Đã 20 năm có lẻ kể từ khi đất nước chuyển mình, đánh dấu giai đoạn Đổi mới và phát triển, dần dà thoát thai khỏi những thiếu thốn khó khăn thời hậu chiến. Cuộc sống đã có phần dư dật khấm khá hơn xưa, nỗi lo cơm áo gạo tiền tuy chưa phải biến mất, nhưng cũng không còn quá thường trực đe dọa hàng ngày như trước – thời mà người ta còn nhắc đến như một giấc mơ, như là cổ tích của thế kỷ XX này – những năm tháng trì trệ, khổ sở, thiếu thốn và đầy rẫy cam go mà chắc không người Việt Nam nào có thể quên được. Chúng ta vẫn hay gọi thời kỳ đó là “thời bao cấp“, quãng thời gian sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng cho đến năm 1986 trước thềm đại hội Đảng VI thiết lập tiền đề cho thời kỳ đổi mới và cơ chế thông thoáng trong đời sống xã hội và sản xuất. Những năm tháng đó không chỉ đánh dấu sự khan hiếm vật chất, người người vật lộn với miếng cơm manh áo, mà còn ghi lại sự kìm kẹp về cuộc sống tinh thần, tù túng về đời sống văn hóa. Tuy nhiên, chính trong sự khó khăn ấy, người ta lại nhận ra rằng chưa bao giờ cuộc sống lại ăm ắp tình thương, tình nghĩa láng giềng, tinh thần đoàn kết như thế, để cùng nhau vượt qua tình cảnh gian khó chung của đất nước, của mỗi người.
Khi viết tập bài này, người viết gặp phải khó khăn vì chưa biết dự liệu bao nhiêu là đủ, phân đoạn bao nhiêu là vừa, thôi thì cứ tùy nghi mà viết, mong bạn đọc lấy cái tình ngòi bút mà lượng thứ cho, nhất là bậc cao niên nếu có ghé thăm.
Bài viết gồm ba phần:
Phần 1. Chuyện thời bao cấp
Thập kỷ Bao cấp nói cho chính xác thì bắt đầu từ trước năm 1975 ở miền Bắc, và sau đó là toàn miền Nam từ ngày thống nhất đất nước, kéo dài cho đến năm 1986. Thời kỳ đó mọi nhu yếu phẩm của cuộc sống đều được phân phối theo dạng tem phiếu, bao tiêu dạng đầu người, hoạch định và cấp phát bởi nhà nước, buôn bán cá nhân hay kinh doanh cá thể bị hạn chế. Vì thế phát sinh những thiếu thốn vật chất, nảy sinh tiêu cực, kèm theo đó là muôn vàn khó khăn thời hậu chiến mà không thể một sớm một chiều giải quyết được, lại càng không thể giải quyết bằng cơ chế bao cấp kìm kẹp và đường lối thiếu đúng đắn.
Việt Nam sau năm 75 hừng hực khí thế dời non lấp biển, hào quang của chiến thắng đế quốc cộng với cảm xúc lâng lâng của ngày độc lập như tiếp thêm sức mạnh cho giấc mơ tái thiết đất nước, xây dựng viễn cảnh dân giàu nước mạnh, cuộc sống ấm no trong thời gian ngắn nhất. Tuy nhiên thực tế chồng chất khó khăn! Viện trợ nước ngoài giảm mạnh, vết thương chiến tranh hằn dấu trong lao động sản xuất, nợ nước ngoài đến kỳ không có khả năng thanh toán, nguy cơ kẻ thù và chiến tranh biên giới vẫn rập rình, bao vây cấm vận xiết chặt, nhưng cấp bách nhất là những nhu cầu thường nhật về lương thực thực phẩm, điện nước và nhu yếu phẩm cho đồng bào khắp ba miền. Trong điều kiện đó, chúng ta lại có những chủ quan nôn nóng, chưa đánh giá đúng tình hình thực tế, thực hiện bao cấp với một loạt những bước đi sai lầm về giá, lương, tiền; lại thêm những ấu trĩ quan liêu trong cải cách hành chính dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội thêm trầm trọng. Đứng trước nguy cơ sụp đổ nền kinh tế, đất nước đã có những điều chỉnh thích hợp, “phá rào” kinh tế để tự cứu lấy mình, đổi mới toàn diện từ đại hội Đảng VI (1986) để xóa bỏ hoàn toàn cơ chế quan liêu bao cấp, cộng với nỗ lực của toàn dân tộc đưa đất nước phát triển vượt bậc. Giờ đây, khi những thành tựu kinh tế đã khẳng định sự đúng đắn của chính sách mới, chúng ta mới có dịp nhìn lại và tự đánh giá mình, cũng là ôn cố tri tân về thời kỳ không thể lãng quên mà với nhiều người chỉ như thể ngày hôm qua thôi.

Kể chuyện về thời bao cấp có lẽ chẳng bao giờ là đủ. Người ta thậm chí ồ à thích thú, đôi khi chiêm nghiệm những gì đã qua. Hồi đó mọi thứ gạo củi mắm muối đều được phân phối theo công tác, chức danh; trên mỗi cuốn sổ gạo hay tem phiếu đều có ghi loại và tiêu chuẩn khác nhau: bìa đặc biệt A1 là của cán bộ cao cấp từ Ủy viên Bộ chính trị và phó Thủ tướng trở lên, bìa A là cho cấp Bộ trưởng và Ủy viên trung ương, rồi bìa B của cán bộ cao cấp, C cho cán bộ trung cấp …; cuối cùng mới là bìa N dành cho nhân dân. Nhưng khổ nỗi hàng hóa khan hiếm, có sổ đấy mà cũng phải xếp hàng đợi mậu dịch viên phân phát cho. Cán bộ cao cấp thì có cửa hàng phục vụ riêng ở phố Tôn Đản, trung cấp thì tại phố Nhà Thờ, Vân Hồ, Đặng Dung và Kim Liên, còn cán bộ công nhân viên chức và nhân dân thì mua ở các cửa hàng nhỏ trong thành phố. Vì thế mà dân gian mới làm không biết bao nhiêu ca dao chung quanh những nơi này, cái này thì của “vua quan”, cái này thì của “trung gian nịnh thần”, thứ rồi mới đến “thương nhân”, cuối cùng là của “nhân dân anh hùng” 
Vì cuộc sống thiếu thốn nên ước mơ thời đó cũng giản dị và thiết thực hơn bao giờ hết, những người lớn tuổi mường tượng lại ký ức bao cấp khi đó, chỉ mong sao xếp được hàng mua gạo mà không phải gạo mốc, được ăn bữa cơm ngon không độn, đi xe đạp Trung Quốc, tắm xà phòng thơm, trong nhà có cái quạt tai voi để chống lại mùa hè oi ả hay có Tivi đen trắng để xem cùng cả khu tập thể. Có lúc cả Hà Nội phải ăn độn bo bo, người ta truyền nhau hát Một yêu anh có may-ô, Hai yêu anh có cá khô ăn dần, Ba yêu rửa mặt bằng khăn, Bốn yêu anh có chiếc quần đùi hoa. Nhiều năm sau khi đời sống bớt chật vật hơn thì Một yêu anh có Sen-kô, Hai yêu anh có Pơ-giô cá vàng, Ba yêu nhà cửa đàng hoàng, Bốn yêu hộ khẩu rõ ràng Thủ đô. Chắc là khó khăn lắm để giờ đây người ta hiểu được câu chuyện như “đẹp trai đi bộ không bằng mặt rỗ đi Lơ” (xe Lơ là xe Pơ-giô), rồi thì “mặt rỗ đi Lơ không bằng lưng gù đi Cúp“, “Lưng gù đi Cúp không bằng cóc ngồi sập gụ“. Đó là những tiêu chuẩn sang giàu, những đỉnh cao mơ ước của người Hà Nội một thời bao cấp!
Nhìn lại cuộc sống bao cấp mà hiện thực hơn là qua triển lãm “Hà Nội thời bao cấp“, nhiều người đã nhớ lại cuộc sống gian khó tìm mọi kế sinh nhai của gia đình mình. Người nông dân thì làm ra thóc gạo phải đem nộp hoặc đem bán cho Hợp tác với giá chỉ bằng 1/10 giá chợ đen rồi lại khổ sở đi mua gạo mậu dịch theo chế độ tem phiếu, tạo nên cảnh Mua như cướp – Bán như cho dở khóc dở cười. Có chuyện người dân giấu gạo cất đi, đến khi mở ra thì chuột đã ăn mất quá nửa, hay người nhà nước đến đo bồ thóc để bắt bán ngay thóc thừa hay phạt vì không chịu nộp đủ. Người ta uể oải tham gia vào Hợp tác xã vì có làm ra nhiều thóc lúa cũng không được hường, vì thế năng suất lao động sụt giảm, ruộng đồng hoang phế. Trong lúc đó lại có cải cách đưa trí thức về nông thôn lao động, vứt bút nghiên thay tay cày cuốc, nông dân thừa đất sẵn sàng cho mượn, nhưng do thiếu kinh nghiệm và nông cụ nên sản xuất đình trệ, mùa màng càng thêm thất bát. Hướng đi sai lầm này sau đó được cải chính, mô hình tập trung hóa và quốc hữu hoá sản xuất cũng bị đánh sập, mở đường cho mô hình kinh tế mới đưa sản xuất đi lên.

Vật lộn với cuộc sống khó khăn, con người càng thêm sáng tạo như lộn cổ áo, đổi ống quần trước ra sau, cuốn xăm cao su vào lốp xe, lộn xích xe đạp … Mỗi gia đình đều tăng gia sản xuất bằng cách nuôi lợn, nuôi gà, nuôi chim cút, làm bia nấu rượu, may vá hay bơm mực bút bi. Thời đó nhà nhà nuôi lợn, người người nuôi lợn, công nhân cũng nuôi lợn mà giáo sư cũng nuôi lợn, tầng trệt nuôi lợn mà tầng cao cũng nuôi lợn. Trong những khu tập thể vỏn vẹn 28m2 như Kim Liên hay Trung Tự, đã có những gia đình 2-3 thế hệ chung sống và chia sẻ không gian chật hẹp để có thể cộng sinh với vật nuôi; đời sống cam go đến mức chồng con có ốm thì uống thuốc còn khỏi chứ “thủ trưởng” lợn mà ốm thì thiệt hại kinh tế không biết đằng nào mà lần! Có vị giáo sư nuôi lợn trên nhà tập thể cao tầng thì nói “Chính lợn nuôi tôi!” – phản ánh thực trạng xã hội khi đó. Ngày ngày người dân xếp hàng mua gạo và thực phẩm thành hàng dài, phải dùng nón lá hay lấy viên gạch viết số sổ lên rồi đặt để xếp hàng thay, sợ nhất đến phiên mình thì hết gạo hay mua được rồi mà gạo lại có mùi ẩm mốc. Nhưng hãi hùng hơn cả chắc là việc mất sổ gạo – mặt buồn như mất sổ gạo là thế, mất rồi chỉ có nước đi vay gạo hàng xóm để đợi hết tháng cấp sổ mới. Lúc đó nhà nào có xe đạp Thống Nhất hay đi xuất khẩu lao động về sắm được xe máy thì thôi rồi là oai! người ta phải chờ đợi để có giấy phép xe đạp, đi lại cẩn trọng kẻo xước sơn thì xót ruột vô cùng! Những cái tên như tivi Nevtuyn, tủ lạnh Saratop, thuốc bổ Philatop … chắc sẽ là chứng nhân hùng hồn cho một thời bao cấp cần kiệm và khan hiếm.

Những nghề sáng giá thời đó phải kể đến nghề con phe (phe tem phiếu). Vì mọi thứ đều phân phối qua kênh mậu dịch thông qua tem phiếu khẩu phần, nên tất yếu xuất hiện việc mua bán tem phiếu, người ta phải mua của con phe để có tem phiếu cho vải vóc, dầu mỡ, lương thực, thậm chỉ nhỏ như cây kim sợi chỉ cũng buộc phải ra cửa hàng nhà nước để mua. Nghề mậu dịch viên nghiễm nhiên lên ngôi vua khi đó, nhà có cô mậu dịch viên thì cả họ được nhờ, hàng xóm thân tình cũng được lộc lây. Có chuyện kể vui tay viết tem phiếu tặng nhau để có thể mua được lạng thịt ngon hay mấy cục xà phòng. Hay nhà nào có người làm thợ điện cũng được trọng vọng bởi chỉ có bác thợ điện giúp thì mới có đường điện tốt mà sinh hoạt. Thời đó nghề giáo viên khốn khó vô cùng, đứng lớp không đủ nên phải làm việc kiếm thêm mà đời sống vẫn bí bách, nhiều người đã phải bỏ nghề, nên mới có câu Chuột chạy cùng sào mới vào Sư phạm. Người ta còn truyền miệng câu chuyện cười ra nước mắt, có bà mẹ vợ than với hàng xóm rằng: “Cứ tưởng nó lấy anh lái xe, ai ngờ nó lấy ông tiến sĩ. Thế có khổ không cơ chứ!”.
Đời sống trong nước là thế, còn những người đi du học hay xuất khẩu lao động trong thời kỳ này cũng phải đối mặt với những khó khăn không kể hết thành lời. Sinh viên đi học hay người đi lao động hợp tác, nhất nhất đều có chung một mối quan tâm là làm sao để lùng kiếm mua được những mặt hàng thiết yếu gửi về cho người nhà: nồi hàm, bàn là, dây maixo, dao cạo râu, phích lưỡng dụng, chậu nhôm, đồ da dụng … hay lớn hơn là tivi, tủ lạnh, máy thu thanh, xe đạp, xe máy … bởi khi đó sở hữu xe đạp Eska của Tiệp Khắc, xe máy Babeta hay Mukich của Đức, tủ lạnh Saratop của Nga là cả một niềm tự hào hãnh diện. Tuy có gian truân vất vả nhưng phần lớn cộng đồng Việt Nam khi đó nhận được sự giúp đỡ của bạn bè XHCN ở Đông Âu, với họ cuộc chiến tranh Vệ Quốc chống phát xít chỉ kéo dài vài năm mà vết thương chiến tranh phải chục năm sau mới khép miệng nên thế hệ người lớn tuổi của họ hiểu và cảm thông hơn với một Việt Nam non trẻ mới giành được độc lập và còn đang thiếu thốn trầm trọng. Viết về cuộc sống những người Việt ở trời Tây giai đoạn này có lẽ xuất sắc nhất là tiểu thuyết Người đưa đường thọt chân của nhà văn Bùi Việt Sỹ (NXB Lao động 2009). Câu chuyện là lời tự sự của anh Thắng, du học sinh Liên Xô thời kỳ đó, về cuộc mưu sinh vật lộn trên xứ người. Truyện lấy ý từ tích dân gian của người bản xứ: có một bộ tộc kia lạc trong sa mạc không tìm được đường ra, mọi người đều nhất trí là ai đưa được bộ tộc thoát khỏi sa mạc sẽ được tôn làm tộc trưởng và có một kẻ láu cá đã tình nguyện dẫn đường. Người ta đi theo hắn nhưng ròng rã nhiều ngày cuối cùng lại quay về chỗ cũ. Khi đó họ mới nhận ra rằng hắn ta là kẻ thọt chân, và như một chiếc compa, hắn đã đưa cả bộ tộc đi 1 vòng sa mạc, nhưng lúc đó thì đã muộn bởi tất cả đều kiệt sức. Còn Thắng sau nhiều lần hụt chuyến đi xuất ngoại vì những lý do không đâu cuối cùng cũng được lựa chọn: một là đi du học 5 năm, hai là ở lại và được phân một căn hộ; Thắng đã lựa chọn được đi với ước mong đổi đời. Ở Liên Xô, thay vì chuyên tâm học hành, hàng ngày anh lăn xả đi lùng kiếm hàng hóa, mua bán đồ cũ kiếm lời – người ta gọi đùa là đi hoạt động cách mạng. Bằng bản lĩnh và tính lỳ lợm can trường, sau nhiều năm Thắng đã tích góp được vốn liếng và hàng hóa để đợi ngày về nước. Trớ trêu thay khi đó Hải quan nước bạn lại thay đổi luật và mỗi người không được mang quá cơ số hàng nhất định. Anh lại bươn chải để quy đổi những thùng hàng của mình thành các đơn hàng với số lượng ít hơn nhưng giá trị cao hơn, nhưng phút chót vẫn không qua được sự xét duyệt của bà đại tái Hải quan mới được bổ nhiệm nên những dương cầm, xe máy, tủ lạnh cỡ lớn buộc phải nộp cho nhà nước Nga. Vậy là sau nhiều năm đi du học, Thắng trở về với vốn liếng dành dụm được đủ mua đúng một căn hộ – quay lại đúng lựa chọn ban đầu, như giai thoại của một kẻ đưa đường thọt chân. Câu chuyện mở ra những cái nhìn gai góc hơn về cơ chế sai lầm thời bao cấp, thay vì cải tiến thì lại cải lùi, đánh tụt sự phát triển của xã hội, lặp lại những khó khăn thiếu thốn của thời trước giải phóng, những tưởng độc lập rồi thì mọi thứ sẽ tươi sáng hơn nhưng một mặt nào đó thì đời sống lại xuống cấp hơn so với trước thời chiến. Tiểu thuyết “Người đưa đường thọt chân” là một tác phẩm độc đáo như thế mà bạn đọc không nên bỏ qua.

Có thể nói, nhắc đến thời bao cấp tuy chỉ cách đây có vài thập niên thôi nhưng chắc người ta không thể mường tượng ra những khó khăn nhường ấy và chắc không ai mong muốn quay lại thời kỳ đó. Nhưng hơn hết, chắc không ai ruồng rẫy quay lưng với quá khứ, thay vào đó là những tiếng nói cảm thông, những tiếng lòng rưng rưng nước mắt. Thời bao cấp là một tất yếu lịch sử – một giai đoạn mà cả dân tộc phải trải qua thời hậu chiến, tuy cam go vất vả nhưng vẫn chứa chan niềm vui làm công dân của một nước độc lập, thiếu thốn trăm bề đấy nhưng là thiếu thốn chung của xã hội, phân hóa giàu nghèo không tồn tại, tình cảm xóm giềng cũng khăng khít bền chặt hơn. Nhắc lại hình ảnh cuộc sống bao cấp như được xem lại những thước phim ký ức thời gian, những người lớn tuổi thời nay thường bùi ngùi, thương cảm nhưng tựu chung lại là cảm giác hạnh phúc nhớ lại một thời họ đã sống hồn nhiên và gắn bó chung tay vượt qua gian khó, vượt qua một cung trầm trong vòng xoay của bánh xe thời gian một cách thần kỳ, như là cổ tích!
————
(Bài viết sử dụng tư liệu Chuyện thời bao cấp của NXB Thông tấn 2007-2009, hình ảnh triển lãm Hà Nội thời bao cấp và tư liệu sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau)
Phần 2: Điểm nhấn văn hoá văn nghệ thời bao cấp.
Ban Minh viet bai nay vua gian di, vua hom hinh vua sau sac. Minh nghe duoc ke nhieu chuyen thoi bao cap vi ca gia dinh minh, tru minh ra ai cung trai qua thoi ky do. The ma moi lan nghe, cu do khoc do cuoi, thuong thay buon thay cho cai thoi gian do. May ma hoi ’83 minh ko phai song trong thoi gian do nhey.
Cảm ơn bạn Hằng ^^ thực ra lứa 80-85 là giai đoạn giao thời, có thể xem là gạch nối, dấu ấn bao cấp tuy ko đậm nét nhưng cũng có trải qua ít nhiều. Đúng là nghe người lớn kể chuyện mà dở khóc dở cười
để tớ phấn đấu viết xong phần 2 và 3 sớm nhất có thể hihi
Mình thích chủ đề mang hơi hướng hoài niệm này, nhất là những tấm hình xưa cũ
Sẽ sớm post phần 2 & 3 chứ? văn hóa văn nghệ là sở trường của Yilka mà, và muốn thấy một chút Yilka trong lòng thời bao cấp nữa! cheers!
Dai gia Minh oi, cai anh chup phong khach nha nao co cai tivi voi tu lanh la anh tu lieu nha anh ah?
Vai lua qua
@ Chandler: ảnh này chụp từ triển lãm HN thời bao cấp đấy, nhưng lúc nhìn nó a cũng choáng váng vì giống nhà a ngày xưa lắm … mà hình như hồi đó nhà ai cũng thế chú ạ … cái tủ lạnh Saratop, cái TV đen trắng, cái đèn dầu, rồi con lật đật đặt trong tủ kính (biểu trưng những gia đình có người thân đã từng đi Liên Xô), bộ tách loại lớn viền vàng (cũng là người đi Liên Xô về cho thôi, vì loại tách này nước ngoài uống trà hay cà phê, còn VN mình hồi đó chưa có gì để dùng thích hợp nên nhà nào cũng cho vào trong tủ ly), bộ bàn ghế với ấm trà đựng trong khay men trắng … a chỉ nhớ được mang máng, hơn 20 năm rồi còn gì, mà ngày đó còn bé, biết thế mà chưa hiểu sự nhiều ^^
Trước đây Tuổi trẻ có loạt bài Đêm trước đổi mới
phóng sự
sinh sự
Còn phải nhắc đến hai từ “quốc doanh”, với những câu thơ để đời như “Cà rem quốc doanh, ở giữa đậu xanh, xung quanh …, ăn vô trúng gió …” Chắc phải để qua phần 2 nhỉ
Loạt bài đó em cũng đã đọc qua, rất thú vị, kiểu “Một đêm oánh sập chợ trời” hay “Đổ than theo đúng chỉ tiêu”, chỉ có nhà ta là sáng tạo thế thui
Phần 2 em đang viết, sẽ đề cập đến văn nghệ văn gừng nhiều hơn
Chà. Trình độ viết lách cũng như sự uyên thâm văn-kinh sử của đại ca Minh vãi lều thật
he he. Tiếp tục đi đại ca. he he
Bài viết rất hay, được viết dưới con mắt khách quan và tôn trọng lịch sử ! Bạn yilka mau cho ra lò phần tiếp theo nhé
Có cái film tài liệu “HN trong mắt ai” của Trần Xuân Thủy chắc bác Minh cũng xem rồi. Mặc dù không phải để nói đến thời bao cấp này nhưng cũng có nhiều điều thú vị và liên tưởng “đặc biệt” trong thời này.
http://video.google.com/videoplay?docid=-1283363211854105058#
@ Srn: phim “Hà Nội trong mắt ai” thì chắc chắn là ko ai bỏ qua được rùi ^^ anh có sử dụng tư liệu của phim này để viết phần 2
Thế YILKA có phải xếp hàng từ 5 giờ sáng mua gạo, khoai, sắn lát, bo bo, bột mì về sàn đãi sạn để mà ăn hoặc phải xay sát cho hạt gạo trắng tinh rồi cám cho gà, heo ăn ??? đấy là hình ảnh đặc trưng thời bao cấp
Cho mình vác bài này về blog cá nhân nhé..
cho mfinh xin bài này nhé
Hi bạn Kickbu và Minh Vũ, mình ko phản đối các bạn trích đăng bài này về blog cá nhân, chỉ cần các bạn giữ link về blog gốc của mình là được. Cheers!
[...] sơ suất” (Bee) - Nhà báo tự do Tạ Phong Tần (RFA) GÓC NHÌN – Như là cổ tích (Phần 1 – Phần 2) một bài viết cũ của blogger còn khá trẻ Ngô Quang Minh viết về [...]
Tôi từng nghe người dìu dắt tôi trên đường công danh nói: “Dân mình tốt lắm!”
Đọc bài của bạn thấy thật thấm.
Bác cho tôi cop về máy và sử dụng được không!
Hi bạn mrjo,
Rất vui nếu bạn đọc bài và thấy những điểm nào đó tương đồng, bạn cứ copy và sử dụng, nếu bạn có trích đăng lại ở nơi khác xin vui lòng để nguồn giùm mình. Cảm ơn bạn.
À, dân mình tốt lắm, vì dân mình chiến tranh loạn lạc nhiều quá, mất mát nhiều quá rồi, nghiệm ra rằng nên sống tốt để cuộc đời thanh thản hơn. Mong rằng điều đó sẽ luôn còn mãi