nhất danh trà quán, người ta thấy một nốt trầm trong đời sống phồn hoa của nơi đây, không líu lo điện thoại, không tíu tít bán hàng, người dân Thành Đô vào đây độc ẩm, đối ẩm, quần ẩm bên những ly trà luôn bóc khói nóng; đáng yêu và thú vị như tiết trời sương khói mát mẻ bao đời của mảnh đất này vậy. Không chỉ có thế, Văn Thù Miếu còn có riêng 1 thư viện Phật học cực lớn bên trong khuôn viên bởi với những ai nghiên cứu Phật giáo thì đều biết rằng hình tượng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là tượng trưng cho trí huệ mênh mông, điều mà sau này tôi được chứng ngộ khi đặt chân vào Tây Tạng.

Thành Đô tiễn tôi bằng 1 cơn mưa nhẹ và màn Xuyên kịch đặc sản khi trời chiều lảng bảng. Phố đẹp, đường đẹp, lầu gác đẹp và người cũng đẹp; Thành Đô trong mưa là 1 ấn tượng khó phai với khách phương xa. Ngồi trong rạp dựng ngoài trời ngay dưới cơn mưa xem hý kịch Trung Hoa lại càng thú vị hơn nữa. Tôi sẽ không lạ nếu mai này bên sông Cẩm Giang người ta chơi thêm hồ cầm đàn địch, để nếu có dịp ghé thăm tôi lại được thả hồn mơ mộng, hỏi rằng có phải đang tấu khúc Hồ trường Dạ Vũ Tiêu Tương?

Xin hẹn Thành Đô không xa lần tiếp theo du ký Trung Hoa sẽ gặp lại cố nhân

2. Tuyết Quốc trong mây

Có rất nhiều cái tên đẹp để dành riêng gọi cho mảnh đất của những độ cao này: Tây Tạng, Tibet, Land of the Snows, Nóc nhà thế giới, hay chỉ đơn giản là Tuyết Quốc. Một sớm mùa hè như mọi ngày nhưng có ý nghĩa đặc biệt với tôi, hôm nay tôi sẽ bay trên rặng Tuyết Sơn để đặt chân vào thánh địa Phật giáo, học theo dấu chân minh triết của người xưa lần tìm về xứ sở huyền thoại.

Rời Thành Đô, tôi đến với cửa ngõ màu xanh của Tây Tạng: Nyingchi (thuộc địa giới vùng Kham cũ). Nhấc từ đồng bằng lên cao nguyên trung bình 3000m so với mực nước biển sau vài tiếng bay, tôi choáng váng bởi không khí loãng và càng choáng váng hơn bởi những hình ảnh đầu tiên về Tây Tạng hiện ra xanh đến thế ^^ Chẳng thế mà những khách du lịch khi khám phá vùng Kham đã đặt cho nơi đây cái tên ‘Wild Wild East’ bởi sự khác biệt cực kỹ rõ nét về cảnh quan tự nhiên và điều kiện thời tiết: này là rừng cây thác nước, kia là núi tuyết thảo nguyên; thiên đường xanh Tây Tạng kỳ thú lắm!

Đường nay mây trắng gió ngàn:

Nếu như đỉnh Phan Xi Păng cao 3143m, trèo lên đến nơi là chạm vào nóc nhà Đông Dương thì ở Nyingchi cũng độ cao tương tự, tôi được chạm vào lá vào hoa của Khả Đình Câu, chạm vào thân cây Đại Bách 2600 năm tuổi, được dừng trên đỉnh Sejila cao 4702m để chạm vào sương gió ngay giữa trưa nắng hè, được hít thở cái mát rượi của rừng Lulang từ vọng lâu nhìn ra đỉnh Namche Barwa cao 7786m, đặc biệt là được chạm vào nét sơ khai của cổ giáo Ninh Mã do đại sư Liên Hoa Sinh sáng lập mà dấu tích còn lưu lại trên tu viện Tsozong giữa hồ Basum-tso:

Tạm biệt tiểu Thuỵ Sĩ vùng Kham, tôi lên đường đến với thành phố của chư thiên, trái tim của Tây Tạng: thủ phủ Lhasa. Hỏi rằng chư Phật nơi đâu? có phải là bức tượng Đức Thích Ca Thập Nhị Tuế Đẳng bên trong đền Jokhang tuổi đời chục thiên niên kỷ hay ngay trước mắt tôi kia dòng người mộ đạo bước đi giữa cái huyên náo của khu chợ Barkhor tay xoay kinh luân còn trong lòng tịnh không, hướng Phật:

Thiên kinh vạn quyển đọc bao nhiêu cho đủ? chỉ một lần lặng im đứng giữa Bát Giác Nhai sẽ dấy lên niềm kính phục nghi lễ tôn giáo khổ hạnh tràn đầy niềm tin của người Tạng dưới mái chùa Đại Chiêu buổi bình minh đầu ngày. Phải chăng người xưa có câu Nhất tu thị, nhị tu sơn để dành cho những con người này? Đời trong đục nào có hề chi, bởi họ đã đem đạo về đây giữa phố phường Lạp Tát hơn nghìn năm có lẻ, kể từ cuộc hôn phối giữa công chúa Văn Thành và Tạng Vương Tùng Tán Cương Bố thế kỷ thứ 7.

Đặt chân đến Lhasa chắc chắn ai cũng phải đến chiêm ngưỡng kiến trúc đồ sộ mang phong cách Tạng của hành cung Potala và tôi không phải ngoại lệ. Chưa bao giờ tôi tưởng tượng được trong đời mình sẽ có dịp leo mấy trăm bậc đá trắng trên độ cao 3600m để bước vào nơi thâm nghiêm cao quý nhất của cộng đồng chính-giáo Tây Tạng; và cứ như thế, tôi hăm hở thở và leo.

13 bức tượng của các Đạt Lai Lạt Ma đời trước, căn phòng của Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 sử dụng khi ngài còn tại vị, những stupa sơn son thếp vàng nạm đầy ngọc quý, những hành lang phô phang màu sắc, những cánh cổng đỏ sậm đầy quyền uy, những cầu thang lên xuống như ma trận, những bức tường được mural nhuộm thắm, những chiếc cột đen nhánh mỡ bò yak treo thangka khổng lồ, mùi nến mùi người mùi gỗ mùi ẩm mốc và mùi tiền … tất cả làm đầu óc của kẻ người trần mắt thịt như tôi rối bời!

Hiếm ai ra khỏi cung điện Potala mà lòng không hụt hẫng, lý do thì muôn vẻ nhưng tựu chung lại là cảm giác xa lạ, mất mát. Đã hơn 50 năm rồi hành cung Bố Đạt La vắng bóng chủ nhân thực sự của nó. Người Tạng cũng không còn lui tới đây thường xuyên, có chăng chỉ đi vòng kora khổng lồ dưới chân điện. Có sinh có diệt, vạn vật vô thường, Đức Thích Ca cũng từng truyền dạy điều đó áp dụng cho cả Phật pháp; mới nghe sao thấy dễ dàng nhưng đến Lhasa đối diện với thực tại đang diễn ra từng ngày thì lòng cay đắng lắm! Nhưng nếu ai hỏi tôi ấn tượng nhất với Lhasa là gì, tôi vẫn sẽ trả lời: “Potala!”. Nếu bạn một lần đến Lhasa, xin hãy bỏ sức leo lên cung, cũng như bạn đã từng không ngần ngại leo Yên Tử, leo chùa Hương, leo Côn Sơn Kiếp Bạc; bởi tôi xin cam đoan với bạn một điều rằng trên cao gió bạt tiếng eo sèo.

Potala kể từ ngày đầu được vua Tùng Tán Cương Bố đặt nền móng năm 637 cho đến lúc Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 mở rộng năm 1645 đã kinh qua bao biến thiên đổi dời; ngày nay trở thành bảo tàng độc đáo cho kiến trúc và văn hoá Phật giáo của người Tạng trên cao nguyên. Và khi đêm về trăng lên là lúc phô bày vẻ đẹp lưỡng tông Hồng-Bạch huyền ảo bí ẩn đó:

Trong cái nắng hè oi ả của kinh đô ánh sáng lúc nào cũng ngập tràn ánh mặt trời, tôi đến thăm tu viện Sera, 1 trong 3 ngôi đạo tràng quan trọng bậc nhất của thủ phủ Lhasa. Ấn tượng của tôi về ngôi đại tùng lâm này là hàng cây rợp bóng trong khuôn viên tu viện và nét mặt hứng khởi của những Tăng sĩ tuổi còn rất trẻ đang sôi nổi truy bài trong vườn Biện Kinh:

Nội dung của những cuộc tranh luận khẩu chiến này tôi không được biết, nôm na người đời bảo đó là cách để đào sâu hiểu biết về Phật điển, nâng cao tri thức trong quá trình tu học, và cũng là cách tinh tiến để đạt cảnh giới cao hơn. Tổng cộng có 6 cấp bậc trong giới Tăng sĩ Tây Tạng và việc vấn đáp sát hạch là bắt buộc để đạt được tới cấp thứ 4! Hoá ra có cách ngồi tập trung thiền định thu mình vào trong để tự giác ngộ, cũng lại có cách biện giải huyên náo để lĩnh hội giới luật như thế. Hoàng Mạo Giáo là tông giáo chú trọng nhất vào việc học đạo đúng cách, đề cao sự rèn luyện của Tăng chúng; hôm nay tôi đã được thấy phần nào điều đó:

Rời Lhasa tôi lại rong ruổi trên con đường thiên lý đến thăm thành phố lớn thứ 2 của Tây Tạng: Shigatse. Ngày đi Shigatse cũng là ngày nhiều sự kiện với tôi khi được tận mắt ngắm những kỳ quan thiên tạo và nhân tạo tuyệt diệu của Tây Tạng. Có ai không nín thở khi đứng trên đèo Karola cao hơn 5000m để ngắm màu xanh ngọc kỳ lạ của hồ San hô Yamdrok-tso đẹp ngỡ ngàng đang uốn lượn dưới chân đỉnh băng vĩnh cửu Nojin Kangtsang sừng sững ở độ cao 7191m:

Vị nữ thần nào năm xưa đã hoá thân vào hồ Yamdrok kỳ ảo này để ngày hôm nay tôi đứng đây chôn chân trong nắng gió ngắm nhìn cảnh quan mà lòng cảm khái trào dâng, thêm giận mình bất tài không tả được cái đẹp siêu nhiên chốn này!

Con đường xuống đèo chạy song song với bờ hồ mang lại góc nhìn khác về Yamdrok-tso, một góc nhìn tâm linh. Ai đến hồ cũng sẽ để ý thấy hàng ngàn ụ đá nhỏ có theo hình dạng stupa rải rác gần mép nước mà người Tạng hàng năm đi hành hương qua đây đều cung kính xếp lại như để lưu dấu trong cõi trần ai này, họ đã đến đảnh lễ chốn hồ thiêng vinh danh Phật pháp.

Khi xe chạy qua lên đỉnh đèo Karola (4960m) là lúc tôi được nhìn gần Nojin Kangtsang hơn, ngắm nhìn cái chói chang của đỉnh băng trong nắng trưa và rùng mình trong cái lạnh không cắt nghĩa được, cũng là dịp khẳng định một điều tôi đã tâm niệm từ lâu về Tây Tạng: Tuyết nơi đây trắng sạch nhất thế gian!

Dấu ấn thiên tạo của Tsang là thế, còn dấu ấn nhân tạo thì sao? tôi dừng chân bên trấn anh hùng Gyantse nghe lại câu chuyện pháo đài Gyantse Dzong nơi bao người Tạng ngã xuống đền nợ nước trong buổi đầu xâm lược của thực dân Anh năm 1904. Một thế kỷ đã qua rồi, pháo đài Dzong ngày nay vẫn sừng sững giữa thị trấn, tiếng súng gươm đã lùi vào quá khứ nhưng cuộc tranh đấu âm thầm lặng lẽ liệu đã thôi âm ỉ?

Gyantse là thị trấn nhỏ và nghèo, đường đi vắng lắm, những ngôi nhà lầm lũi như khô cháy dưới nắng cao nguyên, bóng người Tạng thấp thoáng dưới mái hiên, con đường giữa trấn như hoàn toàn tách biệt bởi dòng xe du lịch cứ chạy rầm rập, ngồi trên xe là khách thập phương tứ xứ như chúng tôi đây, chắc không có ai dừng lâu nơi này để nói được lời chào đúng nghĩa. Chạnh lòng nghĩ đến câu của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp: “người vô tâm nhiều như gió bụi trên đường”

Cách pháo đài Dzong không xa là quần thể tu viện Pelkhor Chode – nơi hoà quyện tâm linh và dung dưỡng của 2 tông giáo Tát Ca và Cách Lỗ của Tây Tạng, một hình thức tổng hoà độc đáo mà tôi bấy giờ mới có dịp diện kiến. Chưa chạy đến cổng tu viện đã thấy thấp thoáng phía xa công trình kiến trúc “dị thường” nhất của toàn vùng Tsang nói riêng và cả Tây Tạng nói chung: tháp Thập Vạn Phật

Đếm sao cho đủ chi tiết mười vạn tranh tường, bích hoạ, tượng Phật, khám thờ … bên trong tháp; chỉ biết rằng ai đến đây cũng giật mình bởi kiến trúc Stupa Muôn cửa khổng lồ đã được người Tạng nghiêm cẩn dựng lên thành kỳ quan giữa cao nguyên! Kia là 4 tầng đáy của Tứ diệu đế và 4 đôi mắt hiền từ của đức Thế Tôn đang nhìn ra bốn phương; trên nữa là 13 nấc thang phấn đấu của đời người dẫn lên cõi Niết bàn; trên thượng tầng tháp là sự minh triết, là vòm trời xanh với trăng sao mây trắng nắng vàng. Kiến thức bản thân còn hạn hẹp mà biển trí huệ thì bao la, tôi chỉ biết gửi gắm những điều mình thấy qua vài bức ảnh.

Màu sắc của Kumbum – Thập Vạn Phật tự bên trong và cả bên ngoài phải dùng tính từ dữ dội để diễn tả! Nếu sắc bao quát trắng-đỏ-tím bên ngoài tháp chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiến trúc Nepal thì bên trong mỗi khám thờ tôi bắt gặp cách phối màu rực rỡ và có phần siêu thực của người Tạng. Mỗi gian điện lần lượt là các bức tượng thờ Quán Thế Âm, Thanh Đa La, Bạch Đa La, Tu di, Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền Bồ Tát thì trên tường và trần là sẽ là vô vàn hoạ hình tương ứng. Tôi còn nhớ mãi khi đó trong lúc mắt quáng tay run chân mỏi, tôi bước vào 1 khám thờ rất tối và khi ngước lên bắt gặp tượng thân của Đức Phật Thích Ca toàn một màu đỏ sậm khoác y vàng đang nhìn xuống. Lòng tôi vừa kính sợ vừa thích thú, lễ tạ Ngài xong tôi đi lùi ra cửa mà không dám nâng máy lên chụp. Đây có lẽ là gian điện duy nhất tôi không dám chụp ảnh dù được phép.

Trên đường leo lên tháp, tôi gặp nhiều gia đình người Tạng 2-3 thế hệ cũng đang đi tham bái Kumbum, chúng tôi cùng lần từng bước lên những bậc thang nhỏ hẹp quanh co để khi lên đến đỉnh thì trao nhau nụ cười và cái gật đầu thay lời chào giữa những người không cùng ngôn ngữ. Tôi leo Kumbum mà cứ thắc mắc mãi, người Tạng vốn khá cao to mà sao những cầu thang họ làm nhỏ thế để vừa leo vừa lo đụng đầu? thế rồi tôi tự tìm cho mình lời giải đáp: Có phải chăng từ lúc sinh thời họ đã gắn bó với Phật giáo, khi còn nhỏ họ đã đến thăm viếng nơi đây và khi đã tuổi già xế bóng thì con cháu lại đưa họ tìm về chốn cũ? Nếu xa xưa lúc còn thơ bé đã có dịp vào nơi này thì chẳng phải thế giới quan hoá ra rất rộng lớn hay sao!

Đứng trên Kumbum lúc này chính ngọ, tôi nhìn bao quát toàn trấn Gyantse đang được mặt trời dát vàng ở cao độ xấp xỉ 4000m mà thầm cảm phục câu nói đầy tính triết lý của thi hào Goethe: “Über allen Gipfeln ist Ruh” – Trên tất cả những đỉnh cao là bình yên.

Rời Kumbum, con đường xuyên vùng Tsang đưa tôi đến điểm dừng cuối: tu viện Tashilhunpo ở trung tâm thành phố Shigatse, là nơi tiếp diễn sự truyền thừa của dòng Ban Thiền Lạt Ma. Những tranh chấp phức tạp nhiều thế hệ hiển hiện trong lòng xã hội chính trị-tôn giáo Tây Tạng và cả sự ganh đua giữa 2 đô thị Nhật Khách Tắc và Lạp Tát sẽ là đề tài thu hút bất cứ ai đặt chân đến đây.

Trát Thập Luân Bố ngày nay là nơi tu học của Tăng sĩ vùng Tsang, cũng là điểm du lịch không thể bỏ qua. Câu chuyện dòng Đạt Lai Lạt Ma và Ban Thiền Lạt Ma; người là học trò, người là thầy dạy; cả 2 dòng đều là những đệ tử lỗi lạc của Hoàng Mạo Giáo thờ chung thầy là đại sư Tông Khách Ba; cả 2 dòng đều có tái sinh; mỗi dòng vừa có nhiệm vụ tiếp tục truyền thừa vừa thụ ấn người tái sinh của dòng kia. Mới nghe sao mà rắc rối và biết bao điều cơ mật đi kèm, kẻ hậu sinh như tôi quả không dám lạm bàn!

Bước đi trong Tashilhunpo, tôi bị thu hút bởi tông màu đỏ rực đầy uy quyền của 4 toà điện lớn nhất trong khuôn viên viện cùng những mái vàng ròng phô bày xa hoa minh chứng cho tài nghệ xuất chúng của người Tạng.

Hình ảnh bức tượng Phật tương lai Di Lặc cao 27m với đôi mắt xanh hiền hoà trong điện Jamkhang Chenmo cùng với sân Kelsang rộng lớn bao bọc 4 phía bởi nhưng bức tường đầy màu sắc hoạ hình đức Phật trong muôn ngàn ấn thủ chắc sẽ còn đeo đuổi tôi mãi …

Thiên nhân đồng điệu ^^ tạm biệt những công trình nhân tạo đượm màu tôn giáo vùng Tsang, tôi đi dọc theo dòng Nhã Lung trở lại vùng U để ngắm những nét thiên tạo khốc liệt khác mang bản sắc cao nguyên. Đứng trên triền dốc nhìn ra con sông Yarlung Tsangpo đang chảy giữa lòng U-Tsang, tôi mừng gặp lại người bạn cũ. Mới vài ngày trước tôi lần đầu gặp Nhã Lung khi sông uốn lượn hiền hoà dưới chân đỉnh Namche Barwa đoạn chảy qua rừng xanh Lulang; còn ngày hôm nay sông như xanh hơn in bóng trời trong vắt chảy xuyên qua những vùng đất trống núi trọc cực kỳ hiểm trở, hai bên là lạo xạo sỏi đá. Tôi nhặt vài viên đá và ném mạnh ra xa, dù đã thử nhiều lần và dùng hết sức, hòn nào hòn nấy chỉ rơi xuống lạch cạch và dừng lại bên bờ mép nước. Quá xa, quá rộng, quá hùng tráng! còn con người thì quá nhỏ bé! Ngay cả con đường 318 mệnh danh là Quốc lộ Trung Hoa cũng chỉ như đường kẻ vạch trên tấm màn mênh mông bao bọc bởi trời nước núi non.

Năm xưa vương triều Nhã Lung hùng mạnh rời đô từ thung lũng Yarlung vùng Kham về Lhasa chắc chắn đã qua đây. Bao nhiêu người đã đến và bao nhiêu người sau này sẽ tới, liệu họ có như tôi cũng đứng trước sông và ngâm ngợi về quá khứ vị lai của mảnh đất này? Lý Nhuệ dành trăm trang sách Ngàn dặm không mây để viết về thôn Ngũ Nhân Bình “hai năm không mưa, nắng như thiêu đốt”; có ai đã viết cho nơi đây những lời công bằng? Mà nào có hề chi với dòng Nhã Lung hùng tráng, “Chảy đi sông ơi – Băn khoăn làm gì? – Rồi sông đãi hết – Anh hùng còn chi?”

Trở về vùng U, tôi đi thăm một nơi linh thiêng nằm trong Tứ đại hồ thiêng của người Tạng: thánh hồ Nam-tso. Nằm ở độ cao hơn 4700m, lại bao bọc bởi rặng Nyenchen Tanglha với đỉnh cao chạm trời 7162m, hồ Nam-tso rộng đến 1920 cây số vuông, gần gấp 3 lần quốc đảo Singapore! “Nhỏ” như Singapore tôi còn chưa có dịp đi hết, đứng trước hồ mà tôi tâm phục khẩu phục. Phải gọi nơi đây là biển! biển trời, biển nước, biển gió, biển mây, và may sao không phải biển người ^^

Phong vô tướng, vân vô thường, muốn cảm nhận hết vẻ đẹp và sự linh thiêng của Nam-tso đã là khó rồi, nói chi đến việc nắm bắt dáng hình đang trải dài trước mắt. Khuôn hình tôi có hạn, cảm nhận còn thô vụng, xin tặng lại Nam-tso vài phút giây ngày nắng đẹp tôi đến – một trong muôn ngàn vẻ đẹp khôn tả của chốn biển hồ trên núi, dằng dặc một khúc ca giữa bao la mây trời.

Kỷ niệm với Nam-tso trong tôi còn là buổi trưa rất vui giữa lều 1 gia đình người Tạng sát mép hồ, nơi tôi được thư thả cạn chén trà sữa bò Yak và ăn món sữa chua gia đình làm. Nồng lắm, đậm lắm, béo lắm, khó ăn lắm nhưng hãy ăn đi bởi biết đến bao giờ mới có dịp lên Tây Tạng chỉ để ngồi uống với nhau chén trà như thế?

Tôi rời Nam-tso khi ánh nắng vẫn chưa tắt trên mặt hồ. Cảnh hồ đẹp vô song nhưng tôi cầm lòng không bước xuống để chạm vào mặt nước. Có lẽ mai sau tôi sẽ luyến tiếc vì bỏ mất cơ hội đó, cũng có thể lắm bởi tôi vẫn tham-sân-si

Sang ngày thứ 9 của cuộc hành trình, tôi tạm biệt vùng U để trải nghiệm một điều thú vị khác: đi trên tuyến đường sắt độc đáo nối liền Tây Tạng và người anh em thuở trước: cao nguyên Thanh Hải. Có 2 điều tôi thích thú với đường sắt này, không phải ở những cái “nhất” đã được nghe liệt kê: một là tôi có dịp được ngắm phong cảnh giao thoa giữa ‘Tạng’ và ‘Thanh’ hay chính là vùng U với Amdo thuở trước; hai là tôi có thời gian ngồi chép lại đọc lại những điều dồn dập tôi đã thấy trong vài ngày trước mà cho dù chuẩn bị kỹ càng trước khi đi nhưng tôi không thể ngờ bức màn phía Tây lại che phủ quá nhiều điều lạ lẫm phải tai nghe mắt thấy mới thoả lòng.

Tàu hoả thì vẫn là tàu hoả, nhưng nếu nói thế mà bỏ qua cung đường này thì quả là đáng tiếc. Hãy thử tưởng tượng khi bạn đang yên vị trên tàu chạy băng băng giữa cao nguyên thì nhác thấy 1 đàn cừu con trắng con đen đang bê tha gặm cỏ, bạn vừa nâng máy lên chưa kịp chỉnh ống kính thì tàu chạy qua mất, tiếc lắm, giận lắm, lại chong mắt lên chờ đợi và mai phục, cứ thế bạn luôn tay bấm máy, thu hết những gì đẹp và không đẹp lộ qua khung cửa. Tôi dám cá rằng có những lộ trình đẹp mà trong đời bạn chỉ đi với số lần cực kỳ hữu hạn, đường sắt Thanh-Tạng là một trong số đó!

Trong một phút vô tình của những lúc chong mắt chờ đợi và mai phục đó, dãy Khả Khả Tây Lý chào tôi từ phía rất xa. Sẽ có ngày tôi tạ lỗi với Kekexili bằng những hình ảnh đầy đủ và sống động hơn thay lời chào vội vàng tối nay:

Hành trình càng thú vị thì thời gian như càng trôi nhanh hơn! Khi bóng tối đã buông, tôi cảm tưởng con tàu rất đơn độc, phóng băng băng một mình qua thảo nguyên lúc này đã rơi vào tĩnh mịch. Nhìn đồng hồ tôi giật mình khi thấy đã sang ngày mới, đây là lần duy nhất trong 11 ngày xuôi ngược mà tôi thức khuya đến thế. Một ngày đi qua, tôi đã ở trong địa phận Thanh Hải, và phía xa mặt trời cao nguyên đang lên dần với sắc đỏ dịu mắt khác với cái chói chang thường gặp ở Tây Tạng. Tôi không nhớ lần cuối tôi được nhìn thẳng vào mặt trời như thế này là dịp nào:

Ra đến Tây Ninh, Thanh Hải, tôi tưởng rằng những gì ấn tượng nhất đã qua và ngày cuối là lúc nghỉ ngơi thư giãn nhưng tôi đã nhầm! Một vùng đất tiếp giáp với Tân Cương, Tây Tạng, Cam Túc, Tứ Xuyên; là mái nhà chung của người Tạng, Hán, Hồi, Mông Cổ; là quê hương của những con sông lớn tầm thế giới như Hoàng Hà, Trường Giang, Mekong; cũng là nơi hơn 650 năm trước sinh ra tổ sư Hoàng Mạo Giáo và sau đó gần 600 năm lại đản sinh vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 Tenzin Gyatso. Nơi đây kỳ lạ và thâm nghiêm vượt xa tầm với của bất cứ ai!

Điểm đầu chúng tôi ghé thăm là hồ Thanh Hải rộng mênh mông, xếp hạng là hồ nước mặn lớn nhất trên đất liền của Trung Hoa. Tôi dám cược rằng sớm thôi người Tạng cũng sẽ mất tiền để vào khu vực này vì quanh hồ người ta đang hối hả xây dựng khu resort mang phong cách Tạng! chắc sẽ là khu resort đầu tiên trên thế giới mang phong cách này cũng nên! Điểm dừng thứ hai là tu viện Tháp Nhĩ nằm ở vùng Hoàng Trung, ngôi đạo tràng lớn nhất và quan trọng nhất của phái Cách Lỗ ở Thanh Hải và được mệnh danh là tiểu Potala của Tây Tạng.

Bóng cũ dáng xưa có phần mai một, tu viện Taer nay đã mấy trăm năm tuổi. Nền cũ nơi mẹ Tông Khách Ba dựng stupa cho Ngài gửi gắm vào đây bao nhiêu tình mẫu tử giờ được tôn tạo lớn hơn, đẹp hơn; câu chuyện xung quanh tuổi thơ và sự đản sinh khác thường của Ngài cũng được thêu dệt bóng bẩy hơn. Niềm tin tôn giáo vừa khiến tâm hồn người ta thảnh thơi hướng thiện nhưng cũng là cách sinh lợi cho nhiều người; âu là thuận thời thế thế thời phải thế.

Taer có đến 4 học viện với nội dung học thuật rộng lớn nhưng có vẻ việc Biện kinh tranh luận không được đề cao như trong Lhasa. Tăng sĩ trẻ có, già có, nhìn vừa gần gũi với đời, vừa xa rời lạc lõng. Nếu đem thước đo tiêu chuẩn của giới luật ngày xưa mà xét thì chắc là ngày nay chắc đã xé rào nhiều. Đúng là sự đời vần vũ như mây gió, đổi thời gian đổi cả không gian

Chỉ ở được Thanh Hải 1 ngày tôi đã phải nói lời chia tay và cũng là lúc tạm biệt Tây Tạng, mảnh đất rộng lớn linh thiêng. Thiên Lý Nhãn nhìn xa muôn dặm, liệu có thấy hết những núi cao vực sâu chốn này? Thuận Phong Nhĩ nghe ngoài nghìn trượng, liệu có rõ câu chú ngân nga trong nắng trong mưa và trong tim mỗi người dân Tạng? Gió mây sẽ lại đi về trên nóc nhà thế giới như tự ngàn năm nay vẫn chẳng đổi thay, sẽ tiếp tục thổi tung bay triệu triệu lá cờ ngũ sắc in kinh Phật giăng khắp cao nguyên. Trong lòng tôi tràn đầy xúc động và hạnh phúc bởi cũng có ngày tôi bắt kịp chính mình trong giấc mơ khi trước, bắt kịp mây gió để được một lần trong đời đặt chân đến nơi đây.

3. Ngày về

Tôi rời cao nguyên Thanh-Tạng trong đêm, sáng mai tôi sẽ trở lại với cuộc sống thường nhật ồn ào bận rộn. Sau này có dịp trở lại không biết cảm giác của tôi sẽ ra sao? Mừng vì lại được rong ruổi trên đường thiên lý thăm viếng cố nhân? Lo vì khi đó sức khoẻ và nhiệt tâm liệu còn mạnh mẽ? Buồn vì thời gian tuy trôi nhanh nhưng chưa bằng những biến thiên đa cực cuồn cuộn trong lòng Tuyết Quốc? hay tôi sẽ sợ vì không dám đối mặt với một Tây Tạng quá mới mẻ? Tôi vừa thu được và vừa đánh mất mười một ngày! Có hề gì đâu? Thời gian và mảnh đất này thật là hào phóng. Tây Tạng của ngày hôm qua, hôm nay, và mai sau sẽ luôn hào phóng như thế, dang tay chào đón những ai muốn đến đây để chiêm bái sự hùng vĩ của thiên nhiên hoà quyện với cái đẹp tâm linh của nền Phật giáo Đại thừa Mật tông thâm hậu, dẫu biết rằng vạn vật trên đời không ra khỏi vòng sinh-diệt-tái sinh. Với cuộc đời này, với sự hào phóng ấy, phải sống nhanh lên, có ích hơn, và không chờ gì cả. Có lẽ ngày xưa chính là các Ngài sống thế!

Khi tôi chia sẻ câu chuyện của mình về Tuyết Quốc, người trẻ thì háo hức, người già thì trầm ngâm. Có người hỏi vì sao tôi có nhiều đam mê với mảnh đất Tây Tạng và văn hoá nơi đây đến thế? Tôi đồ rằng kẻ ngoại đạo như tôi giống tấm vải trắng dễ ăn thuốc nhuộm, hiểu biết hạn hẹp của tôi giống cốc nước vơi rất dễ đong đầy; nên khi vén mây bước vào thế giới siêu thực này, tôi đã được thoả lòng mong đợi ^^

Giữa bầu trời lịch sử, ấy muôn triệu ánh sao
Trong dân gian vạn thưở, ấy muôn triệu đoá hoa!

Hôm tôi ở Singapore trời cũng nắng, nhưng là cái nắng “điều hoà”, một thứ nắng xoàng.

Câu chuyện tôi kể các bạn nghe đến đây là hết.

Article ends here, perhaps you want to share it!

Related Posts:

♣ ♣ ♣ ♣ ♣

16 Responses and Counting.

  • hoài thu says:

    sung sướng quá aaa

  • YILKA says:

    @ Hoài Thu: sau này chắc e cũng làm 1 chuyến chứ nhỉ Mà a bắt đầu theo dõi blog của em trên blogspot hihi, keep it up ^^

  • hoaichau says:

    thanks. Vung dat xa xoi nay da duoc nhin bang anh mat rat tinh te, thien cam voi phat phap. phai co duyen moi den duoc vung dat nay, va cung phai co duyen moi cam duoc su huyen bi, linh thieng trong do…

  • YILKA says:

    @ Hoaichau: thanks bạn nhé ^^ đúng là mình có nhiều cảm tình với Tây Tạng nói riêng và Phật giáo nói chung, rất vui vì bạn đã ghé thăm và theo dõi bài viết. Chúc bạn sức khoẻ và may mắn

  • Bùi Thị Lâm Hồng says:

    Thế giới này đẹp biết bao phải không bạn? Mình cũng rất yêu nét đẹp Phương Đồng. Cảm ơn bạn cho mình biết về Tây Tạng.

  • Chị Thắm Heritage says:

    Chia sẻ với em về những cảm nhận Tibet nha, chị cũng vừa đi về hồi đầu tháng 9.2010, không share đựoc với thiên hạ vì không có blog, mà sẽ report trên báo (Heritage Fashion tháng 10/2010, về Thangka). Nhưng đọc infor của em cũng thấy Tibet thú vị hơn, đáng đi hơn. Chắc chị cũng mong có ngày được quay lại đó (hẹn với husband rồi, vừa rồi he không đi được), mà nếu có duyên sẽ hội thành một group đi với nhau thì hay đấy, cắh đi fượt của em hợp với bọn chị. keep in touch nha. Thân

  • YILKA says:

    Cảm ơn bạn Hồng và chị Thắm ^^

    Em sẽ đón xem số Heritage tháng 10 để xem bài viết của chị về Thangka – loại hình nghệ thuật độc đáo của người Tạng mà e rất đam mê đợt vừa rồi đi Tây Tạng e cũng mua đc 1 tấm Mandala rất đẹp! Sắp tới e đi Nepal tiếp, sẽ lại thăm thú tìm hiểu về Thangka và Mandala ^^ mong có dịp gặp gỡ trao đổi thêm với anh chị. Nếu sau này có điều kiện chúng ta lập nhóm mấy người về thăm lại Tây Tạng thì còn gì bằng Keep in touch và chúc anh chị sức khoẻ

  • Chị Thắm Heritage says:

    Hehe, bạn này không hổ danh là “thợ đi” pro đấy nhỉ. Dự kiến đi lịch trình Nepal của em thế nào cho chi tham khảo với được không? Nếu sắp xếp được chị có nhã ý join cùng các em (if u don’t mind^^). Báo của chị chuyên về du lịch nên máu đi cũng ngấm vào người roài.
    By the way, show với em bài viết của em gái chị về Thangka, trên facebook, bài này khá sắc sảo. she cũng đi cùng đợt vừa rồi:

    Thangka Tây Tạng – Khi cuộc sống là ĐỦ

    Dân số Tây Tạng gốc chừng chiếm chừng 1 nửa trên mảnh đất gần 4 triệu dân (dân nơi khác tới lại chỉ chăm chăm mục đích làm ăn), hầu như ở mọi địa điểm của thành phố khá hiện đại này, người Hán đều đóng vai trò chủ chốt, trong thời gian ngắn ngủi ở Lhasa, một trong những nơi hiếm hoi đậm đà vị Tây Tạng mà mình tìm thấy là các cửa hàng tranh Thangka.

    Có ai thấy hình này quen không? Khung tranh giống hệt trong bộ phim Samsara đó đó . Thank you Đạt :*

    Tây Tạng…đang Tầu hóa

    Bằng mọi tò mò (bản tính sẵn có) và những cố gắng “chắt lọc” (nỗ lực hi’hi’) mình vẫn phải thở dài rằng Tây Tạng tàu hóa quá nhiều quá!. Sau 2 ngày hối hả lê la chợ búa vào cả những cửa hàng bán buôn giá gốc, khẳng định luôn là ngay cả những đồ lưu niệm đậm chất Tây Tạng nhất cũng có nguồn gốc Trung của, riêng đồ dệt thì thường tới từ Nepal.

    Chấm mút bên lề: dù cao cheo leo ở nóc nhà thế giới, Tây Tạng vẫn “thâm hụt” kha khá sau Cách mạng văn hóa, 1/3 đồ tại cung điện Potala biến mất, có những tu viện có tới hơn 10,000 nhà sư bị thảm sát, Lạt ma thứ 14 cũng lưu vong sang xứ người (mình đọc đều đặn Wall Post của bác ý trên FB nhé!, đẹp lão lắm!). Bù lại, nghe đồn thôi Tây Tạng có 14,000 camera lắp chi chít song kín đáo tại mọi điểm nhạy cảm, nhìn mãi chưa ra. Dọc đường tới hồ Namtso, lính tráng rải 1 vệt dài đến 5km khách du lịch cứ nhìn thỏa con mắt, (chụp ảnh nó bắn chết!), và tại trung tâm thành phố, trạm gác nho nhỏ 2, 3 lính chi chít như bánh đa vừng.

    Chỉ tới khi tình cờ bước vào cửa hàng tranh Thangka nọ trên phố mình mới chợt cảm thấy thêm một mạch đập Tây Tạng vẫn đang nóng ấm nơi đây.

    Hai bức tranh Thangka BUỘC-PHẢI-XEM

    Tới Tây Tạng không xem tranh Thangka thì phí quá, xem mà bỏ qua 2 bức này lại càng phí hơn!

    Bức thứ nhất trông như 1 bản đồ vùng đất có đường bao mang hình dáng người phụ nữ đang nằm, dáng chân, tay khá động trên điểm tựa là mặt lưng đặt vững chãi. Bức tranh “bản đồ” này thể hiện khá nhiều ngôi chùa, đền. Ở đúng vị trí trung tâm – trái tim ấy – là ngôi đền Jokhang thiêng nhất Tây Tạng. Các vị trí trọng yếu được đánh dấu bằng nhiều ngôi chùa khác nhau. Người ta nói rằng Tây Tạng đang giữ sự ổn định cho không chỉ vùng đất này mà cả thế giới. Chỉ một thay đổi nhỏ khiến dáng người đang nằm kia bị lệch, thế giới sẽ chao đảo, động đất, núi lửa, lụt! Và bởi thế mọi ngôi đền, chùa ở đây đều đóng vai trò như chiếc đinh gim, giữ gìn sự cân bằng, sự ổn định cho thế giới!!!

    Mình buột miệng hỏi Vậy nước Nhật động đất thường thế liệu có thể tới đây xin xây chùa trấn không? Anh giai người Tạng gật đầu nhưng nói thêm rằng, thuật trấn đất – được thực hiện bởi những nhà sư cao tay nhất – rất có tác dụng, song người Tây Tạng cũng tin vào karma, vào những điều phải xảy ra nên nếu con người không thân thiện với thiên nhiên, thì cũng nên đón đợi hậu quả tất yếu. Triết kinh!

    Dù sao, đây cũng là 1 trong vô vàn ví dụ về nếp sống thuận với thiên nhiên của người Tây Tạng. (Đành kể chay vì ảnh bỏ ở máy kia, chưa kịp lấy hình bức tranh này ra.)

    Bức tranh thứ 2 thu hút mọi con mắt trần tục lẫn không trần tục vì quá hiện đại: Phật ngồi chính giữa (như rất nhiều bức khác), trong lòng là một cô gái ở truồng vòng tay ôm cổ, hai người đang hôn nhau say sưa (like no other!) Cô gái được vẽ màu trắng nổi bật trên nền da xanh của Phật, Bố cục khá thoáng tay so với các tranh khác, hình khối khái quát, mạnh mẽ và đầy cảm hứng.

    Mình mải miết chụp lại cuốn sách Tranh Thangka cổ dầy cộp, lại từng được thấy bức tranh này rồi nên không kịp trò chuyện cho một lời giải thích chính xác từ phía bạn họa sĩ kia. Nhưng nôm na thế này: Mật tông Tây Tạng có 4 nhánh chính (trong đó Hoàng giáo với các nhà sư đội mũ chỏm vàng như mào gà, tuy ra đời muộn song phát triển mạnh mẽ nhất). Trong những nhánh đã “tàn phai” có 1 nhánh lấy cực khoái làm chân tu. (Trời ơi tu thế mới là tu chứ!), tiếc quá, nghe nói nhánh này đã tuyệt chủng.

    Thangka, nghệ thuật của thái độ sống

    Thangka là một dòng tranh dân gian có nguồn gốc Nepal, theo chân công chúa Bhricuti tới Tây Tạng sau cuộc hôn nhân chính trị với Tạng Vương Sron Tsan Gampo (sau đó, Tạng vương lại cưới tiếp công chúa Văn Thành, nhà Đường). Trong đó nhánh tranh thờ Phật Giáo là mảng nổi bật nhất với những bức tranh chân dung, tranh kể chuyện như tích La Hán qua sông, Avalokitesvara với một biển lòng yêu thương, hay chân dung guru Dragbo nhìn khá dữ tợn với 3 mắt, răng nhọn dài đe dọa…Thangka có thể là tranh thêu kỳ công, chỉ vàng đính ngọc cực kỳ tinh xảo, có thể vẽ trên vải trên giấy bằng màu tự nhiên…người ta cũng tìm thấy những bức tranh Thangka vẽ thẳng lên núi đá.

    Người Tạng rất trân trọng Thangka, tranh thường được một tấm lụa phủ che chở, có giá đỡ cầu kỳ ở trên như một phần không thể thiếu của bức tranh, đôi khi tranh cũng được cuộn lại bỏ vào ống và khoác trên vai các nhà sư trong suốt hành trình.

    Trong lịch sử, Tây Tạng từng có có 2 ngôi trường dạy vẽ thangka chuyên nghiệp, người họa sĩ trước khi cầm bút tỉ mẩn đi từng nét nhỏ cần phải thông tuệ tiếng Tạng, am hiểu các tích truyện, phải cảm được cái hồn của nhân vật trước khi đặt bút vẽ. Cả quá trình ấy có thể mất tới 7,8 năm. Lại nói, một người họa sĩ Thangka có thể mất ròng rã nhiều tháng mới hoàn tất đến từng chi tiết của tranh, và mặc dù lối vẽ “công nghệp” chia mỗi người 1 công đoạn chắc chắn sẽ giúp rút ngắn thời gian, lối vẽ ấy không được hưởng ứng tại đây để giữ cho cảm xúc và đường nét tranh luôn nhất quán, và quan trọng hơn, bởi vì những họa sĩ người Tạng thấy việc tiết kiệm thời gian là không cần thiết và cách thức ấy là thiếu tôn trọng Thangka.

    Người Tây Tạng không ganh đua, cũng không vội vã, phần đông thường điềm tĩnh và khá cởi mở. Nếu muốn tiếp xúc với 1 người gốc Tạng gốc rễ lâu đời và có học thức, có lẽ người họa sĩ chủ cửa hàng tranh mình gặp một ví dụ không tồi. Sinh ra trong 1 gia đình người Tạng nhiều đời sống tại Lhasa, bạn này vừa truyền thống vừa hiện đại, vừa hiểu lịch sử Tây Tạng vừa tự học thêm tiếng Anh, cư xử lịch thiệp – của hiếm đấy vì dân Tạng bán đồ lưu niệm ngoài kia có khi đánh vần tiếng Tạng còn chật vật. Giống như nhiều người Tạng khác, anh thừa nhận biết kiếp trước mình từng là ai thể như đó là điều gì rất bình thường, không lo sợ cái chết, không mưu cầu kiếm tiền nhiều, vui vẻ chia sẻ chút tiền cùng những người ăn xin.

    Dù là hình thức nào, tranh cũng ào ạt cuốn theo với hàng nghìn chi tiết nhỏ tỉ mẩn mà họa sĩ vẽ tranh có thể mất tới hàng tháng mới hoàn thành. Chất liệu (màu tự nhiên, dùng cả vàng, bạc thật) và đường nét là điểm nói lên “đẳng cấp” của Thangka

    Mất 6 tháng để hoàn tất bức tranh này tới từng chi tiết. Bức này 5000 tệ nhoa!

    Xét cho cùng có lẽ vậy cũng là đủ cho cuộc sống này!

    Norbu, 22 năm làm họa sĩ vẽ Thangka


    ThienHuong

  • YILKA says:

    @ Chị Thắm: e sắp đi rồi ạ, sang tháng sau (tháng 10) là e đi rồi, lịch trình 9 ngày, ko biết còn kịp để chị sắp xếp và join ko

    Em đọc bài viết của e chị rồi, thú vị ạ, e cũng biết xiu xíu về lĩnh vực này, để có gì e join friends trên FB rồi mạn đàm xem sao ^^ Mà báo Heritage tháng 10 bao giờ ra chị nhỉ? để đi VNA e sẽ tranh thủ để ý hihi

  • Chị Thắm Heritage says:

    the thi chi se doc report cua em vay, hy vong se con thu vi hon ca infor ve Tibet . di ve nho share kinh nghiem de chi hoc hoi voi nha
    Moi em don doc Heritage Fashion ra thang 10-11 nhe, chac khoang ngay 1st Oct la co tren may bay roai, online suot 2 thang co nen em bay VNA thi lay thoai mai, title la Tranh Thangka ke chuyen

    Good luck for your trip 888

  • YILKA says:

    @ chi Thắm: hôm qua e đã đọc Heritage tháng rồi, có bài ‘Thangka kể chuyện’ của chị hihi, bài viết ngắn gọn, nội dung ‘gần’ đầy đủ, chưa thực sự là rõ ràng về nghệ thuật Thangka nhưng đủ để người đọc có những dư vị ban đầu về loại hình tranh Phật giáo này.

    Hy vọng chị sẽ có thêm nhiều biên khảo bổ ích hơn Cuối tuần này e đi Nepal, sẽ có những bài viết mới về Nepal ngay khi về ^^ Chúc chị sức khoẻ và thành công!

  • hoaichau says:

    ban be ru thang 5 nam sau di nepal. minh cho doc nepal ky su nhe. thuong lo binh an.

  • NAD says:

    Lâu lắm bác chẳng có bài nào mới ngoài chủ đề du lịch

  • Chị Thắm Heritage says:

    Hi em
    Da di Nepal ve chua? Chi dang doi rdoc eport cua em day

  • Ha.Nguyen says:

    Oh, gosh! What an adventure story!. I also have a passion for travelling but I just don’t know how and where to start .

    The road leading to your blog is miserably hard but it’s so worthy also (I even for a moment thought that fortune smiled on me and I love it so much.

    Can I have a small comment? I wish u used personal pronoun “I” in ur writing so that it will be closer to reader’s heart. I mean, It’s blog, not formal article right?

    I’ll keep track of ur blog n long for the next travel story.

    Wish u all the best.

  • YILKA says:

    @ c Thắm: e đang bắt đầu viết rồi chị, Nepal cũng thú vị lắm hihi sẽ lần lượt đăng bài sớm ạ

    @ Ha.Nguyen: your comment is lovely and generous ^^ Thanks a lot for the compliment. Glad if you found something interesting here ^^ Wish you the best always, and see you around

  • Leave a Reply

    (with your Gravatar, perhaps)

                                 

    Bộ gõ AVIM-Reloaded