Câu chuyện của cuộc chiến xâm lược Trung Quốc vào biên giới Việt Nam ngày 17 tháng 2 năm 1979, một buổi sáng không thể quên cho dù 30 năm đã đi qua.
———–
(Bài viết này xin được chép nguyên văn từ blog Osin, chủ nhân blog chắc cũng sẽ cảm thông mà nguyên lượng cho sự đường đột này)
Biên Giới Tháng Hai (2009-1979)
Tháng Hai, những cây đào cổ thụ trước cổng đồn biên phòng Lũng Cú, Hà Giang, vẫn chưa có đủ hơi ấm để đâm hoa; những khúc quanh trên đèo Tài Hồ Sìn, Cao Bằng, vẫn mịt mù trong sương núi. Sáng 7-2 nắng lạnh, vợ chồng ông Nguyễn Văn Quế, 82 tuổi, nhà ở khối Trần Quang Khải 1, thị xã Lạng Sơn, ngồi co ro kể lại cái chết 30 năm trước của con trai mình, anh Nguyễn Văn Đài. Năm ấy, Đài 22 tuổi. Ông Quế nói: “Để ghi nhớ ngày ấy, chúng tôi lấy Dương lịch, 17-2, làm đám giỗ cho con”. Năm 1979, vào lúc 5giờ 25 phút sáng ngày 17-2, Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, đánh chiếm từ Phong Thổ, Lai Châu, tới địa đầu Móng Cái.
“Những đôi mắt”
Hôm ấy, ông Quế không có nhà, vợ ông, bà Dự, bị dựng dậy khi bên ngoài trời hãy còn rất tối. Bà nghe tiếng pháo chát chúa ở hướng Đồng Đăng và phía dốc Chóp Chài, Lạng Sơn. Bà Dự đánh thức các con dậy, rồi 4 mẹ con dắt díu nhau chạy về xuôi. Tới ki-lô-mét số 10, đã quá trưa, bà rụng rời khi hay tin, anh Đài đã bị quân Trung Quốc giết chết. Anh Đài là công nhân đường sắt, thời điểm ấy, các anh đương nhiên trở thành tự vệ bảo vệ đoạn đường sắt ở Hữu Nghị Quan. Anh em công nhân trong đội của Đài bị giết gần hết ngay từ sáng sớm. Đài thuộc trong số 3 người kịp chạy về phía sau, nhưng tới địa bàn xã Thanh Hòa thì lại gặp Trung Quốc, thêm 2 người bị giết. Người sống sót duy nhất đã báo tin cho bà Dự, mẹ Đài.
Cùng thời gian ấy, ở bên núi Trà Lĩnh, Cao Bằng, chị Vương Thị Mai Hoa, một giáo viên cấp II, người Tày, mới ra trường, cũng bị giật dậy lúc nửa đêm rồi theo bà con chạy vào hang Phịa Khóa. Hàng trăm dân làng trú trong hang khi pháo Trung Quốc gầm rú ở bên ngoài, rồi lại gồng gánh theo nhau vào phía Lũng Pùa, chạy giặc. Chị Hoa không bao giờ có thể quên “từng đôi mắt” của dòng người gồng gánh ấy. Giờ đây, ngồi trong một cửa hàng bán băng đĩa trên phố Kim Đồng, thị xã Cao Bằng, chị Hoa nhớ lại: “Năm ấy, tôi 20 tuổi. Tôi nghĩ, tại sao mình lại chạy!”. Chị quay lại, sau khi thay quần áo giáo viên bằng bộ đồ chàm vì được những người chạy sau cho biết, rất nhiều người dân ăn mặc như cán bộ đã bị quân Trung Quốc giết chết. Từ trên đồi, chị Hoa thấy quân Trung Quốc gọi nhau ý ới và tiến vào từng đoàn.
“Cuộc Chiến 16 Ngày”
Ngày 15-2-1979, Đại tá Hà Tám, năm ấy là trung đoàn trưởng trung đoàn 12, thuộc lực lượng Biên phòng, trấn ở Lạng Sơn, được triệu tập. Cấp trên của ông nhận định: “Ngày 22 tháng 2, địch sẽ đánh ở cấp sư đoàn”. Ngay trong ngày 15, ông ra lệnh cấm trại, “Cấp chiến thuật phải sẵn sàng từ bây giờ”, ông nói với cấp dưới. Tuy nhiên, ông vẫn chưa nghĩ là địch sẽ tấn công ngay. Đêm 16-2, chấp hành ý kiến của Tỉnh, ông sang trại an dưỡng bên cạnh nằm dưỡng sức một đêm bởi vì ông bị mất ngủ vì căng thẳng sau nhiều tháng trời chuẩn bị. Đêm ấy, Trung Quốc đánh.
Ở Cao Bằng, sáng 16 tháng 2, tất cả các đồn trưởng Biên phòng đều được triệu tập về thị xã Cao Bằng nhận lệnh, sáng hôm sau họ tìm về đơn vị triển khai chiến đấu khi Trung Quốc đã tấn công rồi. Sáng 17-2, Tỉnh Cao Bằng ra lệnh “sơ tán triệt để khỏi thị xã”; đại đội 22 của thị xã Cao Bằng được trang bị thêm 17 khẩu súng chống tăng B41. Ngày 18-2, một chiếc tăng Trung Quốc có “Việt gian” dẫn đường lọt tới Cao Bằng và bị tiêu diệt. Nhiều nơi, chỉ khi nhìn thấy chữ “Bát Nhất”, người dân mới nhận ra đấy là tăng Trung Quốc. Đại tá Hà Tám công nhận: “Về chiến lược ta đánh giá đúng nhưng về chiến thuật có bất ngờ”. Tuy nhiên, Đại tá Hoàng Cao Ngôn, Tỉnh đội trưởng Cao Bằng thời kỳ 17-2, nói rằng, cho dù không có bất ngờ thì tương quan lực lượng là một vấn đề rất lớn. Phần lớn quân chủ lực của Việt Nam đang ở chiến trường Campuchia. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng cầm chân Trung Quốc ở tuyến một, hướng Cao Bằng, chủ yếu là địa phương quân, chỉ có khoảng hơn 2 trung đoàn.
Trong khi, theo tài liệu từ Trung Quốc, chỉ riêng ở Cao Bằng trong ngày 17-2, Trung Quốc sử dụng tới 6 sư đoàn; ở Lạng Sơn 3 sư và Lào Cai 3 sư. Hôm sau, 18-2, Trung Quốc tăng cường cho hướng Cao Bằng 1 sư đoàn và 40 tăng; Lạng Sơn, một sư và 40 tăng; Lào Cai, 2 trung đoàn và 40 tăng. Lực lượng Trung Quốc áp sát Biên giới vào ngày 17-2 lên tới 9 quân đoàn chủ lực. Ngày 17-2, Trung quốc tiến vào Bát xát, Lao Cai; chiều 23-2, Trung Quốc chiếm Đồng Đăng; 24-2, Trung Quốc chiếm thị xã Cao Bằng; ngày 27-2, ở Lạng Sơn, Trung Quốc đánh vào thị xã.
Thế nhưng, bằng một lực lượng nhỏ hơn rất nhiều, các đơn vị Biên giới đã nhanh chóng tổ chức chiến đấu. Theo cuốn “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt”, xuất bản lần đầu năm 1993 của NXB Đại học Tứ Xuyên, quân Trung Quốc đã gọi con đường tiến vào thị xã Cao Bằng của họ là những “khe núi đẫm máu”. Đặc biệt, tiểu đoàn Đặc công 45, được điều lên sau ngày 17-2, chỉ cần đánh trận đầu ở kilomet số 3, đường từ Cao Bằng đi về xuôi qua đèo Tài Hồ Sìn, cũng đã khiến cho quân Trung Quốc khiếp vía. Những người dân Biên giới cho đến hôm nay vẫn nhớ mãi hình ảnh “biển người” quân Trung Quốc bị những cánh quân của ta cơ động liên tục, đánh cho tan tác. Đầu tháng 3-1979, trong khi hai sư đoàn 346, Cao Bằng và 338, Lạng Sơn, thọc sâu đánh những đòn vu hồi. Từ Campuchia, sau khi đuổi Pol Pốt khỏi Phnompênh, hai quân đoàn tinh nhuệ của Việt Nam được điều ra phía Bắc. Ngay sau khi Quân đoàn II đặt những bước chân đầu tiên lên Đồng Mỏ, Lạng Sơn; Quân Đoàn III tới Na Rì; Chủ tịch Nước ra lệnh “Tổng Động viên”… ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước.
Lào Cai, Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn… bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.
Lặng Lẽ Hoa Đào
Ngồi đợi ông Nguyễn Thanh Loan, người trông giữ nghĩa trang Vị Xuyên, Hà Giang, chúng tôi nhìn ra xa. Tháng Hai ở đây mới là mùa hoa đào nở. Nghĩa trang có 1680 ngôi mộ. Trong đó, 1600 mộ là của các liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến tranh từ ngày 17-2. Ở Vị Xuyên, tiếng súng chỉ thật sự yên vào đầu năm 1990. Năm 1984, khi Trung Quốc nổ súng trở lại hòng đánh chiếm hơn 20 cao điểm ở Thanh Thủy, Vị Xuyên, bộ đội đã phải đổ máu ở đây để giành giật lấy từng tấc đất. Rất nhiều chiến sỹ đã hy sinh, đặc biệt là hy sinh khi tái chiếm đỉnh cao 1509. Ông Loan nhớ lại, cứ nửa đêm về sáng, xe GAT 69 lại chở về, từng túi tử sỹ xếp chồng lên nhau. Trong số 1600 liệt sỹ ấy, chủ yếu chết trong giai đoạn 1984, 1985, có người chết 1988, còn có 200 ngôi mộ chưa xác định được là của ai. Sau khi hoàn thành việc phân giới cắm mốc, cái pháo đài trên đỉnh 1509 mà Trung Quốc dành được và xây dựng trong những năm 80, vẫn còn. Họ nói là để làm du lịch. Từ 1509, có thể nhìn thấu xuống thị xã Hà Giang. Năm 1984, từ 1509 pháo Trung Quốc đã bắn vào thị xã.
Trên đường lên Mèo Vạc, sương đặc quánh ngoài cửa xe. Từng tốp, từng tốp trai gái H’mông thong thả cất bước du xuân. Có những chàng trai đã tìm được cho mình cô gái để cầm tay. Một biên giới hữu nghị và hòa bình là vô cùng quý giá. Năm 1986, vẫn có nhiều người chết vì đạn pháo Trung Quốc nơi đoạn đường mà chúng tôi vừa đi, nơi các cô gái, hôm nay, để cho các chàng trai cầm tay kéo đi với gương mặt tràn trề hạnh phúc.
Quá khứ, rất cần khép lại để cho những hình ảnh như vậy đâm chồi. Nhưng cũng phải trân trọng những năm tháng đã thuộc về quá khứ. Tháng Hai, đứng ở bên này cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn, nhìn sang bên kia, thấy lừng lững một tượng đài đỏ rực mà theo các sỹ quan Biên phòng, Trung Quốc gọi là “ đài chiến thắng”. Trở lại Lạng Sơn, những chiếc xe tăng Trung Quốc bị quân và dân ta bắn cháy hôm 17-2 vốn vẫn nằm bên bờ sông Kỳ Cùng, giờ đã được bán sắt vụn cho các khu gang thép. Ở Cao Bằng, chúng tôi đã cố nhờ mấy người dân địa phương chở ra kilomet số 3, theo hướng đèo Tài Hồ Sìn, tìm tấm bia ghi lại trận đánh diệt 18 xe Trung Quốc của tiểu đoàn đặc công 45, nhưng không thấy. Trở lại Tổng Chúp, phải nhờ đến ông Lương Đức Tấn, Bí thư Chi bộ, nguyên huyện đội phó Hòa An, đưa ra cái giếng mà hôm 9-3-1979, quân Trung Quốc giết 43 thường dân Việt Nam. Ông Tấn cũng chính là một trong những người đầu tiên trở về làng, trực tiếp đỡ từng xác phụ nữ, trẻ em, bị chặt bằng búa, bằng dao rồi quăng xuống giếng. Cái giếng ấy bây giờ nằm sâu trong vườn riêng của một gia đình, không có đường đi vào. Hôm ấy, anh Tấn phải kêu mấy thanh niên đi theo chặt bớt cành tre cho chúng tôi chụp hình bia ghi lại sự kiện mà giờ đây đã chìm trong gai tre và lau lách.
——————–
Dạo này nhiều bạn vào blog mình qua bài Bạch Đằng Giang Phú của Trương Hán Siêu, thấy vui vì sử Việt Nam đang được chép, được học theo cách dễ hiểu dễ nhớ hơn
ngòi bút lúc nào cũng là vũ khí sắc bén, càng ý nghĩa hơn nếu ngòi bút chép lại truyện nước nhà.
… Cứ mỗi lần đọc lịch sử Máu và Hoa của Tổ Quốc lại bồi hồi nhớ bài hát Bài ca không quên của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn:
… vài dòng ghi chép.
chuyện gì đã qua thì cho nó qua đi, để lâu trong tâm trí làm gì hả bạn. chẳng có vết thương lòng nào là không thể lành trừ khi người bị vết thương đó không muốn mà thôi. Ở đâu cũng có người tốt và người xấu. ngay cả người trong nước còn rắp tâm hại chết nhau, huống chi là vấn đề về lãnh thổ. Việt Nam mình cũng đã từng chiếm đánh Champa đó thôi. Lẽ ra người chăm phải ghét người kinh lắm chứ, nhưng đó là chuyện của thế hệ trước. Mình thật buồn là ai đó nhắc quá nhiều đến tinh thần dân tộc một cách mù quáng, và cứ làm như mình là người yêu nước, yêu người Việt Nam lắm nhưng thực chất thì sao? Sao bạn không đối xử tốt với người xung quanh bạn, yêu quý họ thay vì đi nhắc lại những điều đã thuộc về quá khứ chẳng giúp ích gì cho hiện tại và tương lai cả. Biểu tình chống Trung Quốc ư? Bạn làm thế vì ai và đem lại được điều gì cho đất nước? tôi nói là không, không gì cả và hơn cả thế các bạn đã làm hại đất nước. Uh cứ cho là 1000 năm Bắc thuộc người Việt vẫn nguyên vẹn là người Việt không một chút lai tạp Trung Hoa đi thì sao? Họ là một nước lớn, phải hợp tác với họ mới mong đất nước phát triển được. Lại có người Việt mình ở Mỹ biểu tình Trung Quốc mới nực cười chứ? Họ đang sống trên một đất nước mà gây nhiều đau thương cho Việt Nam như thế, họ còn nhập quốc tịch Mỹ thì làm gì có tư cách để mà nói 2 từ “yêu nước”. Họ đang đi tìm một cái được gọi là tự do và giàu sang? Đúng, nước Mỹ là một nước tuyệt vời ở nhiều mặt, mình đủ giỏi tiếng Anh Mỹ để có thể hiểu được khoa học công nghệ của Mỹ như thế nào! Nhưng cho mình hỏi 80 triệu người ở Việt Nam nếu như sống học tập và lao động bình thường thì có ai bảo là mất tự do không? cái gì ngăn cản những con người mà “đòi ” quyền tự do đó? chẳng ai cả ngoài … chính họ! và họ đổ lỗi tại sao họ vẫn nghèo cho chính phủ, cho chế độ??? không! tôi muốn nói là không. Sự nghèo nàn cũng là do chính họ, chính sự dốt nát về kiến thức kinh tế của họ chứ không do cái gì khác cả. sự nghèo nàn của nước mình có lỗi rất lớn của chiến tranh và một phần lớn của “thời kinh tế hậu chiến tranh – kinh tế bao cấp” tạo nên điểm xuất phát thấp cho kinh tế Việt Nam. Thế nhưng nhiều người trẻ bây giờ lại đổ lỗi cho những thứ khác??? Họ hận chế độ XHCN hận đảng cộng sản vì đã tạo nên tham nhũng, tạo nên sự mất công bằng trên thị trường kinh doanh, hận những kẻ được xem là “con ông cháu cha”!!! Nhưng tôi nói họ đã lầm và họ chẳng hiểu gì cả! Họ còn không biết thông cảm cho những người đang lãnh đạo. Đúng, những thực tế thì hoàn toàn đúng nhưng sao các bạn không nhìn nhận sâu sắc hơn! Lòng tham là bản chất của tất cả mọi người và khi có điều kiện để tham nhũng thì người ta sẽ thực hiện, dễ hiểu thôi. Thái lan vẫn còn đó, TBCN đó, thủ tướng Thaksin tham nhũng trên dưới 1 tỷ USD!!! chắc đến đây bạn hiểu ý tôi! Việt Nam mình lại còn nghèo, lương như thế thì tham nhũng làm sao mà tránh được. chỉ có điều Việt nam còn quá nương tay, nếu như trung quốc tìm được là xử bắn ngay như thị trưởng Thượng Hải, Bắc Kinh.. còn Việt Nam thì ko. Đó là điều mình chưa hiểu, đàng sau đó mình không dám chắc là có nguyên nhân gì sâu xa hay chỉ đơn thuần là luật Việt Nam không quá tàn nhẫn…các bạn viết tiếp hộ mình nhé. Cảm ơn nhiều…. kí tên : Daniel
bạn nói đúng đấy, mình ủng hộ
Một nước lớn có thể chà đạp nước nhỏ à. cha ông ta đã dổ xương máu đó mấy bác. Mấy bác còn là dân việt ko? nếu phải thi đi nhập ngủ mà chiếm lại trường sa với hoàng sa di, thật đúng là buon …
anh ấy nói đúng đó. phải bik ghi nhớ qk va hiện tại
có nhiều việc để làm bây giờ hơn là ngồi nhớ quá khứ mà.
. Nhưng mà tóm lại chuyện chính trị phức tạp lém, mình chả lo nổi đâu. Cứ để kê mấy ông trung ương làm.