An Nam lý học hữu Trình Tuyền

Nếu được hỏi danh nhân văn hoá nào trong lịch sử Việt Nam vừa nổi tiếng về thơ văn, tài lương đống đức chuyên cần, lại tinh thông thuật số thì có lẽ câu trả lời chỉ có một mà thôi, người đó ắt hẳn là Tuyết Giang phu tử Bạch Vân cư sĩ Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông (1491) tại làng Trung Am huyện Vĩnh Lại, Hải Dương; nay là làng Trung Am xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Ông mất năm Đinh Dậu thời nhà Mạc (1585), hưởng thọ 94 tuổi. Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh trưởng trong một danh gia vọng tộc, thân phụ ông là Thái bảo Nghiêm Quận công Nguyễn Văn Định và thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục.

1. Tuổi thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trạng Trình tên lúc nhỏ là Nguyễn Văn Đạt. Mẹ ông bà Nhữ Thị Thục là người làng An Tử Hạ, huyện Tiên Minh, xứ Hải Dương (nay thuộc xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng). Người đời cho rằng bà là người có ảnh hưởng lớn lao đến sự trưởng thành của Văn Đạt – người mà sau này là danh nhân đất Việt: Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sinh thời bà có dòng dõi khoa bảng, tự bản thân lại thông minh học rộng, giỏi văn chương, thông kinh sử, tường lý số, biết thiên văn, đảm lược và có ý chí của bậc trượng phu. Cố giáo sư sử học Trần Quốc Vượng nhận xét: Bà Nhữ Thị Thục là một trong ba người phụ nữ nổi tiếng, tài trí hơn người của Việt Nam ở thế kỷ XVI (Trạng nguyên Linh phi Nguyễn Thị Duệ – nữ Tiến sĩ đầu tiên của nước ta, Quận công Nhữ Thị Thuận, và phu nhân Nhữ Thị Thục). Dân gian kể bà còn là bậc nữ lưu phong vận tài hoa vào bậc nhất chốn kinh kỳ thời bấy giờ, khi trẻ tuổi thì ngao du sơn thuỷ, thờ ơ với ông nghè ông tổng, bởi chí bà cho rằng những người đó cũng chỉ thi đỗ rồi làm công hầu mà thôi.

Thế rồi chỉ một lần gặp gỡ với ông đồ Nguyễn Văn Định, bà đã tự nguyện gá nghĩa. Bà đến với ông Định chỉ vì nhận thấy ở ông có tướng sinh quý tử, chồng bà nếu không phải là vua thì sinh con ra cũng phải làm vua! Bà cũng đoán trước ngay từ thời nhà Lê còn cực thịnh rằng bước đường suy vong của triều Lê chẳng còn bao xa. Nhưng rồi thực tế không như bà mong muốn, con bà sau này chỉ là trạng nguyên, vì thế mà vợ chồng cũng thường xích mích.

Chuyện kể có lần bà Nhữ Thị Thục đi chợ, ông Văn Định ở nhà trông con. Ông buộc dây vào cành tre, kéo lên, kéo xuống cho con chơi và nói:
- Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung!

Tưởng con không biết gì, chẳng ngờ Đạt nói:
- Vịn tay tiên, nhè nhẹ rung.

Khi bà Thục về, Văn Định khoe chuyện ấy bảo là con trai họ thông minh. Không dè, bà Thục nói:
- Nguyệt tượng trưng cho bầy tôi! Nuôi con mong thành vua thành chúa, chứ thành bầy tôi thì nói làm gì.

Lần khác khi vợ đi vắng, Văn Định lấy sách của vợ tìm một câu để dạy con, thấy câu:
- Bống bống, bang bang, ngày sau con lớn, con tựa ngai vàng

Văn Định hoảng sợ, cho là ý kiến phản nghịch, có thể bị tội chém đầu, bèn chữa chữ “tựa” thành “vịn”. Bà Thục về đến, biết chuyện này bực lắm.
- Sinh con ra, mong con làm vua thiên hạ. Nay thầy nó dạy con làm tôi, chán quá! Rất tiếc thân này là phận gái.

Vì nhiều quan niệm bất đồng nên bà Thục đã bỏ nhà ra đi. Tương truyền khi còn sống với Văn Định, có lần bà Thục ra Đồ Sơn, gặp một người dân chài oai vệ, cao to, sắc sảo, vừa thi trúng võ cử, sắp đi làm lính túc vệ thì giật mình than rằng: “Người này mới thật là người mà ta mong ước. Lúc trẻ chẳng gặp, ngày nay tới đây làm gì!” Người ấy sau này cướp ngôi nhà Lê, lên làm vua lập ra nhà Mạc (1527), chính là Thái tổ nhà Mạc – Mạc Đăng Dung.

Lại có truyền thuyết kể rằng bà Thục sau này đã đi thêm bước nữa, hạ sinh thêm 1 trạng nguyên cho đời, đó là Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Về sau Phùng Khắc Khoan theo học Nguyễn Bỉnh Khiêm, được ông coi như em ruột. Có thể thấy bà Thục tuy là nữ lưu nhưng chí lớn, lại luôn cất công mài giũa, bà có hai người con đều đỗ đạt và nổi tiếng, đáng là chuyện vinh danh ngàn xưa hiếm gặp vậy

Còn về Nguyễn Văn Đạt thuở nhỏ đã thông minh lạ thường. Đầy thôi nôi đã biết nói, lên bốn được mẹ dạy cho học thuộc lòng kinh truyện cùng với thơ Nôm. Tương truyền một hôm, bà Thục đưa Nguyễn Bỉnh Khiêm về quê ngoại thăm gia đình, dọc đường gặp một thầy tướng số Trung Hoa. Thấy Khiêm có tướng mạo lạ thường, ông bèn nói:
- Đứa trẻ này về sau có thể làm tới ngôi vương.

Nhưng rồi sau khi xem kỹ lại, ông than:
- Da khô quá, thật là đáng tiếc! Cùng lắm chỉ là trạng nguyên mà thôi.

Đường công danh của ông sau này đúng là chỉ ở mức Trạng Nguyên Khi mất ông được vua Mạc truy phong tước Thái phó Trình Quốc công, do đó mà đời sau gọi ông là là Trạng Trình.

2. Năm tháng luyện rèn và nghiệp quan trường

Cha mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm cho con theo học quan Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, cũng là 1 danh nhân văn hoá nước ta. Ông người làng Hội Trào, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hoá; đã từng đỗ đạt làm quan công thần nhà Lê. Ông cũng là người thảo “Trị bình thập tứ sách” gồm 14 đề mục cho việc trị nước an dân nhưng không được dùng nên đã cáo quan về quê dạy học. Khiêm sau này là học trò mà ông yêu quý nhất.

Đến khi Lương Đắc Bằng ốm nặng, biết rằng mình không sống lâu được nữa bèn gọi Khiêm lại, đưa cho ông 1 cuốn sách mà dặn rằng:

- Khi xưa thầy đi sứ qua Tàu, lúc trở về nước, có một cụ khách già trao cho thầy quyển sách. Thầy tưởng cho thầy nhưng sau đó, cụ ấy nói: “Ta không cho ngươi, ta chỉ nhờ người đem về giao lại cho một người An Nam”. Thầy rất ngạc nhiên khi không nghe cụ già ấy nói đến tên họ người mà cụ muốn gửi gắm. Cụ già liền xua tay: “Không cần. Chừng nào trong tâm linh nhà ngươi muốn cho ai thì người ấy sẽ được phần”. Nói xong, ông cụ ấy bỏ đi mất, chừng đó thầy mới hiểu ông ấy là một dị nhân. Nay thầy giao quyển sách này lại cho con, ấy là con có phần.

Bộ sách ấy chính là bộ Thái Ất Thần Kinh mà thầy Bằng để lại cho người học trò cừ khôi của mình. Nhờ quyển sách này mà về sau Nguyễn Bỉnh Khiêm tinh thông lý số, hiểu quá khứ vị lai, đoán biết tương lai, lại biết được sự xoay vần của thế cuộc. Chẳng thế mà vua Hiến Tông Mạc Phúc Hải đã phong cho ông tước Trình Tuyền hầu vào năm Giáp Thìn (1544), ngụ ý đề cao ông có công khơi nguồn ngành lý học nước nhà – công như Trình Y Xuyên, Trình Minh Đạo bên Trung Hoa vậy. Sau đó được thăng chức Thượng thư bộ Lại tước hiệu Trình Quốc Công.

Ông không hữu duyên với nghiệp quan trường lại ra đời vào thời loạn lạc. Mãi đến năm 45 tuổi ông mới đỗ Trạng nguyên thời Thái Tông Mạc Đăng Doanh. Làm quan được bảy năm, ông dâng sớ xin trảm 18 lộng thần nhưng không được vua nghe nên xin cáo quan năm 1542. Từ đây Nguyễn Bỉnh Khiêm xa rời cửa quan, lánh về điền viên, nhưng cuộc đời của ông thì chưa bao giờ nguôi nỗi niềm đau đáu về vận nước nghiệp nhà.

3. Sấm Trạng Trình

Nói đến ông có lẽ dân gian xưa nay tôn thờ ông về khả năng tiên tri và cái nhìn vượt thời gian. Những điều ông dự đoán đều được người ta chép lại mà chiêm nghiệm, có phần sùng bái, coi đó như những lời sấm truyền – sấm Trạng Trình. Như La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp sống vào thời Tây Sơn, khi qua thăm đền thờ của Trạng Trình cũng phải cúi đầu chắp tay thán phục ông là bậc “huyền cơ tham tạo hóa” (góp cùng tạo hóa điều khiển máy huyền vi). Xin được điểm qua đôi giai thoại sưu tầm từ nhiều nguồn để cùng bạn đọc ngâm ngợi ^^

Sắt ngắn gỗ dài:
Tối 30 Tết, Cụ Trạng Trình đang ngồi luận lý số cùng một học trò ở xa đến thăm và biếu cụ lễ vật. Bỗng ở ngoài cổng có tiếng người gọi mở cửa. Cụ sai gia nhân ra bảo hãy chờ cụ một chút. Rồi Cụ bảo học trò bấm quẻ đoán xem người kêu cổng ấy gọi mở cửa để làm gì.

Cả hai thầy trò đều bấm ra quẻ “Thiết đoản mộc trường” dịch ra là: Sắt ngắn gỗ dài. Cụ hỏi học trò:
- Vậy anh đoán nó vào đây có việc gì?

Anh học trò đáp:
- Thưa Cụ, theo ý con thì sắt ngắn gỗ dài, ắt hẳn người ấy vào đây mượn cái xuổng hay cái cuốc.

Cụ cười đáp:
- Khác với anh, tôi đoán nó vào đây mượn cái búa.

Nói xong, Cụ cho gia nhân ra mở cửa và mời người gọi cửa vào, thì đó là người láng giềng đi vào yêu cầu cho mượn cái búa, đúng như lời Cụ đoán.

Cụ giải thích cho anh học trò:
- Anh bấm quẻ giỏi, nhưng đoán còn thấp. Ngày 30 Tết thì ai đi mượn cái xuổng hay cái cuốc làm gì, cho nên tôi đoán nó mượn cái búa để chẻ củi nấu bánh cúng Tết mà thôi.

Bấm quẻ trúng nhưng khi đoán phải có ý thức cơ biến mới tránh khỏi sai lầm

Quạt giấy và cái gối:
Cụ Trạng Trình muốn thử xem lý số mà cụ học được có hiệu nghiệm không. Cụ làm hai thí nghiệm sau đây:

* Cụ làm một chiếc quạt giấy. Làm xong, Cụ bói số mệnh của cây quạt giấy nầy thì được quẻ: “Nữ nhân phá hủy”. Cụ viết 4 chữ nầy lên quạt và treo quạt ở đầu giường. Đến gần tới ngày giờ quẻ ứng, Cụ ngồi trên giường luôn luôn để mắt theo dõi quẻ ứng hiện như thế nào?

Chợt bên hàng xóm có người đến mời Cụ qua dự đám giỗ, nhưng Cụ bận theo dõi chiếc quạt nên chưa thể qua ngay được. Người hàng xóm đến mời nữa, và nói với Cụ Bà giục Cụ đi qua để trễ tiệc. Cụ Bà vào phòng hối Cụ đi mấy lần, nhưng Cụ vẫn lo theo dõi cái quạt nên chưa thể đi được. Cụ Bà bực tức thấy ông ngồi không mà chưa chịu đi, mắt lại nhìn cái quạt không rời. Cụ Bà liền giựt phăng cái quạt, xé đi rồi nói:
- Quí báu gì cái quạt giấy nầy mà ông cứ nhìn nó hoài như mất thần, để người ta qua đây ba bốn phen mời mọc.

Cụ cười xòa vui vẻ và liền đi ngay qua đám giỗ. Cụ nhận thấy lẽ nhiệm mầu trong khoa lý số đã thể hiện rất chính xác. Nhưng Cụ vẫn còn chút hồ nghi sự việc xảy ra có phải do ngẫu nhiên chăng?

Do đó, Cụ làm thêm thí nghiệm thứ nhì:

* Cụ làm một chiếc gối bằng gỗ để ở đầu giường. Cụ bói số mệnh chiếc gối thì được quẻ: “Thử đầu nhi phá”. Cụ rất ngạc nhiên vì gối kê ở đầu giường luôn luôn thì làm sao chuột phá hỏng được. Cụ ghi lên gối 4 chữ ấy rồi chờ thời gian xem kết quả.

Tới ngày tháng đúng như trong quẻ đã định, có một ông bạn thân đến thăm Cụ và ngồi nói chuyện với Cụ trong phòng. Chợt có một con chuột thập thò ở gầm ghế, ông bạn quơ tay xua đuổi, con chuột không chạy đi, mà cứ ở đó nhìn ông lau láu như có ý chọc tức. Ông bạn nổi giận, thuận tay lấy ngay cái gối gỗ ném vào con chuột. Con chuột lanh chân chạy thoát, còn chiếc gối gỗ thì va vào gạch gãy ra làm nhiều mảnh.

Thánh nhân mắt mù:
Khi sắp mất, Cụ Trạng Trình có ghi vào gia phả và dặn con cháu rằng: “Bình sinh ta có một tấm bia đá để sẵn và đã sơn kia. Khi ta nhắm mắt rồi, các con phải nhớ, hễ hạ quan tài xuống, phải để tấm bia ấy lên nắp rồi mới lấp đất lại. Sau 50 năm, hễ khi nào có một người lạ đến viếng mộ ta mà nói rằng: Thánh nhân mắt mù, thì phải lập tức mời người ấy về nhà, yêu cầu họ đặt hướng lại ngôi mộ cho ta. Chúng bây phải nhớ kỹ và canh chừng, chớ không được cải cát. Nếu trái lời ta, dòng dõi về sau sẽ suy đồi lụn bại.”

Con cháu nghe lời và làm y theo lời Cụ dặn. Đúng 50 năm sau, một hôm có một người Tàu đến viếng mộ, nhìn ngôi mộ của cụ một lúc thì cất tiếng than rằng:
- Cái huyệt ở đàng chân sờ sờ thế kia mà không biết, lại tự đem để mả thế nầy? Vậy là Thánh nhân cái gì đâu? hay là Thánh nhân mắt mù đó!

Người nhà nghe câu đó liền chạy về báo cho Tộc trưởng hay, ông nầy vội vàng ra rước người Tàu đó vào nhà, thết đãi tử tế, rồi nhờ đặt giùm ngôi mộ lại. Khi nói chuyện mới hay người Tàu đó là một nhà địa lý nổi tiếng ở bên Tàu mới sang nước ta. Ông ta đến đây là để xem di tích của Cụ Trạng thế nào mà tiếng đồn qua tới bên Tàu rằng: An Nam lý học hữu Trình Tuyền

Khi nghe ông Trưởng tộc yêu cầu đặt hướng lại cho ngôi mộ thì người Tàu tỏ ý sẵn sàng giúp, để chứng tỏ Trạng Trình còn thua ông ta một bực. Do đó ông ta cảm thấy rất thích chí, hiu hiu tự đắc và thầm nghĩ rằng: Với Cụ Trạng, thực ra chỉ nghe đồn chớ thực mục sở thị thì có gì giỏi đâu?

Ông ta bảo:
- Không cần phải đem đi đâu xa cả, chỉ đào lên rồi táng lại tại chỗ, nhích ra sau một chút và quay đầu lại là được.

Ông Trưởng tộc cả mừng, vội tụ họp con cháu lại, đưa thầy địa lý người Tàu ra mộ rồi đào lên. Khi đào xuống sắp tới quan tài thì gặp một tấm bia đá, ông thầy Tàu lấy làm lạ, sẵn tính hiếu kỳ, ông bảo đem rửa sạch bia đá, để xem trên đó khắc chữ gì, thì thấy trên bia ấy có khắc bài thi:
Ngũ thập niên tiền mạch tại đầu,
Ngũ thập niên hậu mạch tại túc.
Hậu sinh nhĩ bối ná năng tri,
Hà vị Thánh nhân vô nhĩ mục?

Nghĩa là:
Năm chục năm trước mạch tại đầu,
Năm chục năm sau mạch tại chân.
Biết gì những kẻ sinh sau,
Thánh nhân mắt có mù đâu bao giờ?

Khi xem xong bài thơ trên, ông thầy Tàu mới bật ngửa ra, phục Cụ Trạng Trình sát đất. Quả thật, mình chỉ đáng là học trò của Cụ thôi.

Thằng Khả làm ngã bia tao:
Trước ngày Cụ Trạng qui Tiên, Cụ tạc một bia đá và dặn chôn ở rìa mộ của Cụ, trên đó có ba câu:
Cha con thằng Khả,
đánh ngã bia tao,
làng biết được bắt thường tam quán
.”

Lúc đó người coi bia chẳng hiểu ra sao, cứ làm đúng lời Cụ dặn. Cho tới một thời gian rất lâu về sau, đến một hôm có hai cha con người đó tên là Khả, đi đào chuột. Khi hai cha con đến gần nơi mộ của Cụ Trạng thì thấy có hang chuột, liền đào xuống để bắt chuột. Hang chuột chạy lòn xuống đáy bia đá, chỉ lo đào hang mà quên để ý đến tấm bia đá, đào một hồi thì tấm bia đá ngã kềnh ra mà chưa bắt được con chuột nào. Bọn trẻ mục đồng thấy bia ngã, chúng tri hô lên, rồi làng biết, kêu cha con ông Khả lên làng, bắt nộp tiền phạt và phải dựng bia lại như cũ.

Cha con anh Khả đành chịu nộp phạt, nhưng nhà nghèo, trong nhà chỉ có một quan tiền tám, nên xin làng cho nộp phạt bao nhiêu đó mà thôi. Làng cũng đành chịu. Thế mới biết Cụ Trạng Trình rất tài giỏi về khoa lý số, biết được tên người làm ngã bia của Cụ, và lại biết số tiền nộp phạt là tam quán, nói lái là quan tám

Nguyễn Công Trứ phá Đền:
Năm Minh Mạng thứ 14, vua Minh Mạng bắt khai con sông Hải Dương. Lúc ấy, ông Nguyễn Công Trứ đang làm Tri Huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, lãnh chiếu chỉ của vua thi hành việc khai con sông đó, địa chính theo lệnh vua phải cắm cho thẳng, nhưng khổ thay lại trúng thẳng vào Đền thờ của Cụ Trạng Trình mà ngôi Đền nầy nổi tiếng linh thiêng.

Ông Trứ truyền cho dân phải phá Đền khai sông. Dân chúng không ai dám phá, Ông Trứ cũng phân vân, vì trên là lệnh vua, dưới là ý dân, nếu không tuân thì sợ vua bắt tội, mà tuân thì trái lòng dân. Ông Trứ sắm nhang đèn vào Đền vái Cụ Trạng Trình xin Cụ cho phép phá Đền, xin Cụ hiểu lòng của ông. Rồi ông Trứ xin chịu hết trách nhiệm cho công việc phá Đền, lúc đó dân quân mới dám phá.

Khi đào phá tới cái bệ thờ, thấy hiện ra một tấm bia đá chôn dưới bệ, có chạm khắc bốn câu sau đây:
Minh Mạng thập tứ,
Thằng Trứ phá đền.
Phá đền thì phải lập đền,
Nào ai lấn đất tranh quyền của ai.

Ông Nguyễn Công Trứ thấy Cụ Trạng Trình nói đúng tên của mình thì sợ quá, truyền cho dân chúng ngưng việc phá Đền, và lo việc cất Đền trở lại như trước. Khi đó, lại tìm thấy trên đầu cột cái có đề 4 hàng chữ:
Hỏng đền thì lại làm đền,
Rồi sau tìm thấy bạc tiền của ta.
Của ông, ông để còn xa,
Ai mà tìm được ắt là thưởng công.

Lúc đó Nguyễn Công Trứ đọc 4 câu thơ xong thì nghĩ mãi, chợt nẩy ra ý nói lái: còn xa nói lái lại là xà con. Ông liền quan sát các cây xà con đã tháo xuống, thấy có một cây khá nặng, nặng hơn các cây khác, khi cho bửa cây nầy ra thì có bạc nén văng ra. Nguyễn Công Trứ liền dùng số bạc này đi mua các thứ vật liệu, cất Đền trở lại cho Cụ Trạng mà lòng đầy kính phục. Số bạc còn dư, ông Trứ giao cho dân làng Vĩnh Lại để dành tu bổ các đền chùa đình miểu trong làng.

Cây xà nhà đổ:
Khi Cụ Trạng Trình sắp mất, Cụ kêu con cháu lại giao cho một cái ống tre sơn son thếp vàng, gắn bít hai đầu lại và dặn đúng ngày giờ ấy, tháng ấy, năm ấy, phải để cái ống lên kiệu, rước lên dinh quan Tổng Đốc Hải Dương, thì sẽ cứu được tình thế quá nghèo khổ của gia đình, nhưng tuyệt đối không được mở ra xem, chỉ có quan Tổng Đốc được mở mà thôi.

Cái ống tre ấy truyền đến cháu 7 đời của Cụ Trạng thì mới đúng ngày giờ đã định. Người cháu ấy mới đưa lên quan Tổng Đốc Hải Dương đúng theo lời Tổ tiên đã dặn ghi trong gia phả. Quan Tổng Đốc cầm cái ống, mở ra xem, thấy có hai câu thơ như vầy:
Ngã cứu nhĩ thượng lương chi ách,
Nhĩ cứu ngã thất đại chi bần.

Nghĩa là:
Ta cứu mầy khỏi cây xà nhà đổ,
Mầy cứu cháu ta bảy đời nghèo.

Quan Tổng Đốc đang lúc làm việc quan, thấy hai câu thơ nói xấc xược, gọi quan là mày thì cả giận, sẵn cầm cây quạt, ông bước tới định đánh người vừa dâng cái ống tre có hai câu thơ ấy. Khi vừa bước ra khỏi chỗ ngồi thì bỗng nhiên cây xà nhà to lớn trên nóc nhà đổ rầm xuống ngay cái ghế mà quan vừa ngồi làm cho cái ghế gãy nát

Quan Tổng Đốc lúc này mới toát mồ hôi nhớ lại hai câu thơ vừa rồi tỉnh ngộ. Quan hỏi đến người dâng cái ống tre, mới rõ là cháu 7 đời của Cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và hai câu thơ trên là Cụ Trạng viết ra để cứu ông thoát nạn, thế nên tâm phục khẩu phục mà giúp nhà cụ Trạng món tiền lớn.

Ngựa đá qua sông:
Đất Vĩnh Lại là quê hương của Trạng, một vùng đất hiếu học và trọng khoa cử. Nhưng học thì rất nhiều mà đỗ đạt thì lại ít, chẳng mấy ai làm nên những sự nghiệp lớn lao. Dân miền Vĩnh Lại ấm ức vô cùng, họ tìm đến hỏi Cụ Trạng cho ra nhẽ, song Cụ Trạng không trả lời gì khác hơn ngoài câu:
- Thiên cơ bất khả lậu!

Dân chúng thầm bất mãn, cho rằng Cụ thâm hiểm, nhỏ mọn, biết mà không nói để bản thân riêng hưởng. Nghe tin ấy, Cụ Trạng rất phiền lòng nhưng rồi thông cảm cho sự nôn nóng, sốt ruột của dân làng bèn làm một con ngựa đá và cho khắc 2 câu thơ:
Hà thời thạch mã độ giang
Thử thời Vĩnh Lại nghinh ngang công hầu

Nghĩa là:
Bao giờ ngựa đá sang sông
Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng.

Ngựa vừa dựng lên, dân làng rủ nhau đến xem rất đông, bán tin bán nghi về việc ngựa đá mà đòi qua sông. Thời gian trôi qua, dòng sông bên lở bên bồi, đến cuối đời Hậu Lê thì con ngựa đá đã sang sông thật. Người thì vui mừng, người thì hối tiếc vì đã trách nhầm Cụ Trạng, song ai nấy đều hy vọng một cuộc đời hiển hách. Tiếng lành đồn xa, người ta càng đổ xô đến làng.

Giữa lúc ấy, trong Nam lại xảy ra cuộc chiến giữa Tây Sơn và nhà Nguyễn. Tây Sơn sau khi thắng trận đem binh ra diệt luôn chúa Trịnh ở Bắc, trả quyền cho nhà Lê. Vua Lê đến thời Chiêu Thống lên ngôi thì lung lay, phải triệu Nguyễn Hữu Chỉnh ở Nghệ An ra giúp. Chỉnh đem binh ra đánh đuổi và dẹp tan đám con cháu của chúa Trịnh còn sót lại. Nhưng Chỉnh lại chuyên quyền ra mặt chống đối Tây Sơn, Nguyễn Huệ thấy vậy mới sai Nhậm ra Bắc đánh Chỉnh. Chỉnh đem vua Lê chạy trốn. Nửa đường Chỉnh bị bắt, vua thì thoát nhưng phải giả dạng thường dân mang theo ân tín mà chạy. Nhà Tây Sơn đuổi theo, nhà vua phải qua sông Vĩnh Lại và ở lại làng này. Việc vua đến lưu trú, lại thêm chuyện “ngựa đá qua sông” dân làng cho rằng đây là ý trời để làng Vĩnh Lại được oai danh hiển hách, mới rước vua về đình rồi thảo hịch chiêu mộ quân sĩ để chống Tây Sơn, sẵn có ấn tín của vua, hết người này đến người khác bức vua phong tước. Thế cùng lực kiệt, nhà vua đành nghe theo; vậy là chỉ trong mấy ngày dân Vĩnh Lại đều thành quan này quan nọ cả

Phong tước xong, nhà vua từ giã để chạy sang làng khác. Hay tin dân làng Vĩnh Lại phò Lê chống Tây Sơn, Vũ Văn Nhậm đem quân vây đánh, rút lại kết cục thảm thương cho làng.

Hoành Sơn nhất đái:
Nước ta khi đó bị chia đôi: từ Sơn Nam trở ra thuộc nhà Mạc, gọi là Bắc Triều. Từ Thanh Hoá trở vào là khu vực của nhà Lê hay gọi là Nam Triều. Năm Quý Tỵ (1532) Nguyễn Kim lập con út vua Lê Chiêu Tông lên làm vua, gọi là Lê Trang Tông. Để mưu đồ đại sự, Nguyễn Kim thu nạp một kiện tướng ở tỉnh Thanh Hoá tên là Trịnh Kiểm, sau lại gả con gái cho Trịnh Kiểm. Sau khi Nguyễn Kim chết vì ngộ độc (1545), mọi bình quyền về tay con rể Trịnh Kiểm.

Nguyễn Kim có hai người con trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng, cả hai tuy còn ít tuổi nhưng đã bộc lộ tài năng xuất sắc hơn người. Trịnh Kiểm không khỏi lo sợ cả hai em vợ sau này có thể tranh giành địa vị với mình, nên đã ngấm ngầm giết hại Nguyễn Uông. Nguyễn Hoàng thấy anh bị hại, sợ đến lượt mình, liền cử người kín đáo lên hỏi Trạng Trình. Trạng không trả lời cụ thể, chỉ đứng ngắm đàn kiến bò trên hòn non bộ trước sân nhà và thốt lên một câu: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân

Nghĩa là: Đèo Ngang một dải, dung thân ngàn đời.

Từ câu nói đó, Nguyễn Hoàng nghiệm ra rằng trạng Trình đã bày cho kế đi vào phương Nam lập nghiệp. Nguyễn Hoàng vội vàng đến nói riêng với chị ruột Ngọc Bảo, lựa lời xin cho ông vào trấn đất Thuận Hoá, phía Nam dãy Đèo Ngang. Năm Mậu Ngọ nghe theo lời vợ, Trịnh Kiểm xin vua Lê Anh Tông cho Nguyễn Hoàng được vào giữ đất Thuận Hóa. Dụng ý của Trịnh Kiểm, trước là đuổi Nguyễn Hoàng đi xa cho khuất mắt, sau là dùng Nguyễn Hoàng để chận giặc Chiêm Thành.

Không dè nhân dịp này Nguyễn Hoàng đem theo người nhà và quân lính cùng vợ con của họ vào Nam. Nguyễn Hoàng là người khôn ngoan lại nhân đức nên những kẻ tài giỏi ở khắp mọi nơi theo về rất đông. Do đó mà thế lực mỗi ngày một mạnh. Nhờ thế mà lập nên cơ nghiệp của họ Nguyễn ở Đàng Trong, truyền nối lâu dài.

Khi cơ đồ của nhà Nguyễn trở nên vững vàng, Nguyễn Hoàng có cho người mang lễ vật đến tạ Trạng Trình, nhưng Trạng đã cương quyết khước từ. Khi Nguyễn Hoàng sắp mất, ông gọi con trai là Nguyễn Phúc Nguyên đến dặn: Thuận Hóa là nơi có thể gây dựng cơ nghiệp lâu dài, vậy con phải thương yêu quân lính và giúp đỡ dân chúng, mới chống nổi họ Trịnh ở ngoài Bắc. Nguyễn Phúc Nguyên tức chúa Sãi chính là người sau đó ra sức mở mang bờ cõi, có kỳ công trong việc khai phá xây dựng miền Nam nước ta thuở trước.

Lê tồn, Trịnh tại – Lê bại, Trịnh vong:
Nhà Lê Trung Hưng dùng căn cứ ở Thanh Hoá tiến mạnh ra kinh đô. Tuy nhiên các phe phái Lê – Mạc, Trịnh – Nguyễn vẫn hằm hè, đấu trí đấu sức nhau, mưu sự thịnh vượng cho mình. Nhiều danh sĩ lại phân vân, cân nhắc chẳng biết nên phò Lê hay ở lại với Mạc. Trong số ấy có Phùng Khắc Khoan mãi không chọn được hướng đi nên đã tìm đến Am Bạch Vân để xin thầy mình vấn kế.

Chuyện kể rằng, khi nghe Phùng Khắc Khoan hỏi han đến sự thể, Trạng Trình không hề bảo cho Phùng Khắc Khoan là nên định hướng thế nào. Khoan không khỏi băn khoăn, trằn trọc mãi đến gần sáng mới chợp mắt được, vừa lúc ấy Trạng Trình đến đập cửa và nói vọng vào:
- Gà đã gáy rồi, sao không dậy, còn ngủ gì nữa?

Ông Khoan giật mình thức giấc, ông ngầm hiểu ý của Trạng Trình là đã đến lúc phải vào Thanh Hoá với nhà Lê. Phùng Khắc Khoan vội vàng bật dậy, sắp đặt hành lý rồi đến chào từ biệt Trạng Trình. Trạng vẫn không nói gì, chờ tới lúc Phùng Khắc Khoan quay gót, Trạng liền cuốn một chiếu ngắn ném theo. Nghe tiếng chiếu rơi phịch cạnh chân mình, Phùng Khắc Khoan càng thêm hiểu ý của Trạng: “Phải hành động nhanh như cuốn chiếu, chứ đừng chần chờ gì nữa”.

Quả nhiên vào Thanh Hoá, Phùng Khắc Khoan nhanh chóng được trọng dụng và được Thái sư Trịnh Kiểm tin tưởng, việc gì quan trọng cũng hỏi ý kiến.

Khi Lê Trung Tông mất, nhà Trịnh muốn nhân dịp này để phế luôn nhà Lê. Trịnh Kiểm hỏi ý, Phùng Khắc Khoan lúng túng không biết trả lời thế nào, liền bí mật phái sứ giả ra Hải Dương hỏi ý kiến thầy lần nữa.

Sứ giả đi rổi về kể:
- Quan Trạng không bảo ban gì cả. Ngài cũng không có thư hồi đáp.

Phùng Khắc Khoan gặng:
- Thế ông được quan Trạng tiếp đãi ra sao? Và những câu quan Trạng nói ông còn nhớ kỹ không?

Sứ giả chỉ biết lắc đầu:
- Dạ, ngài Trạng tiếp đãi rất chu đáo. Nhưng ngoài những câu giao tế bình thường, ngài chẳng nói gì hết. Chỉ trong lúc nhấp chén trà với tôi, quan Trạng có bảo người nhà một câu: “Năm nay thóc giống không tốt, chúng bay nên tìm thóc cũ mà gieo mạ”.

Phùng Khắc Khoan mừng rỡ bảo:
- Đó chính là lời Trạng nói với chúng ta đấy. Ông cố nhớ lại ngài Trạng còn nói gì thêm không?

- Dạ nếu thế thì có chuyện này. Vừa cạn tuần trà xong, Cụ Trạng đứng lên xin ra chùa thắp hương. Tôi giữ lễ, xin phép đi theo, đến cửa chùa khi nhà sư ra đón. Trạng bảo nhà sư: “Giữ chùa, thờ Phật thì được ăn oản”.

Phùng Khắc Khoan gật đầu ngầm hiểu rồi vội vàng vào gặp Trịnh Kiểm, thuật lại từng lời nói cử chỉ của Trạng Trình. Kiểm hiểu ngay ý dặn: Phải phò nhà Lê thì mới hưởng phúc lâu dài. Sau đó Kiểm cho tìm người cháu của Lê Trừ – anh ruột vua Lê Thái Tổ – là Lê Duy Bang ở làng Bố Vệ, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá đem về phò lên ngôi, tức là Lê Anh Tông sau này.

Về sau, con cháu chúa Trịnh cũng đã nhiều lần muốn tiếm ngôi nhà Lê, nhưng Cụ Trạng Trình đều khuyên khéo: “Lê tồn, Trịnh tại – Lê bại, Trịnh vong“. Tuy nhà Lê suy nhược, nhưng Lê còn thì Trịnh mới đứng vững được. Lời sấm của Trạng Trình không sai, khi vua Lê Chiêu Thống để mất ngai vàng thì dòng Trịnh cũng chẳng còn ai xưng chúa nữa.

Cao Bằng khả duyên:
Thời Mạc Mậu Hợp, năm Diên Thành thứ 8 (1585), tức năm Ất Dậu tháng 11 thì Trạng Trình lâm bệnh. Mậu Hợp sai sứ đến vấn an và hỏi về quốc sự. Ông chỉ trả lời rằng: “Tha nhựt quốc hữu sự cố, Cao Bằng tuy tiểu khả duyên sổ thế“. Nghĩa là: Sau nầy quốc gia hữu sự thì đất Cao Bằng tuy nhỏ cũng giữ thêm được mấy đời.

Quả nhiên, sau đó 7 năm sau thì họ Mạc mất, rồi các chúa nhà Mạc như Càn Thống, Long Thái, Thuận Đức, Vĩnh Xương, rút lui lên giữ Cao Bằng được gần 80 năm, truyền thêm được vài đời nữa, cũng nhờ Cụ Trạng năm xưa mách nước cho.

Đại chiến thế giới II:
Có những câu sấm của Trạng Trình viết từ thế kỉ XVI, đến thế kỉ XX đã được lịch sử chứng minh với độ xác thực kì diệu như những câu sau đây:
Long vĩ, xà đầu khởi chiến tranh
Đông Tây Nam Bắc khởi đao binh
Mã đề, dương cước anh hùng tận
Thân Dậu niên lai kiến thái bình

Nghĩa là: cuối năm Thìn (1940), đầu năm Tị (1941) nổ ra chiến tranh, Đông – Tây – Nam – Bắc (của thế giới) bắt đầu xảy ra việc binh đao. Từ năm Ngọ ( 1942) đến cuối năm Mùi (1943) anh hùng chết nhiều. Đến năm Thân (1944) năm Dậu (1945) lại thấy có thái bình. Người ta đem ra so thì chính nhằm vào Đại chiến thế giới lần thứ hai (1939 – 1945) đã diễn ra đúng như lời sấm đã mô tả!

Nam Đàn sinh thánh:
Từ thế kỷ 16, Cụ Trạng đã viết:
Đụn Sơn phân giải,
Bò Đái thất thanh,
Nam Đàn sinh Thánh

Nghĩa là :
Núi Đụn Sơn tự phân chia ra, khe Bò Đái mất tiếng kêu đi thì đất Nam Đàn sẽ có thánh ra đời.

Sự thực thì Núi Đụn chính là núi Hùng Sơn ở phía tây huyện Nam Đàn. Năm 722, Mai Thúc Loan (tức là vua Mai Hắc Đế) xây dựng kho quân lương ở trên núi để chống giặc Đường nên gọi là Núi Đụn. Khe Bò Đái (tên gọi trong dân gian) chảy từ vách đá dựng đứng ở Rú Kia (còn gọi là Cơ Sơn), nước chảy ồ ồ và tung bọt trắng xóa. Trong một trận động đất, núi Đụn bị phân đôi, khe Bò Đái cũng bị rạn nứt, nước chảy nhưng bị thẩm thấu lan toả nhiều vào lòng đất đá nên không phát ra tiếng ồ ồ như trước. Thời điểm đó trùng vào thế kỷ 19, người ta cho rằng đó là nhà chí sĩ Phan Bội Châu thuộc Nam Đàn Tứ Hổ lúc đó. Nhưng chính Phan Bội Châu khi trao đổi với nhà sử học Đào Duy Anh đã khẳng định câu sấm truyền đó ứng vào người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc lúc đó còn đang hoạt động cách mạng ở Pháp những năm 1920. Và lịch sử 1 thập kỷ sau đã minh chứng tính đúng đắn của lời sấm cách đó 500 năm

Giai thoại về những lời sấm Trạng Trình còn rất nhiều, lịch sử vì thế suy tôn ông là nhà tiên tri số một Việt Nam quả không ngoa ^^

4. Sự nghiệp văn chương

Nếu nhắc đến Nguyễn Bỉnh Khiêm mà chỉ nói đến những lời sấm truyền của ông thì quả là có lỗi với Bạch Vân Cư Sĩ bởi sự nghiệp văn chương của ông cũng có nhiều điểm đáng nói. Khi cáo quan về quê vào năm Quảng Hòa thứ 2 (1542), ông dựng Am Bạch Vân ở phía tả trong làng và lấy hiệu là Bạch Vân Cư Sĩ. Ông lại cho bắc hai chiếc cầu Nghinh Phong và Tràng Xuân để hóng mát, dựng một ngôi quán gọi là Trung Tân Quán ở bến Tuyết giang, học trò ông do đó mà xưng tụng thầy là Tuyết Giang Phu Tử.

Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại cho đời Bạch Vân Thi Tập (chữ Hán) và Bạch Vân Quốc ngữ Thi Tập (chữ Nôm), nội dung thắm đượm tình cảm với quê hương, lo cho nước cho dân, đồng thời cũng nêu bật 1 chữ nhàn, coi thường danh lợi, đứng ngoài nghiệp quan trường, chỉ mong làm 1 ẩn sĩ giữa đời thái bình.

Vốn trọng nghĩa khinh tài, ông viết về xã hội phong kiến tha hóa:
Thế gian biến đổi vũng nên đồi,
Mặn lạt chua cay lẫn ngọt bùi.
Còn tiền còn bạc còn đệ tử,
Hết cơm hết gạo hết ông tôi.

Xưa nay vẫn trọng người chân thực,
Ai nấy nào ưa kẻ đãi bôi.
Ở thế mới hay người thế bạc,
Giàu thì tìm đến, khó tìm lui.

Bởi thế ông chỉ mong tìm cái nhàn tản ẩn cư nơi thôn dã như đã viết trong Thú thôn cư:
Một mai một cuốc một cần câu,
Thơ thẩn mặc ai vui thú nào.
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn người đến chốn lao xao.

Thu ăn măng trúc, Đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, Hạ tắm ao.
Rượu đến gốc cây ta sẽ nhấp,
Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.

Câu thơ thoáng chút mỉa mai với đời tranh đoạt, lại pha chút kiêu hãnh của bậc trí giả đầy trải nghiệm, chỉ mong không còn phải lo nghĩ việc đời, thích ngao sơn ngoạn thủy, xem danh lợi như phù vân. Nhưng như thế không có nghĩa là Trạng Trình nhắm mắt trước khát vọng cứu dân giúp nước:
Lúc nhàn ngẫm việc xưa nay
Không gì hiểm bằng đường đời
(Trung Tân ngụ hứng)

Trong bối cảnh nồi da nấu thịt, trước là Lê-Mạc tranh quyền đoạt lợi, sau là Trịnh-Nguyễn hai Đàng phân tranh, Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy không dự vào thế sự nhưng cũng không thể ngồi yên! Tấm lòng yêu nước thương dân của ông thể hiện qua bài Hữu cảm khi thấy cảnh loạn lạc cuối đời Mạc Phúc Nguyên:
Giặc dã ngông cuồng lấn đế kinh
Vua lo, tôi nhục, thật thương tình
Mong vua, khắc khoải lòng dân vọng
Trừ bạo ai người dấy nghĩa binh?
Bốn bể theo về mưa móc cũ
Trời cao sáng lại sắc thanh bình

Ông cũng nghiệm ra cho đời sau rằng:
Xưa nay nhân giả là vô địch
Lọ phải ôm hoài mộng chiến tranh

Cứ ngỡ lòng vô sự, trăng in nước nhưng xem ra tâm Trạng Trình vẫn còn nặng gánh. Không chỉ tự trào trong thơ, ông còn mở Quán Trung Tân để kết giao hiền sĩ, lại đem cái tài học của mình ra hết lòng truyền dạy cho môn sinh, những mong sẽ có những tài lương đống phò tá sơn hà. Quả danh sư xuất cao đồ, học trò của ông sau này nhiều người trở thành danh thần thời Trung hưng như Nguyễn Dữ – tác giả Truyền kỳ mạn lục, Thượng thư Bộ Lễ Lương Hữu Khánh, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, Quốc công Nguyễn Quyện, Thượng thư Bộ Hộ Trạng nguyên Giáp Hải, Tiến sĩ Trương Thời Cử, Tiến sĩ Đinh Thời Trung, Hàn Giang Phu tử Nguyễn Văn Chính

Trình Quốc công mất đến nay đã 425 năm. Trước ông trăm năm có một danh nhân văn hóa khác – Ức Trai Nguyễn Trãi (1380–1442) – mà người đời tìm thấy ở hai ông những điểm tương đồng; cũng là tâm hồn nhà Nho trong sáng cao thượng, cùng một niềm tin vào ngòi bút văn dĩ tải đạo, suốt đời vì nghĩa lớn yêu nước thương dân. Nhà sử học Phan Huy Chú đã viết về Trạng Trình trong Lịch triều hiến chương lọai chí: “Một bậc kỳ tài, hiền danh muôn thuở”. Trọng tài nhớ ơn ông, dân chúng dựng đền thờ ông trên quê hương, cho đến nay vẫn tổ chức lễ hội Trạng Trình mỗi năm để vinh danh sự nghiệp và thân thế Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài viết này nhân dịp xuân mới cũng chỉ mong có đôi dòng tôn xưng cho một nhà văn hóa kì danh kì tài thời Lê – Mạc ^^

Article ended. Share it:
  • RSS
  • Design Float
  • Digg
  • StumbleUpon
  • del.icio.us
  • Reddit
  • Facebook
  • Technorati
  • Yahoo! Buzz
  • Twitter
  • email
  • PDF

Related Posts:

♣ ♣ ♣ ♣ ♣

3 Responses and Counting.

  • ngxtri says:

    Thu ăn măng trúc, Đông ăn giá,
    Xuân tắm hồ sen, Hạ tắm ao.

    Cho mình vịn câu này thôi. Bài dài quá, chưa đọc hết

  • NAD says:

    Đúng là bài dài quá, ngại đọc

  • L2Leo says:

    Giai thoại Trạng Trình hay quá, cảm ơn Yilka đã bỏ công sưu tập và chia sẻ ^_^ đọc xong thấy đỡ mù lịch sử văn hóa VN được 1 xíu rồi hihi

  • Leave a Reply

    (with your Gravatar, perhaps)

                                 

    Vietnamese Keyboard: