Bảo Ninh và những ký ức chiến tranh

Bao Ninh34 năm sau giải phóng khi chiến hào đã im tiếng súng, những người lính dấn thân nơi lửa đạn giờ chắc đã đều luống tuổi, những thế hệ vào sinh ra tử của một thời được tái hiện lại rất nhiều trong văn học qua ngòi bút những nhà văn tên tuổi như Nguyên Ngọc, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Minh Châu, Chu Lai, Nguyễn Quang Sáng … nhưng nổi bật lên một phong cách khác lạ, một cách rất riêng để tiếp cận chủ nghĩa anh hùng cá nhân cũng như khắc họa những năm tháng vinh quang, khổ đau bất tận đó thì phải nhắc đến nhà văn Bảo Ninh. Có thể nói không quá rằng ông là người viết về chiến tranh, viết về cuộc sống và những năm tháng chiến đấu của người lính, viết về kẻ thù bên kia chiến tuyến, và viết về những khó khăn cuộc sống hậu phương khi đất nước chia cắt một cách sâu sắc nhất, cảm động nhất, để lại nhiều ấn tượng nhất trong lòng người đọc. Những điều ông viết có thể xem như một sự tri ân cho những cuộc đời mà tuổi trẻ của họ đã kinh qua dấu ấn thời đại của dân tộc, dấu ấn mà sau này dù có nỗi khổ nào của ngày hôm nay cũng không sánh bằng những đau khổ đã trải qua và trái lại, mai đây dù được sống sung sướng tới thế nào cũng chẳng hạnh phúc nào bằng hạnh phúc ngày đã qua.

Noi buon chien tranhNhà văn Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, từng chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên năm 1969 cho đến ngày hòa bình lập lại. Ông học khóa II Trường Viết văn Nguyễn Du, hiện nay công tác tại báo Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam và Văn nghệ Trẻ; ông được văn đàn biết đến sau truyện ngắn Trại bảy chú lùn in năm 1987, nhưng chỉ thực sự tạo ra làn sóng phê bình khen chê với tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh (1991). Trước đó ‘Nỗi buồn chiến tranh’ được biết đến với tên Thân phận tình yêu, sau được dịch ra tiếng Anh The Sorrow of War.

Phải chăng người ta đón nhận văn ông bởi ‘nỗi buồn’ mà nó mang? Không phải! hay bởi hình tượng người lính trong văn ông cao đẹp và lãng mạn? Cũng không phải! Văn của Bảo Ninh đi vào lòng người đọc vì những ký ức chiến tranh mà ông viết là khách quan, là những gì mà cái tôi đã và sẽ lên tiếng trong giai đoạn chỉ ‘chúng tôi’ – ‘chúng ta’ là những điều người ta muốn nghe, là những xúc cảm rất đời khi ai đó được trải qua đỉnh cao vinh quang và cả tột cùng cay đắng, là sự trình bày lắng đọng nhất của một người đã từng cùng vạn người nếm vị mặn của lệ chiến tranh.

Lan man trong luc ket xeNgoài tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh đoạt giải thưởng Hội nhà văn, các tác phẩm của ông chủ yếu là truyện ngắn, có những truyện cực kỳ đặc sắc như: Hà Nội lúc không giờ, Khắc dấu mạn thuyền, Vô cùng xưa cũ, Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng, Ba lẻ một, Thách đấu … với phong cách viết cô đọng và những khúc vĩ thanh đầy cuốn hút. Gần đây nhất 2008, Văn Mới xuất bản cuốn Lan man trong lúc kẹt xe tuyển tập các tác phẩm chọn lọc của ông.

Trong văn của Bảo Ninh, người ta tìm thấy những phút giây hạnh phúc đầy kỷ niệm của người lính, ngắn ngủi thôi nhưng sẽ theo họ đi suốt cuộc đời. Những tình cảm đó đến bất chợt nhưng ấn tượng nó để lại thì còn mãi theo thời gian. Người ta thấy ở đây một sự đồng điệu với hình tượng sợi chỉ xanh óng ánh trong văn của Nguyễn Minh Châu. Bảo Ninh viết trong Giang – câu chuyện về cuộc gặp gỡ tình cờ của anh lính trẻ và cô con gái Tham mưu trưởng đêm trước khi về đơn vị:

Chiến tranh, đời lính, tuổi trẻ, mọi sự là như thế, chỉ thế thôi, thoảng nhanh. Thoảng nhanh nhưng không tắt lịm. Chỉ thế thôi nhưng để rồi sau này cứ nhớ mãi. Trở thành nỗi đau. Những nỗi đau mất mát âm thầm.

Chắc là bây giờ Nhật Giang vẫn còn nhớ đến tôi, người lính trẻ vô danh hơn ba chục năm về trước. Tôi thì không bao giờ quên cô ấy, mặc dù thực ra là có gì đâu một tình cờ như thế, một gặp gỡ vẩn vơ, lưu luyến mơ hồ gần như không có thật mà năm tháng cuộc đời cứ mãi chồng chất lên muốn xóa nhòa.

Hay lãng mạn hơn và cũng đầy nuối tiếc hơn là cuộc hẹn ước hư ảo của cô gái và người lính quen nhau khi cùng trú bom, chàng trai sau này không tìm được nhà của cô nữa bởi anh chỉ nhớ được nơi đó ở gần ga và có đoàn tàu điện đỗ; đến khi ban mai, nghe tiếng còi tàu anh mới sực tỉnh và chết lặng khi biết mình đã mất dấu. Bóng dáng thân yêu kỷ niệm đó vẫn theo người lính cho đến những ngày trở về trong hòa bình:

… Trở về sau chiến tranh, khi họa hoằn có dịp nào qua Hà Nội thì tôi vẫn chỉ một lối mòn xe điện ấy để đi. Cứ như thế thôi, chẳng phải để tìm thấy một cái gì, cũng chẳng phải là để đi đến đâu. Lần gần đây nhất xuống ga Hàng Cỏ, tôi mất dấu con đường mòn. Hà Nội đã xóa bỏ tầu điện. Phố xá huy hoàng. Nhà cửa đẹp đẽ. Đời sống sung sướng… Có lẽ đến một ngày nào đó, người ta khó có thể hình dung nổi đã có thời tồn tại chính trên xứ sở tươi đẹp này những cảnh tượng đại loại như cảnh tượng tôi từng thấy hai chục năm về trước, khi tôi còn rất trẻ.

(trích Khắc dấu mạn thuyền)

xetang

Nhưng cũng có những sự tình cờ hội ngộ đẹp đến kỳ lạ như trong Ba lẻ một – câu chuyện về người chiến sĩ xe tăng hơn 20 năm đi tìm đồng đội, tình cờ trở lại thành phố Nhà Trang, vào lại điểm dừng chân ngày xưa trên đường hành quân:

Và như thế là đã hai chục năm trời rồi theo đuổi vô vọng cho tới buổi chiều hôm ấy. Chẳng phải sự tình cờ, mà là một sự run rủi tuyệt vời của định mệnh đã khiến tôi bước vào vườn cây lêkima bên bờ biển Khánh Hoà. Cuộc đời có hậu đã cho tôi, một số phận lẻ một, khi đã luống tuổi, lúc đã xế tà vẫn còn ruổi kịp đà tiến công vũ bão của thời thanh xuân để gặp lại được số phận chung bốn anh em.

Chiều hôm ấy, trước bức ảnh xe tăng 301, người thiếu nữ năm xưa, vụt sống lại với buổi bình minh của đời mình, đã không cầm được nước mắt. Và tôi cũng vậy, sau hai chục năm trời, lệ chiến tranh lại tràn mi.

Bảo Ninh trải lòng mình trong trang viết khi hồi tưởng lại những tháng năm tuyển quân đi nghĩa vụ của lớp người con ưu tú:

sorrow_of_warMà thật ra, nào phải là tôi, thật ra là nhân dân, nhân dân muôn thuở dịu hiền, muôn thuở cầu ước sống bình yên, đã âm thầm cảm thấu con sóng thời đại mới đang ập thẳng tới bến bờ Tổ quốc tôi. Một thời đại lớn lao và nghiệt ngã chưa từng có. Thời của chiến tranh và của cách mạng lay trời, thời của những đau thương vô hạn, những mất mát vô bờ, thời của chủ nghĩa anh hùng tuyệt đỉnh, của sức chịu đựng vô cùng, thời của tình yêu và của lòng quả cảm. Và từ họa sĩ Năm Tín, từ anh Trung, nhất là từ bà mẹ anh, từ chị Giang, những người đàn bà mềm yếu và nhân từ, thân thương hiền dịu của ngôi nhà số bốn, linh cảm về số phận sắp tới của dân tộc đã truyền vào trái tim tôi, làm xoay chuyển cuộc đời tôi ngay từ khi tôi chưa kịp bước hẳn vào đời. Đối với tôi, thời thơ ấu êm ả và tươi đẹp thế là đã vĩnh viễn và dữ dội ra đi vào chính cái buổi chiều mùa xuân êm ả và tươi đẹp đầu năm Giáp Thìn ấy.

(trích Hà Nội lúc không giờ)

Đó là những điều Bảo Ninh ghi nhận được của cuộc đời lính khi còn rất trẻ, thế còn khi họ đã bên kia triền dốc, đã giải ngũ và về với đời thường thì ra sao? Ông đã mở đầu trong Rửa tay gác kiếm:

sorrow_of_warTôi lặn lội kiếm sống, trải nhiều nghề, rốt cuộc thành nhà văn, song văn chương gì tôi, viết lách đã chẳng bao nhiêu lại chẳng ra thế nào, chỉ tổ ngày một thêm lạc lõng và ngày một thêm bơ phờ. Thời gian và cuộc sống nhấn chìm tôi.

Nếu như được phép làm lại nhỉ. Biết làm lại từ đâu. Quá khứ lúc mờ lúc tỏ. Bãi bể nương dâu vật đổi sao dời đã lấp mất lối tôi về với chí lớn năm xưa, với thời trai trẻ vinh quang, với cuộc đấu tranh gian khổ. Hơi hướng bao năm dài trận mạc chẳng còn tăm tích. Ngay đến những kỷ vật quân ngũ cũng theo nhau mất dần. Ba lô, tăng võng, hai bộ Tô Châu, một đôi dép đúc, chiếc mũ tai bèo, rồi sổ quân bạ, giấy chứng thương, thư từ, nhật ký. Tất cả đã mai một. Không phải là do tôi để thất lạc mà bởi nỗi người lính chiến trong tôi không còn trong tôi nữa.

Anh em đồng đội kiến giả nhất phận, hàng năm trời không lần sum họp, không khỏi quên dần mất nhau … Nhưng dần dần cái thói phàm tục của đời sống thị thành thản nhiên và tàn tệ này đã khiến tôi không còn muốn xích gần tới với bất kỳ ai … Từng sát cánh bên nhau, sống chết có nhau một thời như vậy mà giữa cuộc bon chen kịch liệt hôm nay lắm lúc giáp mặt chạm vai chẳng chào.

Thấp thoáng trong văn của Bảo Ninh người ta còn thấy những niềm vui ý nhị về cuộc sống những năm bao cấp, bỡn cợt đấy mà thực thà làm sao

Xe máy hiếm tới nỗi cha tôi từ khi có xe đã luôn luôn phải dừng ở các ngã tư để trình giấy. Đỗ xe ở đâu cũng kín nghịt người vây xung quanh. Hiếm tới nỗi, phiếu xăng phải có chữ ký của ông chủ tịch thành phố, và phải sang tận kho Đức Giang bên tả ngạn sông Đuống để mua theo tiêu chuẩn. Hiếm tới nỗi, sau khi cha phải bán xe đi rồi, hàng năm sau tôi vẫn nhận ra nó trên phố, nó quá nổi bật, quá sang trọng, quá lạ lùng gần như là một niềm kinh dị.

… Có thể nói ngày nay hình ảnh chiếc xe máy đang lách chạy và lấn chen trên phố là hình ảnh của một đại nghịch lý, tuy nhiên là một nghịch lý thú vị, thậm chí dễ thương và đáng yêu nữa trong cái đời sống mưu sinh dày đặc nghịch lý và vô vàn sắc mầu, vô cùng tươi vui chộn rộn của chúng ta hôm nay. Dù sao thì cảnh tượng Hà Nội, Sài Gòn cuồn cuộn xe máy vẫn là hết sức độc đáo đối với cả thế giới, vẫn là khung cảnh một đời sống tràn trề sinh lực và rất ưa nhìn. Dù sao thì chật ních xe máy vẫn hơn là sự trống huyếch trống hoác của thời buổi nghèo nàn bấn bách những năm xưa. Chỉ tiếc rằng thời của xe máy tiếng vậy nhưng mà cũng sắp kết thúc, sắp qua đi mất rồi.

(trích Thời của xe máy)

Xe may Viet Nam

Bảo Ninh làm người viết nhớ đến chuyện của chính gia đình mình xoay quanh những chiếc xe Babétnhè, Cá vàng, Cúp 82, DD đỏ, Dream lùn, Dream cao … mà không khỏi tự mỉm cười thú vị và chắc Bảo Ninh cũng sẽ thấy vui hơn khi biết thời của xe máy còn lâu nữa mới qua đi, cho dù thời của ôtô đội giá và xe cũ nhập siêu đã mở màn và đang lên cao trào

Trong cảm nhận tâm tư, Hà Nội với Bảo Ninh luôn giàu nữ tình, nồng nàn, nhạy cảm (trích Vô cũng xưa cũ), còn Sài Gòn là trung tâm của giấc mơ lớn lao, đoạn trường của bao nhiêu thế hệ (trích Đêm cuối cùng ngày đầu tiên), còn thế hệ Việt Nam thì tất cả đều còn rất son trẻ, trong trắng và chân thành (trích Nỗi buồn chiến tranh). Viết về đất nước mình, đồng đội mình là thế, vậy còn những người phía bên kia chiến tuyến thì ông nhìn nhận ra sao? Không bênh vực, cũng không đánh đồng, chỉ giản đơn như một sự trình bày những điều tai nghe mắt thấy, Bảo Ninh ghi lại trong Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng thông qua cảm xúc của một người Việt Nam được nước Pháp ngày nay coi là một người bạn Pháp – một chứng nhân của thời gian, đã chứng kiến nước Pháp bảo hộ trở thành kẻ thực dân xâm lược ra sao, rồi lại trở thành những người bạn của Việt Nam trong hòa bình thế nào. Nhân vật ông già trong truyện đã mất thăng bằng trong sự xô đẩy của thời cuộc, chỉ nhớ được tiếng vĩ cầm của cô thiếu nữ người Pháp xinh đẹp, dịu hiền với đôi mắt mù sáng trong, và nhớ được giai điệu bài hát tuổi trẻ của mình: Đời tôi có hai mối tình: Quê hương tôi và Paris. Đây cũng là câu chuyện tâm đắc nhất của người viết trong các truyện ngắn của nhà văn Bảo Ninh

war_and_peace_djborap

Thay cho lời kết, người viết xin trích kết thúc truyện Cái búng của Bảo Ninh bởi thấy đồng cảm với ông khi ông viết:

Và tôi nghĩ chẳng riêng tôi, bạn cũng vậy thôi, thỉnh thoảng bạn vẫn vướng phải những chuyện mà người khác chẳng buồn để tâm nhưng bạn lại xúc động sâu xa, bạn không thể quên, như là một vết tự thương cứa sâu vào lòng, khó bề chữa khỏi. Ấy là những nỗi đau vô cớ, những bất hạnh mơ hồ, những đắng cay chua xót không đâu, những nỗi nhục, những mặc cảm không có duyên do, không tài nào ai hiểu nổi vẫn thường đầy rẫy trong cuộc đời mỗi người.

… phải chăng điều đó thôi thúc cho bài viết này ra đời như một lời cảm tạ nhà văn Bảo Ninh, cảm ơn những ký ức chiến tranh sống động ông để lại trong những câu chuyện của mình chắc chắn sẽ không phai nhòa theo năm tháng, nhắc nhở niềm tự hào có một thế hệ Việt Nam đã trưởng thành lên trong hầm trú ẩn và làm nên ý nghĩa của cuộc đời trong trận mạc.

***

Một số truyện ngắn và tiểu thuyết của nhà văn Bảo Ninh có thể tìm đọc ở Việt Nam thư quán. Bài viết có sử dụng tư liệu trích dẫn từ các tác phẩm của ông như đã nêu.

Article ends here, perhaps you want to share it!

Related Posts:

♣ ♣ ♣ ♣ ♣

Leave a Reply

(with your Gravatar, perhaps)

                             

Bộ gõ AVIM-Reloaded