Tây Tạng Du Ký – Ngày 7: Sera Monastery

1. Ngàn dặm không mây

Trở lại với bạn đọc trong bài viết ngày thứ 7 khám phá Tây Tạng Buổi ban mai của Nhật Khách Tắc (Shigatse) có phần vắng lặng hơn nhiều so với Lhasa. Tuy là thủ phủ vùng Tsang giữa lòng cao nguyên Tây Tạng nhưng nếu để ý kỹ, cuộc sống của thành phố đã mang nhiều màu sắc hiện đại tiểu thị dân của vùng đồng bằng. Ấn tượng đọng lại trước khi rời Shigatse là những con đường đá trơn láng vắng bóng chân người trải một màu xám tiễn chân du khách ra đến cột mốc số 4900 – cột mốc đánh dấu địa phận Shigatse trên tuyến quốc lộ Hữu nghị (Friendship Highway) ^^

Frienship Highway, hay gọi chính xác hơn: Quốc lộ 318 là con đường “vàng” đã có dịp nhắc đến trong bài viết di chuyển từ Nyingchi vào Lhasa, dài gần 5500km xuyên suốt từ cực Đông (Thượng Hải) sang đến cực Tây (Tây Tạng). Đoạn chạy qua Thành Đô có tên là cao tốc Tứ Xuyên – Tây Tạng (Sichuan-Tibet Highway), còn đoạn chạy từ Lhasa đến Zhangmu (biên giới Nepal) được gọi là cao tốc Hữu Nghị (Sino-Nepal Friendship Highway) có vượt qua Shigatse trên đường đi. Riêng từ Lhasa đến Shigatse, bản đồ còn phân ra: Southern và Northen Friendship Highway. Đường Southern Frienship Highway chính là lộ trình ngày 6 vào vùng Tsang: Lhasa – đỉnh Kampala – Hồ Yamdroktso – đỉnh Karola – trấn Gyantse – Shigatse. Còn đường về trong sáng hôm nay chúng tôi đi theo Northen Friendship Highway Theo mốc lộ giới phân cắm, Lhasa ở mốc 4646 còn Shigatse ở mốc 4900, cách nhau đúng 350km cao tốc, ngắn hơn khoảng cách của đường cũ gần 50km.

Trên đường đi, chúng tôi gặp lại người bạn cũ: con sông Nhã Lung (Yarlung Tsangpo) ^^ Trải mình trong ánh nắng hè tháng 6, dòng Yarlung Tsangpo bền bỉ chảy sâu vào lòng Tây Tạng; trái với hình ảnh tráng lệ uốn mình dưới chân ngọn Namche Barwa làm thành hẻm núi xanh độc đáo giữa Nyingchi (Ngày 3: đáo Niyngchi), con sông Nhã Lung chảy dọc theo quốc lộ 318 đoạn nối liền Shigatse – Lhasa mang một sắc thái ôn hoà có phần ảm đạm hơn:

Rất tình cờ, người viết tìm được những điểm tương đồng trong văn chương của Lý Nhuệ với những vùng đất đã đi qua. Nếu như cổ trấn Lệ Giang – đông thành của Vân Nam gợi nhớ đến hình ảnh trấn Ngân Thành mà Lý Nhuệ xây dựng trong tiểu thuyết Ngân Thành Cố Sự; thì ở đây, giữa trời đất bao la của vùng Tsang Tây Tạng, những hình ảnh hiện ra trước mắt làm người ta liên tưởng đến câu chuyện Ngàn dặm không mây của ông:

Thứ đầu tiên đập vào mắt người thầy giáo trẻ tình nguyện đi về vùng sâu dạy học là một miền núi non trùng điệp mênh mông, rặt một màu đất đỏ bazan khô khát. Nhiệt tình cháy bỏng muốn đem ánh sáng văn minh chiếu rọi tới cuộc sống mông muội của người dân thôn Ngũ Nhân Bình trong anh cứ dần lụi tàn trước sự bất di bất dịch của tự nhiên và con người nơi ấy. Chỉ khi ngày lại ngày đối mặt với những dãy núi trải dài câm lặng, anh mới cảm nhận sâu sắc được thế nào là sự cô độc và tĩnh lặng không người thấu hiểu, ngộ ra cuộc đọ sức vĩnh hằng, vô vọng giữa con người và tự nhiên, giữa cái hữu hạn và cái vô hạn …

Đó có lẽ là cảm giác rõ ràng nhất của chúng tôi khi ngắm nhìn những vách núi cheo leo sỏi đá, những bờ sông cháy vàng bụi cát:

Với kế hoạch đổi dòng chảy của sông Nhã Lung nhằm tăng nguồn tưới tiêu cho các vùng phía Bắc Trung Thổ, chính phủ Trung Quốc đang từng bước thực hiện “The Tsangpo Project” bắt đầu từ việc xây các con đập chắn nước và các nhà máy thuỷ điện trong Tây Tạng. Điều đó lý giải quang cảnh công trường xây dựng tất bật trên suốt đoạn đường đi mà du khách đang và chắc sẽ còn chứng kiến trong vài năm tới nữa:

Khi xe chúng tôi dừng chân nghỉ ăn trưa, ai cũng mệt mỏi vì trời oi bức và hành trình gió cát nên không ai mặn mà với các món ăn, chỉ riêng có món cuối cùng khi được bưng lên thì ai cũng ngạc nhiên: đó là những chiếc bánh hình trụ nhỏ bằng gạo nếp nhân đậu gói trong lá lúa nhỏ như bánh tro nước ta. Người dân địa phương giải thích rằng hôm nay là ngày lễ hội ở địa phương nên họ đều mời thực khách món truyền thống này. Hỏi ra mới biết hôm đó chính nhằm ngày Tết Đoan Ngọ mồng 5 tháng 5 âm lịch (tức 16/6/2010 dương lịch). Câu chuyện Sở thần ái quốc Khuất Nguyên năm xưa trầm mình dòng Mịch La vì lời can gián không được vua nghe; người dân thương tiếc ông đã lấy ngày 5/5 âm lịch làm ngày giỗ ông, lại làm nhiều bánh trái mà quăng xuống sông để các loài thuỷ quái cá sông ăn bánh mà không ăn xác Khuất Nguyên. Dòng Mịch La là một nhánh của sông Dương Tử mà điểm xuất phát của Dương Tử giang không đâu khác chính là cao nguyên Thanh Tạng! Không hẹn mà gặp, câu chuyện của mấy nghìn năm lịch sử thời Chiến Quốc tưởng như xa xôi nay trở về sống động giữa đường thiên lý khám phá Tây Tạng, quả thực là một bất ngờ thú vị ^^

Thêm một điểm chú ý khi di chuyển theo Northen Friendship Highway là việc kiểm soát tốc độ giữa các trạm gác! Tổng cộng có khoảng 5 trạm gác trên đường, đến mỗi trạm gác lái xe phải xuống để đóng dấu và ghi lại giờ qua trạm. Khi đến trạm tiếp theo phải qua thời gian nhất định, nếu đến sớm hơn sẽ bị phạt nặng. Vì thế nếu bạn đọc sau này có đi cung đường này cũng không nên lấy làm lạ khi thấy xe tự nhiên đang chạy thì dừng, tài xế sẽ xuống xe tha thẩn hút thuốc nhìn đồng hồ, rồi lại lên xe chạy tiếp, cứ thế vài lần âu cũng là dịp để du khách ra ngoài hít thở khí trời và ngoạn cảnh:

Chẳng mấy mà trời đã xế trưa, xe chúng tôi sau khi vượt các trạm gác và 6 cây cầu cuối cùng đã vào đến địa phận Lhasa, tạm biệt dòng Yarlung Tsangpo để về với phố phường vùng U, điểm đến trong buổi chiều nay sẽ là tu viện Sera ^^

2. Sera Monastery

Xây dựng năm 1419 (nhắm vào thời Vĩnh Lạc Minh Thành Tổ bên Trung Hoa), tu viện Sắc Nhạ (Sera Monastery) là 1 trong 3 tu viện tiêu biểu của dòng Cách Lỗ (Gelugpa Sect) bên trong Lhasa, và là 1 trong 6 tu viện lớn của Hoàng Mạo Giáo (Yellow Hat Sect) trên toàn Tây Tạng. Người có công đầu trong việc kiến lập viện là đại sư Thích Ca Dã Hiệp (Shakya Yeshe), học trò của đại sư Tông Khách Ba (Tsongkhapa). Quần thể tu viện Sera còn có tên gọi là Tu viện hoa hồng bởi khu vực xây dựng tu viện trước kia được bao quanh bởi các vườn hồng dại. Ngoài ra còn một nghĩa nữa trong tên “Sắc Nhạ” là Bạc Tử (mưa đá) vì lúc xây tu viện thì có mưa đá rơi xuống.

Từ bãi đỗ xe, chúng tôi theo con đường nhỏ 2 bên trồng cây xanh và san sát nhà cửa đi bộ hơn 10 phút đến được cổng tu viện, khung cảnh thanh bình cực kỳ, trái với sự đông đúc ồn ã của tu viện Tashilhunpo, Shigatse:

Bước vào tu viện, bên phải đầu tiên du khách sẽ gặp stupa lớn, tiếp theo là các dãy nhà song song tường trắng mái bằng đỏ chạy dài với hai hàng cây xanh:

Kiến trúc Sera Monastery được chia ra làm 5 khu chính: Khu Chính Điện (Great Assembly Hall), 3 đại viện dành cho việc tu học là: Me College (Mai Ba), Je College (A Ba), Ngagpa College (Kết Ba), và hạ viện Homdong Khangtsang (Hòa Kiết) là nơi Tăng chúng sinh sống. Nhìn vào bản đồ toàn đại tự viện Sera, điểm thu hút du khách nằm ở góc xa nhất, đó chính là Vườn Tranh Biện (Debating Courtyard) ^^

Đường dẫn vào Vườn Tranh Biện ngợp bóng cây xanh đẹp như tranh một trong những con đường đi bộ đẹp nhất có thể tìm thấy trong cả Lhasa:

Giờ mở cửa của Debating Courtyard từ 3h đến 5h chiều. Bước vào vườn, điều đầu tiên thu hút khách du lịch là những sắc màu áo đỏ đang say mê tranh luận kinh pháp trên nền sân vườn đá sỏi:

Mục đích của những cuộc tranh biện như thế này không ngoài tranh luận để đồng thuận, trau dồi hiểu biết về Phật điển và đào sâu suy nghĩ về những lời giáo huấn của Phật, cũng là để thăng tiến lên cấp cao hơn trên con đường tu học; vì thế các Tăng chúng trẻ tuổi tham gia rất nhiệt tình. Đối với khách phương xa khi theo dõi việc tranh biện ở vườn Sera đôi khi sẽ có cảm giác như sắp đặt và diễn, nhưng hoạt động này thực chất là 1 hình thức bắt buộc trong việc đào tạo Lạt Ma.

Nguồn gốc việc tranh biện như thế này có từ bao giờ thì khó ai nói được, chỉ biết các tu viện lớn của Hoàng Giáo Cách Lỗ như Sera, Deprung, hay Tashilhunpo rất đề cao. Xin tản mạn với bạn đọc 1 câu chuyện lịch sử có thể ít nhiều liên quan: câu chuyện về cuộc tranh luận Lạp Tát (The Great Lhasa Debate) nổi danh trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng.

Như đã có dịp giới thiệu về tổng quan Phật giáo Tây Tạng thời Tiền truyền, chuyện xảy ra nhắm vào năm 729 thời vua Đường Đức Tông, tương đương với đời Tạng Vương Xích Tùng Đức Tán (hay Cật Phiêu Song Đề, Trisong Detsen). Phật giáo Tây Tạng khi đó chịu ảnh hưởng của 2 tượng đài tôn giáo lớn: Trung Quán Tông truyền từ Ấn Độ và Thiền Tông truyền từ Trung Quốc. Nếu như Hán tăng lấy “trực chỉ nhân tâm khai thị Phật tánh” làm chính (tức là chỉ cần rèn luyện trong tâm sẽ khai thông Phật tính) mà không cần tuân theo y giáo, tu hành không cần đúng cách, dịch kinh sách không cần coi trọng; hoàn toàn trái ngược với quan điểm tu học nghiêm ngặt của Phạn tăng. Cuộc đấu đầu ngấm ngầm giữa 2 trường phái cứ kéo dài cho đến lúc vua Trisong Detsen mở cuộc tranh luận công khai mời Tăng chúng hai bên ra luận phân cao thấp. Đại sư Liên Hoa Giới (Kamalasia) đã chiến thắng Đại Thừa Hòa Thượng (Mahayana HoaSan), đánh dấu sự lên ngôi của Trung Quán Tông, và Phật giáo Tây Tạng từ đó lấy Phật giáo Ấn Độ thời Vãn kỳ làm chủ lưu! Lịch sử gọi đây là cuộc tranh luận Lạp Tát – tính lý luận khúc triết sâu sắc của Phật giáo Đại thừa thời Vãn kỳ được coi trọng hơn và những hoạt động liên quan đến việc tu học như dịch Kinh, chép Kinh, luận Kinh, tụng Kinh cũng vì thế mà trở thành bắt buộc trong đời sống Tăng chúng ^^

Lan man đã dài, xin cùng bạn đọc quay lại với Vườn Tranh Biện của tu viện Sera và cùng ngắm vài hình ảnh những nhà sư trẻ tuổi đang hăng say “dạy dỗ” và “doạ nạt” đồng môn tư thế các nhà sư rất đa dạng, chủ yếu là kết hợp các động tác vung tay múa chân và ngả người vỗ tay dậm chân hay xoay tràng hạt nhằm gây “ấn tượng” với đối thủ và cả người xem:

Cấp bậc trong tu học của các nhà sư được thể hiện ở màu áo vàng mặc bên trong hoặc đai vải cuốn quanh bụng:

Ngộ!

Và nụ cười của người chiến thắng

Phần lớn trong vườn tranh biện là những Tăng ni người Tạng tuổi còn rất trẻ, giao tiếp với nhau bằng tiếng Tạng. Hướng dẫn viên du lịch của nhóm tôi trước cũng đã từng là 1 nhà sư Tạng (sau này đã hoàn tục) từ chối dịch những cuộc đối thoại tranh luận với lý do là Phật điển Mật Tông cực khó dịch thoát nghĩa sang tiếng Anh và phải giữ bí mật nội dung tránh để người ngoài biết được.

Cứ thế chúng tôi nhìn ngắm khu vườn với con mắt tò mò … Dưới những tán cây từng nhóm các nhà sư tụ tập truy bài, xung quanh vườn ở các góc tường là khách du lịch tứ phương đang ngắm nghía và không ngừng chụp ảnh, tất cả tạo nên bầu không khí sống động và độc đáo cho tu viện Sera; và có lẽ là buổi truy bài kỳ lạ nhất mà trong đời tôi từng thấy qua:

Tha thẩn mãi trong vườn rồi cũng đến lúc phải tạm biệt, đồng hồ đã chỉ sang 4h chiều, chúng tôi trở ra khỏi Debating Courtyard. Ngay ở cửa chúng tôi gặp một người Tạng cũng đang quay ra, có lẽ ông hiểu những gì diễn ra bên trong Vườn Tranh Biện nên chỉ thấy mỉm cười thích thú:

Trên đường ra, chúng tôi ghé vào thăm Chính Điện (Great Assembly Hall, hay Tsogchen) của tu viện Sera, cũng là toà lớn nhất trong khuôn viên toàn viện.

Trước cửa chính điện là bức màn trắng lớn thêu biểu tượng cát tường Phật giáo: bánh xe Pháp (Dharma Wheel) và nút trường cửu (Endless Knot):

Trên nóc điện là những trang trí bằng đồng khác cũng mang màu sắc Phật giáo như Lá cờ cuộn (Victory banner – Dhvaja), stupa cách điệu, hai con hươu chầu bên bánh xe Pháp; tất cả đều vàng rực lên trong nắng chiều:

Bước vào trong điện, du khách sẽ có dịp ngắm nhìn những bức thangka khổng lồ, tượng Phật Thích Ca (Shakyamuni), tượng Phật Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokitesvara), tượng đại sư Tông Khách Ba (Tsongkhapa), tượng đại sư Thích Ca Dã Hiệp (Shakya Yeshe) – người có công khai lập xây dựng Sera Monastery, và đặc biệt là tượng Phật Di Lặc (Maitreya) cao 6m chiếm trọn 2 tầng lầu. Phí chụp ảnh bên trong Chính Điện là 30RMB nhưng chúng tôi từ chối mà chỉ chụp ở ngoài điện:

Ngay phía sau Chính Điện là một ngọn đồi thấp với những hoạ hình độc đáo của đại sư Tông Khách Ba, Đạt Lai Lạt Ma thứ 5, Bạch Đa La hay Phật Di Lặc trong tư thế Ấn chuyển pháp được khắc vào các phiến đá lớn với màu sắc tươi mới sống động:

Từ cửa sau Chính Điện, chúng tôi trở lại con đường chạy giữa tu viện Sera, và theo đó quay ra cổng. Đường ra khỏi Sera vẫn ngợp một màu xanh non mát mắt:

Tạm biệt tu viện Sắc Nhạ – một trong ba ngôi Đại Tùng Lâm quan trọng bậc nhất của thủ phủ Lhasa (cùng với Ganden và Deprung Monastery), chúng tôi lên xe trở về khách sạn. Ấn tượng về một tu viện Sera rợp bóng cây xanh với tiếng lạo xạo của vườn đá sỏi cùng không khí tranh biện râm ran giữa nắng hè chang chang chắc tôi sẽ nhớ mãi. Trong số những gương mặt trẻ măng của Vườn Tranh Biện hôm nay sẽ có vài người tu học thành tài trở thành những Lạt Ma đức cao vọng trọng sau này, cũng sẽ có người hoàn tục trở lại với đời, nhưng tin rằng buổi tranh luận kiến giải vỡ lòng với bạn đồng môn dưới mái chùa năm xưa sẽ còn theo họ đi mãi …

Về đến khách sạn Himalaya Hotel (6 East Linguo Road), tôi tranh thủ ăn uống nhanh và tắm rửa một lượt rồi khoác áo cuốn khăn xách máy ra khỏi khách sạn bắt taxi chạy về hướng quảng trường Potala. Đêm nay sẽ là 1 đêm đặc biệt, bởi tôi quyết tâm dành trọn buổi tối đi thăm thú quảng trường chờ trăng lên để chụp ảnh cung Potala dưới ánh đèn đêm, xin hẹn gặp lại bạn đọc trong bài viết ngày 7 phần 2 ^^

Article ends here, perhaps you want to share it!

Related Posts:

♣ ♣ ♣ ♣ ♣

2 Responses and Counting.

  • Duong says:

    Hay quá anh Minh ơi! Mà đợt anh đi thời tiết đẹp thế, nắng vàng ruộm nước xanh biếc :X

  • YILKA says:

    Em Dương yên tâm, gì chứ nắng gió ở Tây Tạng sẵn lắm, trừ mùa đông khắc nghiệt ra, lúc nào em đi cũng đẹp hết, tha hồ chụp ảnh ^^

  • Leave a Reply

    (with your Gravatar, perhaps)

                                 

    Bộ gõ AVIM-Reloaded