Ôm ấp đã lâu nay nhân hứng đọc lại đôi câu tuyệt cú của Chu Thần Cao Bá Quát nên mạo muội tản mạn đôi dòng về văn nhân cũng như hoa mai đất Việt ![]()
Cao Bá Quát tự là Chu Thần, quê Bắc Ninh, sinh vào thế kỷ 19 nhằm thời Minh Mạng – Tự Đức triều Nguyễn, là người thông minh từ nhỏ, thơ văn điêu luyện, lại sống khí phách, khẳng khái. Tâm hồn thơ ông bao trùm đất nước dân tộc, lại vừa mang nét nho nhã thanh toa. Ông đã từng tự ví von: Trong thiên hạ có bốn bồ chữ, mình tôi chiếm hai bồ, anh tôi và bạn tôi, Nguyễn Văn Siêu, chiếm một bồ, còn bồ thứ tư chia cho mọi kẻ khác ![]()
Giai thoại kể ông làm việc ở Viện Hàn Lâm, có lần được xem những bài thơ của “Mạc Vân thi xã” đã lắc đầu, bịt mũi ngâm:
Ngán thay cái mũi vô duyên
Câu thơ thi xã con thuyền Nghệ An
(Vần thơ của thi xã như mùi thuyền chở nước mắm Nghệ An).
Nhưng nhân tài vốn trọng nhân tài, hai vị công khanh đứng đầu Mạc Vân thi xã là Tùng Thiện Công, Tuy Lữ Công chẳng những không giận mà còn nhún mình đến kết giao với Cao Bá Quát và mời ông ra nhập. Chẳng thế mà sau này vua Tự Đức tấm tắc phóng bút khen tứ tài cự phách của thi xá Mạc Vân là:
Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán
Thi đáo Tùng, Tuy thất thánh Đường
(Văn của Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát có thể hơn thời tiền Hán, thơ của Tùng Thiện Vương, Tuy Lữ Vương lấn át ngay cả thơ đời thánh Đường). Còn dân gian thì xưng tôn các ông là Thần Siêu, Thánh Quát.
Thơ văn ông để lại cho đời không được nhiều vì sau này Cao Bá Quát khởi nghĩa chống triều đình do thấy nhân dân sống lầm than cơ cực nhưng cuộc khởi nghĩa bị dập tắt, ông lâm trận hy sinh. Vua Tự Đức bắt đốt hết tác phẩm của ông và cấm lưu truyền thơ văn Cao Bá Quát. Người viết nhớ 1 đôi câu đối ngày xuân ông viết rất hay:
Thiên thiên tuế nguyệt nhân thiêm Thọ,
Xuân mãn càn khôn, phúc mãn Ðường.
(Trời thêm năm tháng, người thêm thọ,
Xuân khắp non sông, phúc chật nhà.)
Nhưng có lẽ đôi câu thơ thần của Cao Bá Quát mà ai cũng một lần từng thích thú phải là:
Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa
(Mười năm giao du tìm gươm báu
Một đời chỉ cúi lạy hoa mai)
Người ta ngâm ngợi thưởng thức câu thơ của ông và cả hình ảnh quân tử – hoa mai trong câu thơ của ông hơn trăm năm nay và ai cũng đều cảm khái khí phách của Cao Bá Quát, cái khí phách đã bỏ kiếm cung theo việc văn chương, giữ cốt cách quân tử mà coi khinh cường quyền, chỉ nghiêng mình trước cái đẹp của đất trời nước Nam.
Trước ông và sau ông, đã nghìn năm nay người ta thi hóa hình ảnh hoa mai âu cũng có căn nguyên. Không như cây sầu đông ngoài tươi trong héo, mai hoa cũng tương phản nhưng theo hướng ngược lại: thân gầy guộc, lá mỏng manh, nhưng lại mang hương thơm dịu dàng, thanh khiết, và luôn kiêu dũng để vượt mưa gió sương hàn mùa đông đơm hoa kết nụ đúng khi xuân về. Đó chính là sự hòa hợp giữa chữ Nhẫn và chữ Dũng vậy
Người xưa tôn hoa mai ngày xuân là bách hoa khôi. Đứng chung với Tùng và Trúc, Mai làm thành bộ “tam hữu”. Điều này bắt nguồn từ sách Luận ngữ: “Ích giả tam hữu: hữu trực, hữu lượng, hữu đa văn” (Bạn có ích gồm ba hạng: ngay thẳng, rộng lượng, và hiểu biết nhiều), ứng hợp với ba loại cây: Ngự sử mai, Trượng phu tùng, và Quân tử trúc. Ngoài ra, mai còn được kết hợp với lan, cúc, và trúc thành bộ Tứ Quý để biểu tượng cho bốn mùa luân chuyển đất trời là Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Họ hoa mai cũng có muôn dạng: hoàng mai, bạch mai, hồng mai, thanh mai, mai tứ quý (nhị độ mai – hoa mai nở 2 lần), song mai (hoa trắng kết trái từng đôi), nhất chi mai, mai mơ, mai chiếu thủy (hoa luôn mọc hướng xuống) … Mai quý là thế nên không lạ là có ngàn vạn bài thơ sáng tác lấy hình ảnh hoa mai 

Đời Đường tả hoa mai:
Khứ tuế Kinh Nam mai tự tuyết
Kim niên Kế Bắc tuyết như mai
(Năm ngoái ở Nam Kinh, hoa mai trắng như tuyết
Năm nay ở Bắc Kinh, tuyết trắng như hoa mai)
Còn thi nhân đời Tống thì so mai với tuyết theo góc độ khác:
Mai tu tốn tuyết tam phân bạch
Tuyết khước thâu Mai nhất đoạn hương
(Mai thua tuyết trắng vài phân
Hương thơm tuyết lại có phần thua mai)
Phật Thơ Vương Duy thì viết:
Quân tự cố hương lai
Ung tri cố hương sự
Lai nhật ỷ song tiền
Hàn mai trước hoa vị
(Người từ quê cũ đến
Hẳn biết chuyện quê nhà
Ngày đi qua trước cửa
Thấy Hàn Mai nở không?)
Ý chỉ thân cô đất khách được gặp đồng hương lại không vội hỏi thăm chuyện quê cũ mà chỉ nhớ đến một gốc mai xưa!
Vương Kỳ (thi nhân đời Tống) thì mong ước cuộc sống của mình được thanh nhã như hoa mai:
Bất thụ trần ai bán điểm sâm
Trúc ly mao xá tự can tâm
Chỉ nhân ngộ thức Lâm hoà tịnh
Nhược đắc thi nhân thuyết đáo câm
(Một chút bụi trần chẳng vấn vương
Rào tre, nhà cỏ chịu tầm thường
Vợ mai con hạc, mong người hiểu
Thanh nhã đời nay vẫn nhắc luôn)
Tuy nhiên thưởng mai không phải việc dễ:
Vượt cõi trần lao việc chẳng thường
Đầu dây nắm chặt giữ lập trường
Chẳng phải một phen xương lạnh buốt
Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương.
Còn thi hào Nguyễn Trãi thì thưởng hoa theo cách của riêng ông:
Hái cúc, ương lan, hương bén áo
Tìm mai, đạp nguyệt, tuyết xâm khăn
hay:
Quét trúc, bước qua lòng suối
Thưởng mai, về đạp bóng trăng
Nguyễn Du thì có thơ rằng:
Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ, hạc là người quen
Chắc bạn đọc đọc đến đây sẽ nhớ lại bài kệ “Cáo tật thị chúng” đầy hàm súc của Mãn Giác Thiền Sư lấy tứ từ hoa mai:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
(Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng tưởng Xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai) – (Ngô Tất Tố dịch)
Cuộc đời là một dòng chảy không ngừng biến chuyển, vạn vật có sinh có diệt, đời người có sinh lão bệnh tử; tuy nhiên, có một cái bởi không sinh nên sẽ không diệt. Đó chính là bản lai diện mục, là pháp gốc mỗi người chúng ta. Cái Tâm ẩn dụ đó cũng như như cành mai mọc bên ngoài dòng sinh tử vô thường của thời gian và nở bên ngoài quy luật bể dâu của vũ trụ. Người ta nên như nhành mai kia: an nhiên tự tại khi đối diện với sinh tử vô thường của tạo hóa, với cái được thua còn mất của kiếp người.

Cùng chung ý tưởng, thi nhân Trung Quốc viết về cái ngộ trong tâm:
Tận nhật tầm xuân bất kiến xuân
Mang hài đạp phá lãnh đầu vân
Quy lai khước quá mai hoa hạ
Xuân tại chi đầu dĩ thập phân
(Ni sư đi hài cỏ trèo đèo vượt núi,
Cực khổ tìm Xuân suốt bao ngày
Đến khi không gặp về nhà cũ
Mới thấy Xuân hiện trên cành mai)
Làm sao tìm được mai trong vườn nhà khi xuân đã tàn? Cành mai ấy là cành mai trong Tâm mà thôi, cũng như cành mai khai nở trong tâm an nhiên mà Mãn Giác thiền sư đã viết!
Truyện về mai chưa hết … Sách xưa chép tích Hồ Quý Ly vì câu thơ hoa mai mà được vua Trần gả vợ mới thật là kỳ thú. Khi vua Trần ngự điện có ra vế đối: Thanh Thử điện tiền thiên thụ quế. Hồ Quý Ly nhớ lại câu thơ ông biết thủa hàn vi bèn đọc luôn: Quảng Hàn cung lý Nhất Chi Mai
Cả hai câu ghép lại thành hai vế đối nhau rất chỉnh.
Thanh Thử điện kia ngàn gốc quế
Quảng Hàn cung nọ một cành mai.
Kinh ngạc hơn là vua có một công chúa đặt tên là Nhất Chi Mai luôn ở trong cung cấm mà chưa từng ra ngoài. Truyện lạ duyên trời, vua gả công chúa Nhất Chi Mai cho ông. Chính bà sau này sinh cho Hồ Quý Ly 2 người con tài ba là Hồ Nguyên Trừng và Hồ Hán Thương ![]()

Xưa đã hay, nay càng không kém
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo ngày còn ở Huế, Xuân nọ đi thấy các sư đang bán cành mai Tết, lòng xao xuyến:
Huế đẹp đã đành xa xôi lắm
Bỗng gặp mai vàng nở chòng vai
Có ông sư trẻ chừng muốn bán
Hoa Tết vườn chùa một nhành mai.
Nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng ở Quy Nhơn lên thăm di tích thành Đồ Bàn của người Chăm đã bồi hồi trước phố cũ hoa vàng:
Ai lên phố cũ hoa vàng
Cung thành xe ngựa dặm đàng dư ba
Nhà thơ Xuân Hoàng thì chiêm nghiệm:
Bỗng một ngày Xuân một khách thơ
Gặp mai trong núi ngẩn ngơ chờ
Mai vàng đến dộ ươm nên hát
Mang giống về xuôi tự bấy giờ
Nguyễn Đình Chiểu thời trẻ học ở Kim Long (Huế) có câu thơ rất hay về hoa mai vàng:
Hữu tình thay ngọn gió đông
Cành mai nở nhuỵ lá tòng reo vang
Thi sĩ Hồ Chí Minh trong 1 lần lên núi đã làm bài thơ tứ tuyệt ‘Đăng Sơn’:
Lục nguyệt nhị thập tứ
Thướng đáo thử sơn lai
Cử đầu hồng nhật cận
Đối ngạn nhất chi mai.
(Hai mươi tư tháng sáu
Lên ngọn núi này chơi
Ngẩng đầu mặt trời đỏ
Bên suối một nhành mai) – (Tố Hữu dịch)
Cũng là một cành mai, nhưng lại này nằm trên đỉnh núi cao chót vót, hướng về mặt trời, nên trong mắt người lên núi nó cũng ngạo nghễ như mặt trời vậy.
Riêng Nguyễn Bính đã thi vị hoá thành hình ảnh cây hoa mai để nói về nơi có nhà người con gái ông yêu:
Nhà em ở dưới cây mai trắng
Bên cụm mai vàng dưới Đế kinh
Cây mai trắng là phố Bạch Mai, cụm mai vàng là phố Hoàng Mai, còn Đế kinh chính là…Phố Huế
Câu thơ quả là để đời ^^
—-
Đôi dòng hữu ý, tản mạn lại quá dài, người viết xin dừng lời. Bài viết có sử dụng tư liệu sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau nên chưa kịp đề cập đầy đủ, mong đọc giả lượng thứ ![]()
Lâu rồi mới thấy bác update blog.
Nhặt sạn tẹo:
1. Tùng Thiện Vương (Miên Thẩm), Tuy Lý Vương (Miên Trinh)
“Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán”
“Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường”
2. Công chúa Nhất Chi Mai sinh ra Hồ Hán Thương, Hồ Nguyên Trừng là con của người vợ khác. Phải chăng Hồ Quý Ly yêu Hồ Hán Thương hơn vì Hồ Hán Thương là giọt máu của ông và công chúa Nhất Chi Mai?
3. Có một đôi câu thơ khác có hoa mai mà tôi thích của Thượng tướng, Thái sư Trần Quang Khải:
“Khách thơ về, tóc điểm bông
Mừng nhau mai nở trắng dòng sông xưa”
4. Hồi Tết Kỷ Sửu năm nay tôi cũng định chắp bút viết về Tuổi trẻ và Hoa mai, nhưng bận quá, chưa có thời gian thì bác đã viết rồi.
…
Chúc vui vẻ & mạnh khỏe.
dtp
Cảm ơn bác nhặt sạn giùm, viết về hoa mai chắc chắn là ko bao giờ vẹn cả, luôn cần nhờ anh em vào giúp đỡ nhiều
Truyện về Hồ Quý Ly thì tui có biết ông ý yêu Hán Thương hơn nhiều, và cũng nhường ngôi cho Hán Thương (tuy vẫn đứng sau chấp chính). Quý Ly là 1 nhân vật tài ba lỗi lạc mà tui rất thích, đang muốn sớm viết 1 bài về ông ý
Bác chắc là bận rộn lắm, làm ăn ngon lành và giữ gìn sức khỏe hihi, còn chủ đề về ‘Tuổi trẻ’ đang chờ bác đấy
Bác viết đi. Tôi cũng rất thích Hồ Quý Ly. Một nhân vật tài ba ngang hàng (?) Trần Thủ Độ!
Cảnh buồn người có vui đâu bao giờ!
Xuất sắc